Luyện dịch song ngữ: NGƯỜI DO THÁI – CHƯƠNG 5: QUAN NIỆM VỀ CÁI THIỆN – CÁI ÁC VÀ TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI DO THÁI– P1

  • 선과 악 -THIỆN VÀ ÁC

사람의 마음 속에는 착한 마음과 악한 마음이 함께 있습니다. 

Trong sâu thẳm nội tâm của mỗi con người, luôn luôn tồn tại song song cả thiện tâm lẫn ác tâm.

이 세상도 마찬가지여서 착한 사람이 있고 악한 사람이 있습니다.

Thế gian này cũng như thế, lúc nào cũng sẽ tồn tại song song cả người hiền lương lẫn người độc địa.

 지금 이 순간에도 어디에선가는 착한 일이 이루어 지고 있는가 하면 어디선가는 악한 일이 이루어지고 있습니다.

Hiện tại, cũng chính ngay trong khoảnh khắc này, khi bạn đang đọc những dòng chữ này thì ở một nơi nào đó, những việc thiện đang được hình thành nhưng bên cạnh đó, ở một nơi nào đó khác, những việc ác cũng đang được tạo ra.

 착한 것이 좋은 일이고 악한 것이 나쁜 일이라는 건 누구나 알고 있습니다. 그렇다면 왜 착한 것만 이루어지지 않고 나쁜 일이 함께 이루어지는 것일까요?

Bất cứ ai trong chúng ta cũng đều biết rất rõ rằng cái thiện là điều tốt và cái ác là điều xấu, nhưng nếu như vậy thì chẳng phải con người ta chỉ nên tạo ra những điều thiện hay sao?

 탈무드에 보면 착함과 악함, 즉 선과 악이 어떻게 해서 함께 이루어지는가 하는 다음과 같은 이야기가 기록되어 있습니다.

Nhưng sự thật rằng những điều ác vẫn đồng thời được tạo ra và luôn hiện hữu song song cùng với những điều thiện.Vậy đâu sẽ là cách lý giải thích hợp nhất về điều này? Chúng ta hãy cùng nhau thử tìm hiểu cách lý giải theo Kinh Talmud của người Do Thái.Theo đó, người Do Thái đã lý giải cho sự tồn tại song song cùng lúc của việc tốt – việc xấu, hay nói cách khác là giữa thiện và ác qua một câu chuyện như sau:        

 지구를 휩쓴 대홍수 때 온갖 동물들이 노아의 방주로 몰려왔습니다.

Vào khoảng thời gian khi Trái Đất sắp sửa phải chịu sự càn quét của cơn đại hồng thủy, tất cả muôn loài, muôn vật trên Trái Đất đã cùng nhau tụ hội và lũ lượt lên con thuyền lớn của Noah.

이 때 선도 방주를 태워 주지 않았읍니다. ” 혼자서는 안 돼. 나는 짝이 있는 것 외에는 태워 줄 수 없어”.

 Lúc này, Cái Thiện đã không được cho lên thuyền bởi vì Noah đã nói rằng:

– Nếu như chỉ có đơn lẻ một mình thì sẽ không được lên thuyền. Ta chỉ cho những loài có đôi có cặp lên thuyền mà thôi.

선은 할 수 없이 되돌아가시 자기의 짝이 될 만한 것을 찾아다녔읍니다.

Thế là không còn cách nào khác, Cái Thiện đành phải quay trở về và lên đường tìm kiếm người bạn có thể kết đôi với mình để cùng nhau được lên thuyền.

그러다가 마침내 악을 만나 노아의 방주를 탈 수 있었읍니다.

Cứ thế tìm mãi, cuối cùng, Cái Thiện đã gặp được Cái Ác và đã có thể cùng nhau lên được chiếc thuyền lớn của Noah và vượt qua cơn Đại hồng thủy.

이 때부터 선이 있는 곳에는 반드시 악이 함께 있게 되었다고 합니다.

Từ ấy trở đi, người ta nói rằng, hễ bất cứ nơi nào có Thiện thì chắc chắn nhất định sẽ có Ác đi cùng.

