HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
LÊ HUY KHOA
DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN
DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ
Chương 8: Mèn bị tù – Những sự xảy ra cho Mèn khi phải giam trong hầm kín của lão chim Trả – Xa nhau lại gặp nhau
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
SVTT: Trương Mỹ Tâm Hiền
CSTT: Kanata Online
Chương 8: Mèn bị tù – Những sự xảy ra cho Mèn khi phải giam trong hầm kín của lão chim Trả – Xa nhau lại gặp nhau
→ 제8장: 멘이 갇히다 – 그 새의 밀폐된 굴에 갇힌 동안 멘에게 일어난 일들 – 헤어졌다가 다시 만나다
Nhưng cuộc đời Mèn tôi chưa phải đến đây đã bị phết cái dấu chấm sau cùng.
→ 그러나 내 인생이 여기서 마지막 마침표를 찍은 것은 아니었다.
Tôi còn sống. Vẫn sống.
→ 나는 아직 살아 있다. 여전히 살아 있다.
Để hôm nay ngồi kỳ khu chép những ngày giang hồ lên trang giấy trắng cho bạn đọc yêu quý cùng nếm với Mèn tôi chút phong vị và ý nghĩa một quãng đời luân lạc.
→ 그래서 오늘 나는 앉아서 지난 떠돌이 시절을 하얀 종이에 서툴게 적어, 사랑하는 독자 여러분이 나와 함께 그 방랑의 삶의 맛과 의미를 조금이나마 느껴 보도록 하려 한다.
Thế nghĩa là, tôi không chết.
→ 그러니까 나는 죽지 않았다.
Tôi nằm bẹp dí trong cặp mỏ lão chim Trả và bây giờ lão đương bay là là xuống sát mặt dòng sông phù sa đỏ ối.
→ 나는 그 늙은 새의 부리 사이에 납작하게 끼어 있었고, 그 새는 지금 붉은 흙탕물이 흐르는 강물 위를 바짝 스치듯 낮게 날고 있었다.
Qua sông rồi, lão đỗ vào một bãi dâu xanh lưa thưa.
→ 강을 건넌 뒤, 그 새는 듬성듬성한 푸른 뽕나무밭에 내려앉았다.
Lão vừa buông tôi xuống đất, tôi đã giơ ngay chân và càng lên gai ngạnh thủ thế và nghênh địch, như lúc nãy.
→ 그 새가 나를 땅에 내려놓자마자, 나는 곧바로 다리와 가시 달린 집게를 들어 올려 방어 자세를 취하고, 아까처럼 적을 맞을 준비를 했다.
Lão ngoác mỏ ra cười khà khà rồi nói:
→ 그 늙은 새는 부리를 벌리고 껄껄 웃으며 말했다.
– Ái chà! Diễu võ giương oai cứng đấy! Nhưng thôi, hãy cụp chân xuống mà nghe đây.
→ – 아이고! 제법 위세를 부리며 으스대는구나! 하지만 그만 다리를 내려놓고 이 말을 들어라.
Tớ vừa tậu được ngôi nhà mới, tớ đương cần quản gia.
→ 나는 방금 새 집을 하나 장만했는데, 지금 집을 맡아볼 관리인이 필요하다.
Đằng ấy về làm quản gia cho biệt thự của tớ. Bằng lòng không?
→ 자네가 내 별장에서 관리인으로 일하면 어떻겠나? 승낙하겠나?
Cái ý hay đã khiến lúc nãy lão chim Trả kêu lên: “đây rồi, đây rồi” là thế đấy.
→ 아까 그 늙은 새가 “찾았다, 찾았어!”라고 외친 것은 바로 이런 생각 때문이었다.
Tôi lắc đầu cãi rằng tôi đương tự do đi trên đường cái,
→ 나는 고개를 저으며, 지금 나는 큰길을 자유롭게 걷고 있다고 반박했다.
không ai có quyền lấy mất chân tay của tôi,
→ 누구도 내 팔다리를 빼앗을 권리가 없다고 했다.
nếu ông có lòng tốt và biết ân hận về sự tình ức hiếp nhau vừa rồi
→ 만약 그가 선한 마음이 있고 방금 전의 억압적인 행동을 뉘우친다면,
thì chỉ việc ông kệ tôi đứng đây rồi tôi đi đâu mặc tôi,
→ 그냥 나를 여기 두고 내가 가고 싶은 곳으로 가게 하면 될 일이라고 했다.
đừng thở ra câu nói trái tai nào nữa.
→ 더 이상 거슬리는 말은 하지 말라고 덧붙였다.
Nhưng lão chim Trả nheo mắt lại bảo:
→ 그러나 그 늙은 새는 눈을 가늘게 뜨며 말했다.
– Này này, chớ lảm nhảm lý sự vô nghĩa.
→ – 이봐, 쓸데없는 말로 떠들지 마라.
Hỏi chơi thế thôi chứ dù chú mình không muốn, ta bắt chú mình phải muốn.
→ 그냥 물어본 것뿐이지만, 네가 원하지 않아도 나는 네가 원하게 만들 것이다.
Tôi cứ thản nhiên, đến khi lão hỏi dồn thì tôi chỉ lắc đầu.
→ 나는 태연하게 있다가 그가 계속 다그쳐 묻자 그저 고개만 저었다.
