Luyện dịch song ngữ: NGƯỜI DO THÁI – CHƯƠNG 5: QUAN NIỆM VỀ CÁI THIỆN – CÁI ÁC VÀ TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI DO THÁI– P2

  • 감사하는 마음 – TẤM LÒNG BIẾT ƠN

유태인의 성경인 구약의 창세기에는 인류 최초의 인가인 아담이 나옵니다.

Theo Sáng Thế Ký (Kinh Cựu Ước) – là bộ kinh thánh của người Do Thái, từ thuở sơ khai của nhân loại, xuất hiện tiền thân của con người là Adam.

당시의 아담은 한 개의 빵을 만들어 먹기위하여 얼마나 많은 일을 했을까요?

Adam lúc ấy đã phải làm rất nhiều việc qua nhiều công đoạn để có thể làm ra được một ổ bánh mỳ.

먼저 밭을 갈고 씨앗을 뿌리고 잡초를 뽑고, 그 다음에는 곡식을 거둬들이고 방아를 찧어서 가루로 만들고, 그 가루를 다시 반죽하고 굽는 등 모두 15 단계의 일을 해야 됐습니다.

Đầu tiền, anh ấy phải cày ruộng, sau đó gieo hạt rồi nhổ cỏ dại, rồi tiếp sau đó đợi cây lớn, chín rồi lại phải thu hoạch. Thu hoạch xong thì giã nhỏ để làm thành bột, có bột rồi lại phải nhào bột rồi sau đó nướng lên mới ra lò được ổ bánh mì thơm ngon. Tất cả phải trải qua tổng cộng 15 công đoạn mới tạo ra được một ổ bánh.

그러나 지금은 돈만 있으면 빵집에 가서 미리 만들어 놓은 빵을 얼마든지 살 수가 있습니다.

Thế nhưng, ngày nay, chỉ cần có tiền rồi đi ra cửa hàng bánh là chúng ta đã có thể mua được bao nhiêu là ổ bánh thơm ngon đã được làm sẵn trước đó.

옛날에는 15 단계의 일을 혼자서 해야 되었지만 지금은 여러 사람들이 나누어 하고 있기 때문에 빵을 먹을 때는 많은 사람들에게 감사하는 마음을 잊어서는 안 됩니다.

 Nếu như ngày xưa chỉ có một mình Adam vất vả trải qua 15 công đoạn để làm ra một ổ bánh thì ngày nay có nhiều người chia nhau mỗi người đảm nhận một công đoạn nên có thể nhanh chóng làm ra nhiều ổ bánh như vậy. Do đó, khi ăn bánh thì đừng quên rằng phía sau ổ bánh đó là công lao của rất nhiều người và chúng ta phải mang lòng biết ơn khi được ăn ổ bánh thơm ngon như vậy.

우리들이 입는 옷도 마찬가지입니다.

Những chiếc áo mà chúng ta đang mặc cũng tương tự như vậy.

인류 최초의 인간은 자기 몸에 걸칠 옷 한 벌을 만들기 위해 엄청나게 많은 일을 했습니다.

Con người thuở sơ khai, để làm ra được chiếc áo khoác lên người, phải làm vô số công việc qua nhiều công đoạn mới may được một cái áo.

양을 사로잡고 그것을 키워서 털을 깍고, 그것으로 실을 만들어 옷감을 짜고, 그 옷감을 재단하여 옷을 만들어 입기까지에는 많은 어려움이 있었습니다.

Nuôi cừu, lấy long, rồi từ lông cừu làm thành sợi, sau đó từ sợi ấy mới dệt thành vải, có vải rồi lại phải cắt ra rồi mới may được thành áo. Từ lúc nuôi cừu cho đến khi có được chiếc áo mặc lên người phải trải qua nhiều khó khăn vất vả.

그러나 지금은 돈만 있으면 어떤 옷이든 마음에 드는 옷을 골라서 사 입을 수 있습니다.

Tuy nhiên, ngày nay, chỉ cần có tiền thì có thể lựa chọn bất cứ loại áo nào mình thích.

옛날에 혼자서 다 해야 했던 일을 지금은 여러 사람들이 나누어서 하고 있는 만큼 옷을 입을 때는 여러 사람들에게 감사하는 마음을 가져야 합니다.