 유태인의 이런 생각은 얼핏 생각하면 터무니없는 것처럼 여겨지기도 하지만 선과 악에 이처럼 간단히 설명할 수 있는 방법도 없을 것입니다.

Suy luận đó của người Do Thái thoạt nghĩ thì có vẻ chỉ là một câu chuyện vui buồn cười nhưng dường như không còn cách nào khác có thể giải thích một cách đơn giản và dễ hiểu hơn về cái Thiện và cái Ác như thế này.

  • 마술의 사과- QUẢ TÁO MÀU NHIỆM

아득히 먼 옛날, 어느 임금님에게 아주 예쁜 공주가 있었습니다.

Ngày xửa ngày xưa, ở một vùng đất nọ, có một vị vua sanh được một cô công chúa cực kỳ xinh đẹp.

 임금님은 공주를 어떻게나 사랑하는지 나라를 다 준다고 해도 공주와 바꿀 수 없다고 했읍니다.

Nhà vua hết mực yêu thương cô con gái, yêu thương đến độ nhà vua có thể sẵn sàng nhường cả vương quốc chứ nhất định không thể nào đánh đổi cô công chúa của mình.

 그런데 그 공주가 그만 심한 병에 걸렸습니다.

Thế nhưng, bỗng một ngày nọ, nàng công chúa mắc phải một căn bệnh nặng.

 나라안의 의사람 의사는 다 불러서 치료를 하고 좋은 약이란 약은 다 구해서 먹였지만 공주의 병은 낫지 않았습니다.

Nhà vua đã cho gọi tất cả thầy thuốc trong vương quốc đến để chữa trị cho công chúa và cho tìm hết tất cả mọi loại thuốc và thảo dược quý hiếm cho công chúa trị bệnh, vậy mà bệnh tình của công chúa cũng không thuyên giảm đi tí nào cả mà ngày càng trở nên trầm trọng hơn.

누가 보든지 공주는 이제 살아날 가망이 없는 것처럼 보였습니다.

Dường như chẳng còn tia hy vọng nào để có thể cứu sống nàng công chúa đáng thương.

그래서 임금님은 공주의 병을 고치는 사람에게는 공주를 주어 사위를 삼고 왕위까지 물려주겠다는 포고령을 내렸읍니다.

Cuối cùng, nhà vua quyết định ban bố cáo thị rằng bất cứ ai có thể chữa được căn bệnh của công chúa, nhà vua sẽ gã công chúa cho người ấy, phong làm phò mã và nhường lại ngai vàng.

그러나 공주의 병을 고치겠다고 나서는 사람은 없었습니다.

Vậy mà cũng chẳng có người nào chữa được bệnh cho công chúa.

이 때 궁전에서 아주 멀리 떨어진 시골에 세 형제가 살고 있었는데 그들은 각자 세상에서 제일가는 보물 한 가지씩을 가지고 있었습니다.

Lúc này, ở một ngôi làng nọ cách rất xa hoàng cung, có ba người anh em trai sống cùng với nhau.Ba người anh em ấy, mỗi người đều sở hữu một món báo vật vô cùng quý giá.

어느 날 맏형이 이 세상 어디든 볼 수 있는 망원경으로 사방을 살펴보다가 임금남의 포고문을 보게 되었읍니다.

Một ngày nọ, người anh cả đã dùng chiếc kính viễn vọng có thể nhìn thấu bất cứ mọi nơi trên thế gian của mình nhìn ra tứ phía và vô tình trông thấy bản cáo thị của nhà vua.

“얘들아, 임금님이 사랑하는 공주가 몹쓸 병에 걸려 죽게 됐다는구나. 그래서 공주의 병을 고쳐 주면 사위로 삼고, 왕위도 물려준대. 어떠냐, 우리 셋이 힘을 합해 공주의 병을 고쳐 줄까?”