Lão liền hé mỏ quắp tôi bay đến cái nhà mới của lão.
→ 그러자 그는 곧바로 부리를 벌려 나를 물고 자신의 새 집으로 날아갔다.
Cái nhà mới, hay nói cho oai, biệt thự của lão chim Trả là một cái hang sâu hỏm vào giữa một mô đất cát trên bờ sông.
→ 그 새의 새 집, 좀 거창하게 말하면 ‘별장’이라는 것은 강가의 모래 둔덕 한가운데 깊숙이 파인 굴이었다.
Cũng không phải tự tay lão đào cái hang này.
→ 그것도 그가 직접 판 굴은 아니었다.
Lão không biết đào mà lão chỉ có tài láu vặt.
→ 그는 굴을 팔 줄은 모르고 잔꾀만 뛰어났다.
Nghĩa là cái tài đi cướp nhà của chú chuột.
→ 즉, 쥐의 집을 빼앗는 재주만 있었던 것이다.
Chim Trả chuyên tìm hang sẵn.
→ 그 새는 늘 이미 있는 굴을 찾아다녔다.
Được cái bỏ hoang thì tốt,
→ 버려진 굴이면 더할 나위 없이 좋았고,
nếu không lão rình chú Chuột đi vắng lâu ngày,
→ 그렇지 않으면 쥐가 오랫동안 집을 비우기를 기다렸다가,
lão vào giả vờ đào bới khoét tí ti trong ngoài,
→ 그 안팎을 조금씩 파헤치는 척하며 손을 대고는,
đến khi chủ hang về, lão chim Trả sinh sự tống ra ngoài,
→ 주인이 돌아오면 트집을 잡아 밖으로 내쫓았다.
cứ nói xưng xưng là vào mà xem! Vào mà xem! Có phải nhà mày đây không.
→ 그리고는 “들어와 봐라! 들어와 봐! 이게 네 집이 맞느냐?” 하고 큰소리쳤다.
Chú Chuột nọ bực mình, nhưng cũng ngại lôi thôi, thế là bỏ quách.
→ 그 쥐는 화가 나지만 귀찮은 일을 피하려고 그냥 포기해 버리곤 했다.
Tuy vậy, không phải chú chuột nào cũng dễ tính.
→ 하지만 모든 쥐가 그렇게 순순한 것은 아니었다.
Có chú Chuột còn đến cãi nhau mãi.
→ 어떤 쥐는 끝까지 와서 계속 다투기도 했다.
Thế ra bây giờ lão chim Trả nghĩ cách bắt mình giữ hang và có thể còn cãi nhau hộ đây.
→ 결국 그 새는 이제 나를 시켜 굴을 지키게 하고, 나아가 대신 말다툼까지 하게 하려는 속셈이었다.
Lâu nay, lão đã có ý tìm một quản gia như thế.
→ 그동안 그는 이런 관리인을 찾을 생각을 하고 있었다.
Trong cùng hang, lão đã đào thêm một ngách nhỏ vừa cái lỗ con con.
→ 같은 굴 안에 그는 작은 구멍만 한 좁은 통로를 하나 더 파 놓았다.
Lão đẩy tôi vào đó.
→ 그는 나를 그 안으로 밀어 넣었다.
Tôi lùi ra, đạp hậu vào mặt lão.
→ 나는 뒤로 물러서며 그의 얼굴을 향해 발로 찼다.
Nhưng chỉ đạp trúng cái mỏ cứng như đá, chẳng ăn thua gì.
→ 그러나 돌처럼 단단한 부리에 맞았을 뿐, 아무 소용이 없었다.
Lão bèn đưa cả cặp mỏ to tướng, hẩy phắt tôi vào.
→ 그러자 그는 큰 부리를 내밀어 나를 단번에 안으로 밀어 넣었다.
Tôi ngã chúi đầu vào tường cát.
→ 나는 모래 벽에 머리를 처박으며 넘어졌다.
Lập tức lão nhặt viên gạch, chặn kín cửa ngách.
→ 곧 그는 벽돌 하나를 주워 통로 입구를 꽉 막아 버렸다.
Tôi mất đường ra.
→ 나는 나갈 길을 잃었다.
Trong ngách tối như hũ nút.
→ 그 통로 안은 칠흑같이 어두웠다.
Cái khe hở tí ti không đủ thò một chân ra.
→ 작은 틈 하나도 다리를 내밀기엔 턱없이 부족했다.
Lão chim Trả đứng ngoài truyền lệnh vào cho tôi:
→ 그 새는 밖에 서서 나에게 명령을 내렸다.
– Việc của đằng ấy từ nay là chung thân coi nhà.
→ – 이제부터 너의 일은 평생 이 집을 지키는 것이다.
Làm khá thì được thưởng. Làm không nên thì được ăn đòn.
→ 잘하면 상을 받을 것이고, 못하면 매를 맞을 것이다.
Bây giờ dỏng tai nghe tớ dạy cách coi nhà:
→ 이제 귀를 쫑긋 세우고 내가 집 지키는 방법을 가르치는 것을 잘 들어라.
muốn không cho bọn chuột bọ rắn rết nào vào trộm cắp được
→ 쥐나 벌레, 뱀 같은 것들이 들어와 도둑질하지 못하게 하려면,
thì cứ dóng cổ lên hò hét tất cả những lúc tớ vắng nhà.