Ngày nay có nhiều người cùng nhau san sẽ những công việc mà ngày xưa chỉ có một người phải làm hết tất cả một mình. Vì thế, khi mặc lên người những chiếc áo, chúng ta nên cảm thấy biết ơn.

  • 병문안 – THĂM BỆNH

병원에 입원하고 있는 환자를 찾아가서 문병을 하면 환자의 병세는 60 분의 1 가량 낫는다고 합니다.

Người ta nói rằng, nếu chúng ta đi thăm bệnh ai đó thì bệnh tình của bệnh nhân sẽ khá hơn khoảng chừng 1/60.

그렇다고 60 명이 한꺼번에 문병을 간다고 해서 환자의 병이 완전히 낫게 되지는 않습니다.

Nhưng nói như vậy không phải là nếu 60 người cùng đi thăm bệnh thì bệnh của người ấy sẽ khỏi hẳn hoàn toàn.

병문안을 가는 것보다 더욱 훌륭한 일은 죽은 사람의 무덤을 찾아가는 일입니다.

So với việc đi thăm bệnh thì việc có ý nghĩa hơn là đi thăm mộ người đã chết.

문병을 가게 되면 환자가 나은 후에 감사하다는 인사를 받을 수가 있습니다. 그러나 죽은 사람에게는 아무 인사도 받을 수가 없기 때문입니다.

Bời vì nếu như đi thăm bệnh người còn sống thì sau khi người ấy khỏi bệnh, ta sẽ nhận lại lời cảm ơn và sự cảm tạ từ những bệnh nhân ấy, nhưng đối với người chết thì sẽ không nhận lại bất cứ lời cảm ơn nào cả.

이 세상에서 가장 이름다운 일은 상대방의 대가를 바라지 않고 베풀어 주는 일입니다.

Trên thế gian này, điều đẹp nhất và ý nghĩa nhất chính là việc giúp đỡ người khác mà không mong người ta sẽ đền đáp lại mình.

  • 약한 자와 강한 자 – NGƯỜI MẠNH VÀ NGƯỜI YẾU

동물의 세계는 힘이 강한 자만이 이긴다고 합니다.

Trong thế giới loài vật, con nào mạnh hơn thì chiến thắng.

그러나 이 세상에는 약자이면서도 강자를 위혐하는 것들이 있습니다.

Thế nhưng, trên thế gian này, ngay cả những người yếu cũng có thể gây nguy hiểm cho người mạnh.

모기는 사자를 위혐하고, 거머리는 코끼리를 위혐하고 파리는 전갈을 위혐하고, 거미는 매를 위혐합니다.

Muỗi có thể gây nguy hiểm cho sư tử, con đĩa có thể gây nguy hiểm cho con voi, con ruồi cũng có thể gây nguy hiểm cho bọ cạp và kiến cũng có thể gây nguy hiểm cho loài chim ưng to lớn.

그래서 제 아무리 몸집이 크고 힘센 자라 할지라도 두렵기 만 한 것은 아닙니다.

Chính vì vậy, cho dù là thân hình có to lớn như thế nào hay có mạnh đến như thế nào thì cũng không phải là quá đáng sợ.

 스스로 약하다고 생각하는 사람이라도 자기의 장점만 잘 개발하면 아무리 강한 자라 해도 굴복기킬 수가 있습니다.

Cho dù là người yếu nhưng nếu phát huy được những điểm mạnh của bản thân mình thì cho dù kẻ đó có mạnh thế nào đi chăng nữa thì cũng có thể khuất phục được.

  • 작별 인사 – LỜI TỪ BIỆT

오랫동안 여행을 계속하는 사나이가 있었습니다. 산을 넘고 강을 건너 마침내 사막을 지나게 되었습니다.

Chuyện kể rằng có một người đàn ông nọ đã đi lữ hành rất lâu, vượt qua bao nhiêu con sông và trèo qua biết bao nhiêu ngọn núi rồi cuối cùng phải băng qua một vùng sa mạc nọ.

뜨겁게 내리쬐는 햇볕, 모래 속에 푹푹 빠지는 발, 가도가도 물 한 모금 마실 수 없는 외로운 사막길, 사나이는 몹시 배가 고프고, 목이 말라서 지칠 대로 지쳤습니다.