Thế là người anh cả đã nói với các em của mình rằng:

-Các em à, nàng công chúa mà nhà vua hết mực yêu chiều nay đang mắc phải một căn bệnh oái ác và tình trạng hết sức nguy kịch. Vì vậy, nhà vua đã công bố thiên hạ nếu ai có thể chữa được bệnh cho công chúa, sẽ gã công chúa cho và ban cho cả ngai vàng. Các em thấy thế nào, ba anh em chúng ta cùng nhau hợp sức lại để trị bệnh cho công chúa nhé?

맏형은 어떻게든 공주의 병을 고쳐 주고 싶었습니다 .

Người anh cả nói với các em mình với một ý chí quyết tâm mong muốn có thể chữa trị được căn bệnh của công chúa bằng mọi giá.

 둘째는 이 세상 어디든지 순식간에 날아갈 수 있는 마술양탄자를 가지고 있었고 막내인 세째는 마술의 사과를 가지고 있었는데 그 사과는 먹기만 하면 아무리 중한 병이라도 씻은 듯이 낫는 만병통치약이었습니다.

Người anh thứ hai sở hữa một chiếc thảm thần có thể bay đến mọi nơi trên thế gian chỉ trong nháy mắt, còn người em út lại sở hữu một quả táo nhiệm màu. Quả táo ấy, như một loại thuốc tiên, nếu ăn vào có thể rửa sạch mọi căn bệnh dù là bệnh có nặng đi thế nào chăng nữa.

 세 형제는 의논을 한 끝에 공주의 병을 고쳐 주기로 했습니다.

Sau khi cả ba anh em bàn bạc xong xuôi, họ đã quyết định cùng nhau hợp sức trị bệnh cho công chúa.

 그래서 그들은 둘째의 양탄자를 타고 순식간에 왕궁에 도착하서 마술의 사과를 공주에게 먹였습니다.

 Họ trèo lên chiếc thảm thần của người anh hai và trong chốc lát đã đến được hoàng cung. Sau đó, người em út cho công chúa ăn quả táo màu nhiệm của mình.

그러자 공주의 병은 거짓말처럼 나아서 예전의 건강한 모습을 되찾았읍니다.

Ngay lặp tức, bệnh của công chúa khỏi hẳn như chưa từng xảy ra chuyện gì và trở lại dáng vẻ khỏe mạnh trước đây.

사람들은 모두 뛸 듯이 환호성을 올리며 기뻐했읍니다.

Mọi người ai nấy đều hết sức vui mừng, cất tiếng reo hò rôm rả.

 임금님은 큰 잔치를 베풀고 공주의 결혼과 왕위  계승자를 발표하려고 했습니다.

Nhà vua vui mừng cho đãi một buổi yến tiệc linh đình và chuẩn bị công bố người sẽ kết hôn cùng công chúa và kế thừa hoàng vị.

그런데 일이 아주 난처해졌습니다.

Thế nhưng, chính điều đó lại khiến cho người hết sức khó xử.

세 형제가 저마다 자기의 공을 내세우면 공주의 남편이 되려고 한 것입니다.

Cả ba anh em, người nào cũng đưa ra được công lao của mình và ai cũng đều muốn trở thành phò mã, nhà vua chẳng biết phải chọn ai.

 맏형은,

 ” 내가 망원경으로 포고문을  보지 않았더라면 공주나 병에 걸린 걸 어떻게 알 수 있었겠느냐? 그러니까 내 공이 제 일이야.”

라고 말했읍니다.

Người anh cả nói rằng:

-Thưa bệ hạ, nếu như không có chiếc kính viễn vọng nhìn xuyên không của thần thì làm sao có thể biết được rằng công chúa đang lâm bệnh? Vì vậy, công của thần là lớn nhất.

그러자 둘째는,

  ” 무슨 말이야 내 마술의 양탄자가 없었더라면 이렇게 먼 곳까지 빨리 올 수도 없었을 거야.  만일 조금만 더 늦었다면 공주는 이미 죽었을 거야.”

 라고 말했읍니다.

Ngay sau đó, người anh thứ hai phân bua:

-Anh nói thế sao được? Nếu như không có chiếc thảm thần kì của em thì từ một nơi xa làm sao có thể đến được hoàng cung nhanh như vậy? Và nhất nếu trễ thêm chút nữa thì e rằng sẽ chẳng thể cứu được công chúa.