→ 내가 집에 없을 때마다 목청껏 소리를 질러라.
Đứa nào đi ngoài cửa sẽ hiểu rằng trong hang có chủ, không dám vào.
→ 밖을 지나가는 것들은 이 굴에 주인이 있다고 생각해서 감히 들어오지 못할 것이다.
Có thế thôi!
→ 그게 다다!
Mỗi bữa tớ sẽ đem về các thức cỏ ngon cho mà ăn. Sướng nhé!
→ 매 끼니마다 맛있는 풀을 가져다 먹여 줄 테니 좋지 않느냐!
Tôi không hát, không hét, không kêu la như lão muốn.
→ 나는 그가 원하는 대로 노래하지도, 소리치지도, 떠들지도 않았다.
Lão rình mấy lần, không thấy tôi động tĩnh.
→ 그는 몇 번이나 엿보았지만 내가 아무 반응도 보이지 않는 것을 확인했다.
Thấy thế, lão không đem cỏ về cho tôi ăn.
→ 그러자 그는 나에게 먹일 풀을 가져오지 않았다.
Đói quá.
→ 나는 너무 배가 고팠다.
Sau tôi nghĩ thế là dại, chẳng nhẽ chịu chết ở đây, ta phải gắng ăn để sống, để có sức tìm cách thoát khỏi hang hùm, thế mới là thượng sách.
→ 그러다 나는 그렇게 하는 것은 어리석다고 생각했다. 여기서 죽을 수는 없지 않은가. 살아남기 위해 먹어야 하고, 그래야 힘을 길러 이 ‘호랑이 굴’에서 탈출할 방법을 찾을 수 있다. 그것이야말로 최선의 선택이었다.
Từ hôm ấy, cả ngày tôi hò hét trong hang,
→ 그날 이후로 나는 하루 종일 굴 안에서 소리를 질렀다.
nhiêu lúc lão có ở nhà tôi cũng kêu ầm ĩ, lão không ngủ được phải quát lên, tôi mới thôi.
→ 그가 집에 있을 때조차 나는 시끄럽게 떠들었고, 그는 잠을 잘 수 없어서 소리쳐야만 내가 멈추었다.
Ngày cũng như đêm, tôi quanh quẩn trong cái hang kín.
→ 밤낮없이 나는 그 막힌 굴 안에서 맴돌았다.
Ngày cũng như đêm, tôi hát rống cò ke chẳng ra đâu vào đâu, như đứa dở hơi.
→ 밤낮없이 나는 두서없이 소리치고 노래하며 마치 제정신이 아닌 사람처럼 굴었다.
Để bọn đi ngoài kia biết hang có chủ, khỏi vào nhà nhầm.
→ 바깥을 지나는 것들이 이 굴에 주인이 있다는 것을 알고 함부로 들어오지 못하게 하기 위해서였다.
Để cậu Chuột chủ cũ có về tưởng trong hang lắm thứ chen chúc, nào Dế nào chim Trả lộn xộn, cũng sợ lôi thôi, không vào đòi nữa.
→ 또한 옛 주인인 쥐가 돌아오더라도 굴 안이 여러 생물들로 복잡하다고 여기고 귀찮은 일을 피하려 들어오지 않게 하려는 것이었다.
Lão chim Trả đi vắng cả ngày, không mấy khi có nhà.
→ 그 새는 하루 종일 집을 비우는 일이 많았고, 집에 있는 경우는 거의 없었다.
Ban đêm, lão ta ngủ, tôi nghỉ hò la hát hỏng thì tôi lại cặm cụi bí mật đào ngách.
→ 밤이 되어 그가 잠들면, 나는 소리치는 것을 멈추고 몰래 통로를 파기 위해 부지런히 움직였다.
Nhưng trong cái tường bịt trước mặt tôi, lão ta đã tha đâu về được nhiều hòn sỏi lèn vào đấy, sức móng chân tôi không khoét nổi.
→ 그러나 내 앞을 막고 있는 벽에는 그가 어디선가 가져온 자갈들이 빽빽이 박혀 있어, 내 발톱으로는 도저히 파낼 수 없었다.
Mà đằng sau lưng thì chịu.
→ 뒤쪽도 마찬가지로 어찌할 도리가 없었다.
Tuy vậy, tôi vẫn chịu đựng và nuôi hy vọng.
→ 그럼에도 불구하고 나는 참고 견디며 희망을 품었다.
Mặc dầu không biết sẽ ra sao, nhưng vẫn tin và chờ.
→ 어떻게 될지는 알 수 없었지만, 여전히 믿으며 기다렸다.
Lòng tin và hy vọng ở với tôi, an ủi tôi, xua đuổi cái buồn nản trong tôi đi.
→ 믿음과 희망은 내 곁에 머물며 나를 위로하고 내 안의 절망과 우울을 몰아냈다.
Trong cái âm thầm bóng tối ghê gớm ấy, trò hò hát vẫn là công việc bó buộc hàng ngày.
→ 그 음침하고 무서운 어둠 속에서도, 소리치고 노래하는 일은 여전히 내가 해야 하는 일상이었다.