Ánh nắng gắt nóng rát chiếu rọi xuống, bàn chân lún sâu vào cát, cứ thế người đàn ông đơn độc trên con đường sa mạc mênh mông không có lấy một ngụm nước. Cơn đói bắt đầu hành hạ, cổ họng khát khô và cơ thể bắt đầu rã rời mệt mỏi.

그러나 이 대로 주저않을 수는 없었습니다. 그는 쓰러져 가는 몸을 다시 일으켜 세우며 온몸의 힘을 다 짜내어 계속 걸었습니다. 그러다가 마침내 오아시스를 만나게 되었습니다.

 Thế nhưng, người đàn ông gượng dậy, cứ thế té xuống rồi lại cố sức đứng lên tiếp tục đi. Cứ thế mà đi rồi cuối cùng người đàn ông ấy cũng gặp được một ốc đảo.

그는 시원한 물로 목을 축이고 시원한 나무 그늘에 앉아 쉬면서 나무에 열린 과일을 떠서 굶주린 배를 채웠습니다.

Ông ấy nhanh chóng hớp lấy ngụm nước làm mát cho cái cổ họng gần như cháy rát, ngồi xuống dưới bóng mát của một cái cây to nghỉ ngơi và hái trái trên cây để lắp vô cái bụng đang sôi lên vì đói.

그러나 그의 여행은 아직도 끝난 것이 아니었습니다. 아직도 가야 할 길은 많이 남아 있었습니다.

Thế nhưng, chuyến lữ hành của người đàn ông ấy vẫn chưa kết thúc, đoạn đường phải đi còn rất dài.

한참 동안 땀을 식히며 쉰 사나이는 다시 일어났습니다.

Ngồi nghỉ hồi hồi lâu, khi những giọt mồ hôi trên áo cũng khô dần, người đàn ông ngồi dậy để chuẩn bị tiếp tục hành trình của mình.

그리고 그곳에 있는 나무에게 작별 인사를 했습니다.

Trước khi đi, người đàn ông đã nói những lời từ biệt với cái cây nơi mình đã nghỉ.

“나무야, 정말 고맙구나. 나는 네가 베풀어 준 고마움에 대해 어떤 인사를 해야될지 모르겠구나.

-Cây à, thật sự rất cảm ơn ngươi. Thật sự ta cũng không biết phải nói như thế nào để có thể nói hết được lòng biết ơn của ta đối với ngươi.

너의 과일이 맛있게 잘 영글기를 빌어 주려고 해도 너의 열매는 벌써 충분히 맛이 들었다.

Dù ta có muốn chúc ngươi ra thật nhiều quả chin ngọt thì quả của ngươi vốn cũng đã vô cùng ngon ngọt.

 무성한 잎으로 시원한 그늘을 갖도록 빌어 주고 싶어도 너의 잎과 그늘은 하늘을 덮을 만큼 가득히 자랐다.

Dù cho ta có muốn chúc ngươi ra thật nhiều bóng mát xanh um thì lá và bóng mát của người vốn đã um tùm như phủ đầy trời xanh.

 너의 성장을 위해 충분한 물이 있기를 빌어 주려고 해도 네 곁에는 충분한 물이 있구나.

Và dù cho ta có muốn chúc ngươi có đủ nước để phát triển thì xung quanh ngươi cũng đã có đủ lượng nước ngươi cần rồi còn gì.

그러고 보니 내가 너를 위하여 빌어 줄 수 있는 것은 다만, 네가 더욱 풍성한 열매를 맺고, 그 열매가 너와 같은 더 많은 나무들이 되어서 이곳을 지나는 모든 사람들에게 감사의 인사를 받는 훌륭한 나무가 되도록 빌 수밖에 없구나.”

Xem ra, điều mà ta có thể cầu chúc cho ngươi chắc chỉ là ra được nhiều quả hơn, và những quả ấy sẽ lại tiếp tục mọc ra những cây con, và những cây con ấy sẽ lại phát triển mạnh mẽ giống như ngươi để có thể tiếp tục giúp những người qua đường như ta và sẽ nhận được thật nhiều lời cảm tạ như bây giờ.

사나이는 나무를 향해 손을 흔들며 다시 긴 여행길에 올랐습니다.

Người đàn ông nọ hướng về phía cái cây, khẽ vẫy tay và lại tiếp tục lên đường.

사람은 누군가와 작별을 할 때 좋은 일이 생기기를 빌어 주게 됩니다.

Con người ta khi nói lời từ biệt với người nào đó, thường sẽ mong muốn những điều tốt đẹp.