 그러자 세째는,

 ” 그렇지 않아. 내 마술의 사과가 아니었다면 공주의 병은 고칠 수 없었어. 그러니까 내 공이 제일 크지.”

라고 말했읍니다.

Người em út cũng đưa ra lý lẽ của mình:

-Như vậy không đúng. Nếu như không nhờ quả táo màu nhiệm của em thì cho dù có đến được đây cũng không thể nào chữa được căn bệnh cho công chúa. Vì vậy công của em mới là lớn nhất chứ.

만약 당신이 임금이라면 누구를 사위로 삼겠습니까?

Giả sử như các bạn ở trong hoàn cảnh của nhà vua, các bạn sẽ chọn ai làm phò mã?

 현명한 임금님은 마술의 사과로 공주의 병을 고친 세째를 사위로 삼았습니다.

 Cuối cùng, sau một hồi suy nghĩ, vị vua anh minh đã ra quyết định và chọn người em út làm phò mã – người đã dùng quả táo màu nhiệm của mình trị bệnh cho công chúa.

왜냐하면 망원경을 가지고 있던 맏형은 망원경이 그대로 남아 있고, 둘째도 양탄자를 그대로 가지고 있기 때문입니다.

Vậy lý do gì khiến cho nhà vua đưa ra quyết định như vậy? Lý do chính là vì, người anh cả nhờ kính viễn vọng biết được về bênh tình của công chúa, nhưng kính viễn vọng vẫn còn đó, vẫn là vật sở hữu của anh ta.

그러나 사과를 가지고 있던 세째는 그 사과를 공주가 먹어 버렸기 때문에 아무것도 남은 것이 없었읍니다.  세째는 공주의 병을 고치기 위해 자기의 가장 소중한 마술사과를 바쳤던 것입니다

Người anh thứ hai dung chiếc thảm thần để bay đến hoàng cung nhanh chóng, nhưng sau cùng chiếc thảm vẫn còn đó và vẫn là vật sở hữu của anh ta, duy chỉ có người em út đã hi sinh quả táo màu nhiệm của mình – hy sinh món báo vật mà mình quý nhất để cứu sống công chúa.

. 탈무드에 의하면,

 < 남을 도울 때에는 모든 것을 아낌없이 바치는 것이 가장 귀중하다>라고 되어 있습니다.

Chính vì thế, theo kinh Tamud của người Do Thái, “Khi giúp đỡ người khác, việc hy sinh tất cả mọi thứ mà không hề nuối tiếc, đó mới chính là cái đáng được trân quý nhất trong cuộc đời.”

  • 닭의 재판 – PHIÊN TÒA XÉT XỬ CON GÀ

사람의 잘잘못을 판단하기란 쉽지 않습니다.

Thật sự rất khó để có thể phán đoán, phân định được sự đúng sai, phải trái của con người.

 그래서 재판을 할 때면 여러 가지 증거가 있어야 되고 또 증인의 말도 듣게 됩니다. 

Vì vậy, khi tuyên án, nhất định phải thu thập thật nhiều chứng cứ và lắng nghe nhiều lời nói của các nhân chứng để có cơ sở phán quyết.

특히 큰 죄를 지어서 사형 선고를 해야 하는 경우, 재판장은 더욱 세밀하게 모든 일을 살펴야 합니다. 그것은 살아 있는 생명이란 모두가 소중하고 귀한 것이기 때문이지요.

Đặc biệt là trong trường hợp phải tuyên án tử hình, thẩm phán lại phải càng xem xét kỹ lưỡng và thật cẩn trọng bởi phán quyết đó sẽ quyết định sinh mệnh sống còn của một con người, mà sinh mệnh là thứ quan trọng và quý giá nhất trên thế gian này.

 이런 이야기가 있습니다.

Sau đây, chúng ta hãy cùng nhau thử nghe qua một câu chuyện của người Do Thái nhé.

한 마리의 닭이 어린아이를 죽인 혐의로 재판을 받게 되었습니다.