Nào ai cần đâu tôi hát hay hát dở,
→ 내가 노래를 잘하든 못하든 아무도 신경 쓰지 않았다.
đây lão ta chỉ bắt tôi mở miệng, rồi tôi kêu hay hát, hay quát tháo cũng được, miễn tiếng động ấy chứng tỏ trong hang có chủ.
→ 그저 그는 내가 입을 열어 소리를 내기만을 원했다. 내가 노래를 하든, 소리를 지르든, 고함을 치든 상관없이, 그 소리가 이 굴에 주인이 있다는 것을 보여 주기만 하면 되었다.
Tôi nghêu ngao hát, tôi gáy.
→ 나는 흥얼거리며 노래하고 울부짖었다.
Để tìm cách sống, để nghĩ kế.
→ 살아남기 위해, 탈출할 방법을 생각하기 위해서였다.
Tôi cũng tưởng tượng biết đâu mình kêu như thế, ai tò mò vào, rõ nỗi oái oăm mình bị cầm tù, có thể tìm cách cứu được mình chăng.
→ 또한 혹시라도 내가 이렇게 소리를 내면 누군가 호기심에 들어와, 내가 갇혀 있는 이 기막힌 상황을 알고 나를 구해 줄 수도 있지 않을까 상상하기도 했다.
Tôi nghĩ kế, tôi nghĩ…
→ 나는 계속해서 방법을 궁리했다, 또 궁리했다…
Bởi vậy, tôi không hát những câu nhảm nhí nữa.
→ 그래서 나는 더 이상 쓸데없는 노래를 부르지 않았다.
Tôi đặt ra các câu hát có hồn.
→ 나는 감정이 담긴 노랫말을 만들어 냈다.
Tôi hát cho tôi nghe.
→ 나는 나 자신을 위해 노래했다.
Những bài hát mới, những bài hát ai oán thân phận,
→ 새로운 노래들, 자신의 처지를 한탄하는 노래들,
những bài hát tâm sự, những bài hát mang hy vọng xa.
→ 속마음을 털어놓는 노래들, 먼 희망을 담은 노래들이었다.
Ai làm chi nổi
→ 누가 어찌할 수 있으랴
Có dại mới nên khôn
→ 어리석어야 비로소 지혜로워진다
Nước nước với non non
→ 물과 산, 온 세상은
Năm canh hồn ngơ ngác.
→ 밤새도록 혼은 멍하니 떠돈다
Ngày kia như lệ thường, lão chim Trả bay ra sông kiếm ăn từ sáng sớm.
→ 어느 날도 평소처럼 그 새는 이른 아침부터 강으로 먹이를 찾으러 날아갔다.
Tôi bâng khuâng hát đi hát lại:
→ 나는 멍한 마음으로 같은 노래를 되풀이해 불렀다.
…Nước nước với non non
Năm canh hồn ngơ ngác.
→ …물과 산, 온 세상은
밤새도록 혼은 멍하니 떠돈다.
Mình lại nghe tiếng hát của mình chìm vào bóng tối, lòng tôi lìm lịm thấm thía và cứ hát mãi.
→ 나는 내 노랫소리가 어둠 속으로 가라앉는 것을 들으며, 마음이 깊이 가라앉고 그 감정에 젖어 계속 노래했다.
Tôi hát lại:
→ 나는 다시 노래했다.
Ai làm chi nổi
Có dại mới nên khôn…
→ 누가 어찌할 수 있으랴
어리석어야 비로소 지혜로워진다…
Vừa dứt tiếng, nghe ngoài cửa có tiếng hỏi vọng vào:
→ 막 노래를 마치자, 밖에서 묻는 소리가 울려 들어왔다.
– Tiếng ai như tiếng anh Mèn phải không?
→ – 이 목소리, 혹시 멘 형님 목소리 아닌가요?
Tôi vội kêu:
→ 나는 급히 외쳤다.
– Ai đó? Tôi đây! Tôi đây! Mèn đây!
→ – 누구냐? 나야! 나야! 멘이다!
Ở ngoài dội vào tiếng kêu to hơn:
→ 밖에서 더 큰 목소리가 되돌아왔다.
– Ối! ối! Anh Mèn ư! Trũi đây! Em Trũi đây. Anh đâu? Anh đâu? Anh ở chỗ nào?
→ – 아이고! 멘 형님이세요? 저 트루이입니다! 제가 트루이에요! 형님 어디 계세요? 어디 계세요? 어디에 계신 거예요?
Tôi bàng hoàng cả người.
→ 나는 온몸이 얼어붙은 듯 놀랐다.
Đúng tiếng Trũi.
→ 틀림없는 트루이의 목소리였다.
Dù xa nhau tôi vẫn không quên cái giọng ồ ồ của nó.
→ 우리는 멀리 떨어져 있었지만, 나는 그의 굵고 울리는 목소리를 잊지 않고 있었다.
Cũng như Trũi, bấy lâu dù sơn khê cách trở, Trũi vẫn nhớ ngay tiếng tôi.
→ 트루이 역시 오랫동안 산과 강으로 떨어져 있었지만, 내 목소리를 바로 알아차린 것이었다.
Tôi bảo vọng ra:
→ 나는 밖을 향해 소리쳤다.
– Anh ở đây. Anh phải tù trong đáy hang này. Có ai đương đi với em ngoài đó không?