그런데 그 사람이 더 현명해지기를 빌어 주려 해도 그가 이미 누구보다 현명하고, 부자가 되기를 빌어 주려 해도 이미 큰 부자가 되어 있고, 모든 사람들로부터 환영 받는 선량한 사람이 되기를 빌어 주려 해도 이미 누구보다 선량한 사람이 되어 있고, 건강하기를 빌어 주려 해도 누구보다 건강한 상태에 있다면, 여러분은 무엇이라고 작별 인사를 하겠습니까?

Thế nhưng, dù cho chúc người ta thông minh hơn thì nếu người ấy đã vốn thông minh hơn người thì sao?Nếu chúc người ta trở nên giàu có mà người ta vốn đã rất giàu có rồi thì sao? Và dù cho có muốn chúc người ta trở thành người hiền lương được mọi người yêu mến mà người ấy đã vốn dĩ rất lương thiện hơn ai hết rồi thì sao? Hay chúc người ấy khỏe mạnh mà trạng thái bây giờ của người ấy vốn đang rất khỏe mạnh thì sao? Chẳng phải những lời chúc ấy sẽ không thật sự ý nghĩa hay sao? Nếu là các bạn, các bạn sẽ chúc từ biệt như thế nào?

그럴 때는,“당신의 아이들도 부디 당신처럼 훌륭한 사람이 되기를 빕니다.” 라고 하는 것이 가장 현명한 작별 인사가 될 것입니다.

Những lúc ấy, chẳng phải lời từ biệt thông minh nhất chính là: “Chúc cho con cái của bạn cũng trở thành những người giỏi giang, ưu tú như bạn” hay sao?

  • 분실물 – MÓN ĐỒ BỊ THẤT LẠC

어느 랍비가 로마를 방문했을 때 거리에 이런 포고문이 붙어 있었습니다.

Một giáo sĩ Do Thái nọ trên đường đi thăm đất nước Roma thì trông thấy một bảng cáo thị được dán trên đường.

왕비께서 아주 값비싼 장식물을 분실했음. 1개월 내에 분실물을 발견하여 신고하는 사람에게는 큰 상을 내릴 것임.

 Chuyện là nữ hoàng Roma lúc ấy làm thất lạc một món trang sức vô cùng quý giá nên đã ra cáo thị nói rằng bất cứ ai nếu tìm thấy món đồ ấy trong vòng một tháng thì sẽ ban thưởng hậu hĩnh.

그러나 만일 1개월 후에 그 물건을 가진 사람이 발견 되었을 때는 사형에 처하겠음.

Nhưng ngược lại, nếu sau một tháng mà phát hiện ra ai đã giữ món đồ đó thì sẽ bị tội tử hình.

그런데 이 랍비가 우연히 그 장식물을 발견하게 되었습니다.

Và chuyện đáng nói chính là vị giáo sĩ Do Thái đó đã vô tình nhặt được món đồ ấy.

랍비는 30일이 지나 31일째 되는 날 그 장식물을 가지고 왕궁으로 가서 왕비 앞에 내놓았습니다.

Và vị giáo sĩ ấy không đem món đồ ấy đi giao nộp cho nữ hoàng mà đợi qua 30 ngày, đến ngày thứ 31 mới đem món đồ ấy đến hoàng cung và đặt trước mặt nữ hoàng.

 그러자 왕비가 물었습니다.

“당신은 1개월 전 포고령이 내렸을 때 이곳에 있었나요?”

Ngay khi thấy món trang sức của mình, nữ hoàng liền hỏi:

            -Khi ta ban cáo thị một tháng trước nhà ngươi đã có mặt ở nơi đây?

“예, 그렇습니다.”

-Vâng ạ, thần đã thấy cáo thị một tháng trước.

“1개월이 지난 뒤에 이 물건을 가져오면 어떤 처벌을 받게 되는지도 알고 있었나요?”

-Thế chẳng lẽ ngươi không biết rằng nếu giữ món đồ của ta quá một tháng sẽ mang tội gì à?

“예, 알고 있습니다”

-Thưa, thần biết rất rõ!

“그런데 왜 1 개월이 지나도록 이것을 가지고 있었나요? 만약 좀던 일찍 이것을 가져왔다면 당신은 큰 살을 받을 수 있었을 텐데, 당신은 생명이 아깝지도 않나요?”