“Câu chuyện kể rằng có một con gà nọ bị tình nghi là đã giết chết một đứa trẻ sơ sinh và bị đưa ra tòa án để xét xử.

그 닭은 갓태어난 아기의 머리를 쪼아서 줄게 했던 것습니다.

Người ta nói rằng con gà đó đã mổ vào đầu của đứa bé mới sinh để làm cho nó nhỏ lại.

 닭은 법정에 서게 되었습니다.

Và thế là con gà ấy đã bị đưa ra trước vành móng ngựa để xét xử.

 그런데 닭은 사람의 말을 알아들을 수도 없고 또 묻는 말에 대답할 수도 없읍니다.

Thế nhưng, khi xét xử, con gà ấy không thể nào nghe hiểu được tiếng nói của con người và lại càng không thể trả lời được những câu hỏi mà quan tòa đặt ra.

그래서 닭이 아기의 머리를 또아 대는 것을 본 사람들이 증인이 되어 자세한 얘기를 했습니다.

Chính vì vậy, những người đã chứng kiến cảnh con gà đó mổ vào đầu đứa bé trở thành nhân chứng và kể lại chi tiết câu chuyện.

제판장은 증인들의 이야기를 듣고, 또 아기의 시체를 조사한 다음 닭에게 유되 판결을 내렸습니다. 물론 사형이었죠.

Sau khi thẩm phán nghe câu chuyện kể lại của những nhân chứng con người và khám nghiệm tử thi của đứa bé thì tuyên án con gà có tội. Và lẽ đương nhiên con gà bị tử hình.

아기를 죽인 닭이라면 누구든지 그 닭을 테니까요.

Nếu chỉ là một con gà mang tội hại đứa trẻ thì đương nhiên ai cũng sẽ muốn giết con gà ấy để đền tội.

그러나 비록 짐승이라 해도 살인자로 유죄 판결을 받지 않는 한 함부로 처형해서는 안 된다는 것이 탈무드의 교훈입니다.

Thế nhưng bài học giáo huấn ở đây mà Kinh Tamud muốn nói đến chính là việc cho dù chỉ là một con vật bị kết tội sát nhân đi chăng nữa thì cũng không thể nào tùy tiện phán xét án tử hình mà phải xem xét thật kỹ càng.”

하물며 사람을 재판하거나 사람의 잘잘못을 따질 때 증거도 없이 남의 말만 듣고 욕을 하거나 벌을 준다면,   그리고 그결정이 잘못된 것이라면 어떻게 될까요?     

Huống chi khi phán xét con người hoặc khi phân định phải trái đúng sai của con người, không có chứng cứ cụ thể mà chỉ nghe lời nói của người khác rồi cứ thế chửi bới hoặc trừng phạt họ rồi dẫn tới một quyết định sai lầm thì sẽ ra sao?

       다른 사람의 일을 잘했다 잘못했다 하고 판단하는 일은 무엇보다 신중히 처리해야 된답니다.

Do đó, khi phán đoán hành động của một ai đó là đúng hay là sai, hơn bất cứ điều gì hết, cần phải thận trọng suy xét và xử lý cho thật kỹ càng, để tránh đưa ra những nhận định sai lầm.

  • 이득과 손실 – LỢI ÍCH THIỆT HƠN

랩비 몇 사람이 여행을 하고 있었습니다.

Có một nhóm giáo sĩ Do Thái nọ có cả Nhà học giả (Rabbi)  đi lữ hành cùng.

그들은 하루 종일 걸어서 산 밑에 있는 자ㄱ은 주막에 도착했습니다.

Bọn họ đã đi suốt cả một ngày dài và quyết định dừng chân tại quán rượu nhỏ nằm bên dưới chân núi.

“랩비님, 저 산을 넘지 마셔요. 위험합니다.”

주막 주인 말했습니다.

-Các ngài giáo sĩ à, tôi nghĩ các ngài không nên đi vào ngọn núi đó. Nơi đó vô cùng nguy hiểm. Chủ quán rượu nói sau khi biết được lộ trình của họ.