→ – 나는 여기 있다. 이 굴 깊숙한 곳에 갇혀 있다. 밖에 너랑 같이 있는 사람이 있느냐?
– Thưa anh, các bác Châu Chấu Voi với bác… Em vào cứu anh ngay tức khắc…
→ – 형님, 메뚜기 어르신들과 함께 왔어요… 지금 당장 들어가서 형님을 구해 드릴게요…
Tôi nói lớn:
→ 나는 크게 말했다.
– Ấy chớ! cứu anh thì đã đành, nhưng đừng vào bây giờ.
→ – 아니야! 나를 구하는 건 좋지만 지금 들어오면 안 된다.
Tường nhà tù chắc chắn lắm, mà sắp đến buổi lão chim Trả đi kiếm ăn về rồi.
→ 이 감옥의 벽은 매우 단단하고, 곧 그 새가 먹이를 찾고 돌아올 시간이다.
Em chịu khó ra ngoài đợi, sáng mai, lúc lão ta trở dậy lại bay đi, lão đi rồi, ta vào thì chắc chắn hơn.
→ 밖에서 조금만 기다려라. 내일 아침 그가 다시 날아간 뒤에 들어오는 것이 더 안전하다.
Lát sau, quả nhiên lão chim Trả từ ngoài bờ sông bay về, chui tọt vào hang.
→ 잠시 후, 과연 그 새는 강가에서 날아와 굴 속으로 들어왔다.
Anh em ngoài ấy hẳn đã núp đâu quanh, chắc là lão ta không biết.
→ 밖에 있던 동료들은 어딘가에 숨어 있었을 것이고, 그는 그것을 눈치채지 못한 듯했다.
Lão ngồi tựa cái tường đất ngay ngoài buồng giam tôi, lão ngủ.
→ 그는 내가 갇힌 방 바깥의 흙벽에 기대어 앉아 잠이 들었다.
Bấy giờ đã tối.
→ 그때는 이미 밤이었다.
Tôi chỉ nhấm được tí cỏ, rồi cả đêm lòng rộn rực.
→ 나는 조금의 풀만 겨우 먹고, 밤새 마음이 들떠 있었다.
Bao nhiêu câu hỏi rối ren trong trí.
→ 머릿속에는 수많은 생각이 뒤엉켰다.
Làm sao Trũi lần mò qua đây?
→ 트루이는 어떻게 여기까지 찾아온 걸까?
Ngày mai mình thoát chốn này ư?
→ 내일 나는 이곳을 벗어날 수 있을까?
Ôi chao, lại sắp thấy trời, trời xanh, lại thấy ánh sáng, ánh sáng vàng những nắng.
→ 아, 다시 하늘을 보게 되겠지, 푸른 하늘을, 그리고 햇빛의 따뜻한 빛을…
Anh em lại gặp nhau.
→ 다시 동료들을 만나게 되겠지.
Sao cái đêm chờ đợi lê thê, dài đến là dài.
→ 그런데 이 기다림의 밤은 어찌 이리도 길고 끝이 없을까.
Sáng hôm sau, lão chim Trả bay đi kiếm ăn từ lúc sương chưa tan.
→ 다음 날 아침, 그 새는 안개가 아직 걷히기도 전에 먹이를 찾으러 날아갔다.
Vào lúc ấy dễ đón cá đi ăn rạng đông.
→ 그 시간에는 새벽에 먹이를 찾는 물고기를 잡기 쉬웠다.
Tin chắc lão không trở lại bất chợt, lão tính cẩn thận không bỏ quên cái gì bao giờ.
→ 그는 성격이 꼼꼼해서 무엇이든 빠뜨리지 않기 때문에, 갑자기 돌아올 일은 없을 것이라 확신할 수 있었다.
Lão chim Trả vừa ra khỏi, tôi gọi ầm:
→ 그 새가 막 나가자마자 나는 크게 외쳤다.
– Trũi ơi! Trũi đâu?
→ – 트루이야! 어디 있느냐?
Tiếng đáp lại ngay: “Dạ..dạ…Em đây…”
→ 곧바로 대답이 들려왔다. “네…네…저 여기 있어요…”
Hình như các bạn đã nấp quanh đấy cả đêm qua.
→ 친구들은 아마 밤새 그 근처에 숨어 있었던 것 같았다.
Lập tức, mấy cái bóng lổn ngổm bò vào hang, hì hục đào bới cậy khoét moi đất ra.
→ 곧 여러 그림자가 굴 안으로 기어 들어와, 힘껏 땅을 파고 긁어내기 시작했다.
Lão chim Trả lèn gạch đá cẩn thận lắm, phải bới một lúc mới hở tẹo lỗ.
→ 그 새가 벽돌과 돌을 아주 단단히 채워 넣었기 때문에, 한참을 파고 나서야 겨우 작은 구멍이 생겼다.
Ở trong, tôi nghe các cu cậu thở phì phò.
→ 안에서 나는 그들이 헐떡이며 숨 쉬는 소리를 들을 수 있었다.
Nhưng cái lỗ tí tẹo cứ to dần.
→ 그러나 그 작은 구멍은 점점 커졌다.
Tôi thò được đầu… Tôi nhoi được vai…
→ 나는 머리를 내밀 수 있었고… 어깨도 겨우 빠져나왔다…
Rồi tôi quờ cả hai chân trước ra.