-Thế tại sao ngươi không mang đến sớm hơn mà đợi một tháng trôi qua. Nếu ngươi mang đến sớm thì chẳng phải đã được ban thưởng hậu hĩnh hay sao? Chả lẽ nhà ngươi không còn thiết sống nữa?

그러자 랍비는,

“왕비님, 만약 제가 30일 전에 이것을 돌려드렸다면, 사람들은 누구나 다 제가 당신을 두려워했거나, 당신에게 존경을 표하여 왔다고 생각할 것입니다. 그래서 나는 내가 당신을 두려워하지 않는다는 것을 보여 주기 위해 기일이 지나기를 기다렸다가 이것을 가져온 것입니다.” 라고 말했습니다.

Ngay lập tức, vị giáo sĩ Do Thái liền trả lời:

     -Thưa nữ hoàng, nếu như thần đem món đồ đến trả cho ngài trước 30 ngày thì mọi người bất cứ ai cũng sẽ nghĩ rằng thần sợ ngài hoặc thần muốn tỏ vẻ tôn kính ngài. Vì thế, thần đã đợi kỳ hạn trôi qua rồi mới đến với mục đích là cho mọi người thấy thần không hề sợ ngài.

그 말을 들은 왕비는

“그렇다면 당신이 지정 두려워하는 분은 누구입니까?” 라고 물었습니다.

 Sau khi vị giáo sĩ dứt lời, vị nữ hoàng liền lên tiếng hỏi:

            -Nếu vậy thì người mà ngươi sợ là ai?

“제가 두려워하는 분은 오직 하나님뿐입니다. 저는 그것을 모든 사람들에게 보여 주고 싶었을 뿐입니다.”

    -Người mà thần kính sợ chỉ có duy nhất Chúa trời thôi ạ. Và thần chỉ muốn cho mọi người thấy rõ điều đó.

그 말을 들은 왕비는 웃깃을 여미면서,

“그처럼 위대하신 하나님을 가진 당신에게 정말 깊은 경의를 표합니다.” 라고 말했습니다.

Vị nữ hoàng sau khi nghe hết những lời đó, đứng dậy, chỉnh lại trang phục và nói:

        -Thật khá khen! Ta muốn tỏ lòng kính trọng sâu sắc đến ngươi – người có niềm tin vĩ đại như vậy!

유태인들은 하나님이라는 유일한 신을 믿습니다. 그것이 바로 유태교이고, 유태교만을 믿기 때문에 그들은 언제까지나 유태인으로 남아 있을 수 있었던 것입니다.

Đối với người Do Thái, họ chỉ tin vào một vị thần duy nhất, đó chính là Chúa trời. Chúa trời chính là đạo của người Do Thái và hễ khi nào người Do Thái còn tin vào đạo Do Thái ấy thì bất cứ lúc nào họ cũng sẽ giữ mãi là một người Do Thái chân chính.

______________

Mời các bạn tham khảo ngay Khóa học cho người mới bắt đầu:

________________
Mọi chi tiết vui lòng liên hệ TƯ VẤN
FACEBOOK: https://www.facebook.com/kanataviethan/
Cơ sở: 
  • Trụ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3. 028.3932 0868/ 3932 0869, 0931 145 823
  • Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, P.14, Quận Tân Bình , 028.3949 1403 / 0931145 823
  • Cơ sở 2: Số 18 Nội khu Mỹ Toàn 2, khu phố Mỹ Toàn 2, H4-1, Phường Tân Phong, Quận 7, 028.6685 5980
  • Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, P8, Gò Vấp (Ngay cổng sau Trường THPT Nguyễn Công Trứ, hẻm đối diện công ty Mercedes) 028.3895 9102
  • Cơ sở 4: 144 Đinh Tiên Hoàng, P.1, Quận Bình Thạnh, 028.6270 3497
  • Cơ sở 5: 193 Vĩnh Viễn, Phường 4, Quận 10, 028.6678 1913

 

0 0 bình chọn
Xếp hạng bài viết
guest
Nhập họ tên (bắt buộc)
Email của bạn (bắt buộc)

0 Bình luận
Phản hồi trong dòng
Xem tất cả bình luận
0
Click vào đây để bình luận hoặc gửi yêu cầu bạn nhé!x
error: Rất tiếc, chức năng này không hoạt động.