“왜요, 사람을 잡아막는 무서운 짐승이 있습니까?”

한 랍비가 물었습니다.

-Tại sao vậy, chủ quán? Chả lẽ trên núi ấy có loài quái thú ăn thịt người đáng sợ nào đó? Một vị giáo sĩ hỏi ngược lại chủ quán.

“아닙니다. 짐긍이 아니라 짐승보다 더 무섭고 잔인한 산 적들이 있습니다.”

-Không ạ. Thú dữ thì chẳng có nhưng có bọn sơn tặc vô cùng tàn nhẫn còn đáng sợ hơn cả thú dữ. Người chủ quán trả lời.

“아, 산적들이라고요? 그렇다면 우리는 걱정하지 암ㅎ습니다. 우리는 부자도 아니고, 또 가지고 있는 돈도 없으니까요.”

랍비가 말했습니다.

-À, người đang nói đến sơn tặc à? Nếu vậy thì không cần phải lo lắng cho chúng tôi đâu ạ. Chúng tôi nào có phải người giàu, trong người lại chẳng có chút tiền bạc của cải gì. Một vị giáo sĩ trả lời.

“그런 말씀 마셔요. 그 산적들은 이 세상에서 가장 잔인한 고 밥 먹듯이 살인을 하는 나쁜 놈들입니다. 그들은 돈이 없으면 살가죽이라도 벗긴답니다.”

주막 주인은 무섭다는 듯이 치를 떨었읍니다.

        -Xin chớ nói như vậy ạ. Bọn sơn tặc ấy là bọn độc ác vô lương tâm và tàn nhẫn nhất trên thế gian này, chúng giết người như ăn cơm bữa. Nếu không có tiền thì chúng sẽ lột da sống đấy ạ, vô cùng ghê rợn. Người chủ quán vừa nghiến răng vừa run cầm cập và nói trong sợ hãi.

그러자 한 랍비가 말하기를 ,

“그런 악인들을 이 세상에서 영원히 사라져야 해.”

라고 했습니다.

Ngay sau đó, một vị giáo sĩ trong nhóm liền nói:

-Những kẻ ác ôn như vậy cần phải biến mất vĩnh viễn khỏi thế gian này mới được.

또 한 랍비는,

“그런 악인은 물 속에 빠져 죽거나 불에 타서 죽어야 될텐데… . “

 하였습니다.

Một vị giáo sĩ khác cũng nói thêm:

  -Những kẻ ác như vậy thế nào cũng sẽ bị dìm xuống nước hoặc sẽ bị vùi thây trong lửa.

“그럼요. 죽어도 그냥 죽어서는 안 됩니다. 아주 심한 고통을 받으며 죽어야 합니다.”

주막 주인도 막장구를 쳤읍니다.

Người chủ quán nghe vậy nói thêm:

 -Đúng vậy ạ. Dẫu muốn chết cũng không thể cứ chết dễ dàng như vậy được. Phải bắt những kẻ ác ôn như vậy chịu đau khổ rồi mới cho chết được.

그러자 그들 중에 가장 나이가 많고 현명한 랍비가,

“아니지요. 유태인이라면 그런 생각을 가져서는 안 됩니다. 이 세상에 악인들이 있는 것보다 없는 것이 더 좋은 일이긴 합니다만 그렇다고 악인들이 죽어 없어지라고 기도해서는 안 됩니다. 그 들이 죽기를 바라기보다는 악인들이 회개해서 착한 사람이 되도록 인도해야 됩니다.” 라고 말했습니다.

Sau khi nghe như vậy, lặp tức một vị giáo sĩ trông có vẻ thông thái và lớn tuổi liền cất giọng nói.

 -Không được như vậy đâu ạ. Nếu là người Do Thái thì không được có suy nghĩ như vậy. Quả thật nếu người ác biến mất và không tồn tại trên thế gian này thì quả là điều tốt. Thế nhưng, nếu như cứ mang suy nghĩ mong muốn giết hết tất cả người xấu để làm cho họ biến mất khỏi thế gian thì đó là chuyện không đúng. Thay vì mong cho kẻ ác chết đi, tại sao chúng ta lại không dìu dắt họ ăn năn hối hận và trở thành người lương thiện?. Vị giáo sĩ thông thái nọ ngắt lời.