→ 그리고 두 앞다리까지 뻗어낼 수 있었다.
Đến đấy tôi giở món sở trường đạp hậu phanh phách một cái a lê hấp!
→ 그 순간 나는 특기인 뒷발차기를 힘껏 날렸다!
Người tôi bật như bay bổng ra phía cửa hang.
→ 내 몸은 마치 날아오르듯 굴 입구 밖으로 튕겨 나갔다.
Các bạn cùng reo lên.
→ 친구들이 모두 환호성을 질렀다.
Chợt nhớ đến lão chim Trả, tôi bảo các bạn chạy đi, phải chạy ngay.
→ 문득 그 새가 떠올라, 나는 친구들에게 당장 도망치라고 말했다.
Được một quãng, đến bụi thài lài kín đáo, chúng tôi đứng lại.
→ 한참 달려 조용한 풀숲에 이르러서야 우리는 멈춰 섰다.
Đã lâu bây giờ mới được chuyến chạy và bay, đạp thoả hai cái càng.
→ 오랜만에 마음껏 달리고 뛰며 두 다리를 실컷 쓸 수 있었다.
Sau tôi, cả lũ theo, tôi chạy nhanh quá.
→ 내 뒤를 따라 모두가 달렸고, 나는 너무 빨리 달리고 있었다.
Cả lũ, có Trũi và các bạn Châu Chấu Voi.
→ 그 무리에는 트루이와 여러 메뚜기 친구들이 함께 있었다.
Nhưng cái anh chạy nhanh đầu tiên không phải Trũi mà là…bác Xiến Tóc.
→ 그러나 가장 앞에서 빠르게 달리던 이는 트루이가 아니라… 바로 시엔톡 아저씨였다.
Ẩn sĩ Xiến Tóc ở lều cỏ dạo trước ấy!
→ 예전에 풀 오두막에 살던 그 은둔자 시엔톡이었다!
Bác Xiến tóc vừa chạy vừa bay, rất gọn.
→ 시엔톡은 달리면서도 날아오르듯 가볍고 민첩하게 움직였다.
Không còn chút nào cái dáng đủng đỉnh chán đời bữa nọ.
→ 예전에 보였던 느릿느릿하고 세상에 지친 모습은 조금도 찾아볼 수 없었다.
Tôi chưa kịp ngạc nhiên, bác Xiến Tóc đã vuốt sừng cười rộ:
→ 나는 놀랄 틈도 없이 시엔톡 아저씨가 더듬이를 쓰다듬으며 크게 웃었다.
– Tệ quá! Bỏ đi mà không nói ai biết.
→ – 참 너무하네! 아무에게도 말하지 않고 떠나다니.
Đằng ấy đi mấy hôm thì Châu Chấu Voi và Trũi trở về.
→ 자네가 떠난 지 며칠 후에 메뚜기들과 트루이가 돌아왔네.
Tôi kể chuyện đằng ấy đi mấy hôm thì họ hoảng hốt lên.
→ 내가 자네가 떠난 이야기를 하자 그들은 크게 놀랐지.
Ô`, bạn Trũi giỏi lắm.
→ 아, 트루이는 정말 대단한 친구야.
Ngày trước Châu Chấu Voi đã giảng giải cho tôi, đến khi đằng ấy tới cũng nói là đời sống giang hồ thì vui thích như thế nào,
→ 예전에 메뚜기들도 나에게 설명해 주었고, 자네도 떠돌이 삶이 얼마나 즐거운지 말해 주었지만,
tôi cứ u mê cãi lại, tôi tưởng cái số mình lắm tai hoạ, không bao giờ dứt nổi bệnh chán đời nữa.
→ 나는 고집스럽게 반박만 했고, 내 운명은 불행으로 가득해 결코 이 염세적인 마음을 버릴 수 없다고 생각했네.
Thế mà đến khi Trũi nói, bạn Trũi nói có một lần, mình đã tỉnh.
→ 그런데 트루이가 단 한 번 말했을 뿐인데, 나는 문득 정신이 들었네.
Tôi xấu hổ nhận ra trong đời mình chỉ mới khó khăn một tí mà đã sợ.
→ 나는 내 삶에서 겨우 작은 어려움에도 겁을 먹었다는 사실을 부끄럽게 깨달았지.
Từ nay tôi hiểu rằng chán đời là tính xấu,
→ 이제 나는 염세적인 태도가 나쁜 성격이라는 것을 알게 되었네.
kẻ chán đời nghĩ là ta cao thượng, nhưng thật không cao thượng chút mà chỉ là trốn việc rong chơi.
→ 염세적인 사람은 스스로를 고상하다고 여기지만, 사실은 전혀 고상하지 않고 단지 일을 피하며 방황할 뿐이야.
Nghĩ được thế, tôi liền tống cổ bọn Bướm, bọn Ve Sầu lười biếng lại hay kêu ca phàn nàn
→ 그렇게 생각하고 나서 나는 게으르고 불평만 하던 나비와 매미들을 내쫓았고,
và cả mấy gã Sên rề rà chuyên ăn bám, tôi cũng đuổi nốt
→ 느릿느릿하며 남에게 의지해 살던 달팽이들까지 모두 쫓아냈네.
và bảo họ rằng từ nay đi kiếm lấy mà ăn chứ cái thân ăn nhờ ở cậy là xấu xa nhất trên đời.
→ 그리고 이제부터는 스스로 먹을 것을 구하라고, 남에게 기대어 사는 것은 세상에서 가장 부끄러운 일이라고 말했지.
Tôi đốt cái lều cỏ rồi tôi theo anh em đi từ độ ấy.
→ 나는 풀 오두막을 불태우고 그때부터 동료들과 함께 길을 떠나게 되었네.
Trũi giới thiệu tôi với các bạn:
→ 트루이는 나를 친구들에게 소개했다.
– Anh Mèn tôi đây. Anh Mèn mà tôi vẫn kể chuyện các bạn nghe đó.
→ – 이분이 바로 멘 형님이에요. 제가 늘 여러분께 이야기하던 그 멘 형님입니다.
Anh ơi, từ khi anh em ta xa nhau, chắc anh tưởng em chết rồi chứ còn đâu ngày nay.
→ 형님, 우리가 헤어진 뒤로 형님은 제가 죽었다고 생각하셨겠지요.
Nhưng không, khi em bị các anh Châu Chấu Voi bắt rồi mang đi thì em hiểu ngay các anh ấy là bạn tốt thế nào.
→ 하지만 그렇지 않았어요. 제가 메뚜기 형님들에게 붙잡혀 끌려갔을 때, 저는 곧 그분들이 얼마나 좋은 친구들인지 알게 되었어요.
Hôm đánh nhau, nếu chúng ta đừng hấp tấp và chúng ta đừng bị những đứa nhát sợ và nóng nảy cứ đẩy lung tung lên,
→ 그날 싸울 때 우리가 서두르지 않고, 겁 많고 성급한 이들에게 휩쓸리지 않았더라면,
mà ta chịu khó, bình tĩnh hỏi han trước thì không thể xảy ra sự đáng tiếc và chúng ta đã hiểu nhau ngay từ lúc ấy.
→ 조금만 더 참고 차분하게 먼저 물어보았다면 그런 안타까운 일은 일어나지 않았을 것이고, 우리는 그때 바로 서로를 이해했을 것입니다.
Các anh Châu Chấu Voi với chúng ta đều thích giang hồ phóng khoáng.
→ 메뚜기 형님들과 우리 모두는 자유롭고 호방한 떠돌이 삶을 좋아하는 사람들이니까요.
“Em nghe ra những lời chí lý ấy, em phục lắm.
→ 저는 그 지극히 옳은 말씀을 듣고 깊이 감탄했습니다.
Tuy chẳng lúc nào em quên tình anh em, nhưng em cũng tình nguyện đi với các anh Châu Chấu Voi
→ 형님과의 우정을 한순간도 잊은 적은 없지만, 저는 자발적으로 메뚜기 형님들과 함께 길을 떠났습니다.
và em tin chắc ngày kia anh em sẽ gặp nhau.
→ 그리고 언젠가는 반드시 형님과 다시 만날 것이라 굳게 믿었습니다.
Được ít lâu, em cùng các bạn trở lại rặng dứa dại trên đê, định nói với anh,
→ 얼마 지나지 않아 저는 친구들과 함께 둑 위의 야생 파인애플 숲으로 돌아와 형님께 말씀드리려 했습니다.
em tin chắc anh sẽ thích ngay, bởi vì em vẫn nhớ anh đã dạy cho em biết ý nghĩa bước phiêu lưu của anh em mình ngày trước cũng giống thế.
→ 형님께서 예전에 우리 모험의 의미를 가르쳐 주셨던 것을 기억하고 있었기에, 형님께서도 분명 좋아하실 것이라 확신했습니다.
Nhưng các bạn Châu Chấu Voi nói anh đã đi tìm em.
→ 하지만 메뚜기 형님들은 형님께서 저를 찾으러 떠나셨다고 말해 주었습니다.
Em có trình bày cho cả vùng Châu Chấu nghe cái mơ ước mà em đương theo đuổi.
→ 저는 제가 추구하고 있는 꿈을 온 메뚜기들에게 이야기했습니다.
Ai nấy vỗ tay, nhảy mừng.
→ 모두가 박수를 치며 기뻐했습니다.
Bởi vì nếu mơ ước đó thành sự thật thì không bao giờ trong đời còn gặp rủi ro,
→ 왜냐하면 그 꿈이 이루어진다면, 앞으로의 삶에서 더 이상 위험을 겪지 않게 될 것이기 때문입니다.
chỉ vì đi tìm khe lá tránh rét.”
→ 더 이상 추위를 피하려고 잎사귀 틈을 찾아다니는 일도 없어질 테니까요.”
“Rồi em lại đi.
→ “그리고 저는 다시 길을 떠났습니다.
Thời gian sau, có lúc chúng em qua chỗ cái chùa, tại gia của bác Xiến Tóc,
→ 시간이 지난 뒤, 저희는 시엔톡 아저씨가 머물던 절 근처를 지나게 되었는데,
thấy bác ấy bảo anh đến đây đợi em từ lâu và mấy bữa rày chẳng biết anh đi đâu.