악인에게 벌을 준다고 해서 악인이 아닌 사람들에게 어떤 이득이 생기는 것은 아닙니다.

Việc trừng phạt những người ác không hề đem lại bất cứ lợi ích nào cho người khác.

벌을 주기보다는 그들이 잘못을 뉘우치고 뉘우쳐서 선한 사람이 되도록 하는 일이야말로 이득이 되는 일입니다.

Vậy hà cớ gì chúng ta không giúp họ nhận ra sai lầm, hối cải và trở thành người thiện. Đó mới chính là việc làm có ích thật sự.

  • 갈비뼈와 여자 – CÂU CHUYỆN VỀ PHỤ NỮ VÀ CÁI XƯƠNG SƯỜN

탈무드의 기본은 구약성서입니다.

Nền tảng trong kinh Tamud của người Do Thái chính là Kinh Cựu Ước.

구약성서에는 유태인들이 믿는 하나님의 말씀과 선지자들의 이야기가 자세히 적혀 있습니다.

Trong Kinh Cựu Ước, có ghi lại một câu chuyện do các nhà tiên tri và của Chúa trời kể lại mà người Do Thái rất mực tin tưởng.

구약성서를 보면 인류 최초의 여자는 아담의 갈비뼈 하나를 뽑아서 만들었다고 되어 있습니다.

Nếu đọc kinh Cựu Ước, ai trong chúng ta cũng sẽ biết được rằng thuở sơ khai, Chúa trời chỉ tạo ra đàn ông và khởi nguồn của việc tạo ra phụ nữ là do Chúa trời đã lấy đi một cái xương sườn của Adam tạo ra phụ nữ từ chiếc xương sườn ấy.

어느 날 로마의 황제가 랍비의 집을 찾아가서, “너회들이 믿는 하나님은 도둑이 아니냐? 어찌해서 남자가 잠자고 있을 때 허락도 없이 몰래 그의 갈비뼈를 훔쳐 갔느냐?” 라고 물었습니다.

Một ngày nọ, vị hoàng đá La Mã đã tìm đến một giáo sĩ người Do Thái và hỏi rằng:

-Chúa trời mà các khanh hết mực tin tưởng chẳng phải chỉ là một tên trộm hay sao? Làm sao một vị Chúa trời lại có thể đánh cắp một chiếc xương sườn của người đàn ông trong lúc anh ta đang ngủ say mà không hề có được sự đồng ý của anh ta?

그러자 옆에 있던 랍비의 딸이 나서서 말참견을 하였습니다.

 Ngay sau khi nghe câu hỏi đó của vị hoàng đế, một giáo sĩ Do Thái ngồi bênh cạnh giờ tay xin đưa ra ý kiến của mình.

“폐하, 병사 한 사람만 빌려 주십시오. 좀 까다로운 문제가 생겨서 조사를 시켰으면 합니다.”

Vị giáo sĩ đó nói:

  -Muôn tâu bệ hạ, xin người hãy phái một binh sĩ đi điều tra một việc vô cùng khó hiểu giúp thần ạ!

“그야 어렵지 않지. 그런데 그 까다러운 문제란 무엇이냐?.”

 -Chuyện đó thì có gì là khó. Thế nhưng vấn đề khó hiểu mà khanh nói đến là gì?

“사실은 어젯밤 저의 집에 두둑이 들어와서 금고 하나를 훔쳐 갔습니다. 그런데 그 도둑은 아주 값진 금으로 된 그룻을 놓고 갔습니다. 그래서 왜 그렇게 했는지 자세히 좀 알아보고 싶습니다.”

-Tâu bệ hạ, sự thật là đêm qua đã có một tên trộm lẻn vào nhà của hạ thần và đã trộm đi một cái két sắt. Thế nhưng chuyện lạ ở chỗ là tên trộm ấy đã để lại một chiếc bát được làm bằng vàng vô cùng đáng giá. Vì vậy, thần muốn biết lý do tại sao tên trộm ấy lại có hành động như vậy.