→ 그분께서 형님이 오래전부터 여기서 저를 기다리셨지만, 며칠 전부터는 어디로 가셨는지 모른다고 하셨습니다.
Em mừng quá. Nhưng đợi mãi chẳng thấy anh về.
→ 저는 너무 기뻤지만, 아무리 기다려도 형님은 돌아오지 않으셨습니다.
Chỉ ở có ít ngày em cũng có thể đoán được tại sao anh đi.
→ 며칠 머무는 동안 저는 형님이 왜 떠나셨는지 짐작할 수 있었습니다.
Em đã biết tính anh, trước cảnh ăn chơi dông dài anh không chịu được.
→ 형님의 성격을 잘 알기에, 그런 한가하고 방탕한 생활을 견디지 못하셨을 것이라 생각했습니다.
Thế là không đợi anh về nữa, em lại cùng các bạn Châu Chấu Voi đi.”
→ 그래서 더 이상 기다리지 않고, 저는 다시 메뚜기 친구들과 함께 떠났습니다.”
“Chúng em đương trên đường sang vùng Kiến. May mắn biết bao, gặp anh đây…”
→ “저희는 지금 개미들의 지역으로 가는 길이었습니다. 이렇게 형님을 만나게 되어 얼마나 다행인지 모릅니다…”
Tôi và Trũi nhìn nhau, lúc ấy bỗng nhớ ra và càng thấm thía tâm sự câu thề ngày trước rằng từ đây sống chết có nhau.
→ 나와 트루이는 서로를 바라보며, 예전에 나누었던 ‘이제부터 생사를 함께하자’는 맹세를 떠올리고 그 의미를 더욱 깊이 느꼈다.
Một anh Châu Chấu Voi cất tiếng. Tiếng Châu Chấu Voi sang sang như chiêng đồng:
→ 한 메뚜기가 입을 열었다. 그의 목소리는 청동 징처럼 맑고 울림이 있었다.
– Phải, các bạn đã nói rất đúng rằng chúng ta đương cùng nhau đi khắp thế giới kết làm anh em.
→ – 그렇습니다. 우리는 함께 세상을 돌아다니며 형제가 되기로 한 것이 맞습니다.
Trũi cảm động nói:
→ 트루이는 감동하여 말했다.
– Em tin đây cũng là bước đường anh em ta đi, chẳng hay ý kiến anh…
→ – 저는 이것이 우리가 함께 가야 할 길이라고 믿습니다. 형님의 생각은 어떠신지요…
Tôi vui sướng thấy Trũi bây giờ khác hẳn trước.
→ 나는 트루이가 이제는 예전과 완전히 달라졌다는 사실에 기뻤다.
Trũi đã hết tính hấp tấp, nóng nảy, xốc nổi.
→ 그는 더 이상 성급하고, 화를 잘 내며, 충동적인 사람이 아니었다.
Trũi giờ nói năng điềm đạm, chắc chắn.
→ 이제 그는 차분하고 확신 있게 말할 줄 아는 사람이 되었다.
Tôi âu yếm ôm Trũi mà rằng:
→ 나는 다정하게 트루이를 끌어안으며 말했다.
– Em yêu quý! Các bạn Châu Chấu Voi tri kỷ ơi!
→ – 사랑하는 동생아! 그리고 소중한 메뚜기 친구들이여!
Điều các bạn nghĩ, cũng là điều xưa nay tôi mộng tưởng.
→ 여러분이 생각하는 것은 예전부터 내가 꿈꾸어 온 것이기도 하다.
Nay tôi xin cùng các bạn đi khắp thế gian, làm cho được những gì ta đương mơ ước.
→ 이제 나는 여러분과 함께 세상을 돌아다니며 우리가 꿈꾸는 것을 이루고자 한다.
Cả bọn reo lên. Và lập tức chúng tôi khởi hành.
→ 모두가 환호성을 질렀고, 우리는 곧바로 길을 떠났다.
Có lúc đương đi đường, Trũi dường như lấy làm lạ dừng lại ngắm tôi rồi hỏi tôi:
→ 길을 가던 중, 트루이는 이상하다는 듯 멈춰 서서 나를 바라보며 물었다.
– Ơ hay! Sao bây giờ anh trắng trẻo như học trò, không đen trậm trụi như xưa.
→ – 어라! 형님, 지금은 왜 학생처럼 하얗고 깨끗하세요? 예전처럼 검고 거칠지 않네요.
Tôi cười:
→ 나는 웃으며 말했다.
– Vì anh phải tù trong cái hang của lão chim Trả, lâu không biết mấy mùa sương nắng đã qua,
→ – 그 새의 굴에 갇혀 지내면서 얼마나 많은 계절이 지나갔는지도 모르게 햇빛과 바람을 보지 못했기 때문이야.
nên thân mình anh mới bệch một vẻ công tử bột như thế.
→ 그래서 이렇게 창백하고 마치 곱게 자란 사람처럼 보이는 거지.
Chắc chỉ dầu dãi ít lâu thì lại như thường thôi,
→ 하지만 조금만 더 밖에서 지내면 곧 예전처럼 돌아올 거야.
bởi vì sức khoẻ anh thì vẫn nguyên và tấm lòng anh thì đương hăng hái lắm.
→ 내 건강은 여전히 좋고, 내 마음은 지금도 매우 열정적이니까.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823