“그래! 그것 참 부러운 일이구나. 그런 도둑이라면 우리 집에 들어와서 내 집 금고도 가지고 갔으면 좋겠구나.” 로마 황제는 웃으며 말했습니다.

-Thì ra là thế, ta thật ghen tỵ với nhà người đấy. Nếu tên trộm ấy lẻn vào nhà của ta rồi mang đi chiếc tủ sắt như thế thì tốt nhỉ!. Vị hoàng đế La Mã vừa cười vừa nói.

“페하께서도 그렇게 생각하십니까?”

-Chẳng phải ngay cả đến bệ hạ cũng suy nghĩ như thế hay sao?

“암, 그렇고말고. 다만 그 금고 속에 더욱 값진 것이 들어 있지 않다면 말이다.”

-A hèm, đương nhiên là ta nghĩ như vậy rồi. Giả  sử như trong chiếc tủ sắt ấy chẳng hề có vật gì đáng giá hơn chiếc bát bằng vàng kia thì sao?. Vị hoàng đế trả lời.

“그렇다면 말씀드리겠습니다. 빈 금고를 홈쳐 간 도둑이 금그릇을 놓고 간 일은 아담의 몸에 일어났던 일과 같다고 봅니다. 하나님께선 갈비뼈 한 개를 몰래 가져가셨지만, 그 대신 갈비뼈보다 더욱 소중한 여자를 남겨 두셨으니까요.”

-Nếu vậy thì thần cũng xin thưa với Ngài ạ. Ngài thử nghĩ xem ạ, câu chuyện về tên trộm lấy đi chiếc tủ sắt trống rồi để lại chiếc bát bằng vàng cũng giống như việc Chúa trời đã lấy đi chiếc xương sườn của Adam và tạo ra phụ nữ. Tuy rằng Chúa trời đã lén lấy đi một chiếc xương sườn nhưng bù lại, Ngài đã tạo ra được người phụ nữ quý giá còn hơn cả chiếc xương sườn ấy. Ngài không cảm thấy như thế hay sao?

그 말을 들은 로마 황제는 한 말이 없어 껄껄 웃다가 돌아갔습니다.

Sau khi nghe những lời nói ấy của vị giáo sị, vị hoàng đế La Mã không nói tiếng nào, chỉ cười lớn rồi quay trở về.

______________

Mời các bạn tham khảo ngay Khóa học cho người mới bắt đầu:

________________
Mọi chi tiết vui lòng liên hệ TƯ VẤN
FACEBOOK: https://www.facebook.com/kanataviethan/
Cơ sở: 
  • Trụ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, Quận 3. 028.3932 0868/ 3932 0869, 0931 145 823
  • Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, P.14, Quận Tân Bình , 028.3949 1403 / 0931145 823
  • Cơ sở 2: Số 18 Nội khu Mỹ Toàn 2, khu phố Mỹ Toàn 2, H4-1, Phường Tân Phong, Quận 7, 028.6685 5980
  • Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, P8, Gò Vấp (Ngay cổng sau Trường THPT Nguyễn Công Trứ, hẻm đối diện công ty Mercedes) 028.3895 9102
  • Cơ sở 4: 144 Đinh Tiên Hoàng, P.1, Quận Bình Thạnh, 028.6270 3497
  • Cơ sở 5: 193 Vĩnh Viễn, Phường 4, Quận 10, 028.6678 1913
5 1 bình chọn
Xếp hạng bài viết
guest
Nhập họ tên (bắt buộc)
Email của bạn (bắt buộc)

1 Bình luận
Cũ nhất
Mới nhất Bình chọn nhiều
Phản hồi trong dòng
Xem tất cả bình luận
Phạm Vi
Phạm Vi
1 năm cách đây

Bài dịch hay quá !

1
0
Click vào đây để bình luận hoặc gửi yêu cầu bạn nhé!x
error: Rất tiếc, chức năng này không hoạt động.