TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ Truyện ngắn DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ (Chương 5)

TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA

LÊ HUY KHOA

TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW

TÔ HOÀI

DẾ MÈN

PHIÊU LƯU KÍ

 

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Đàng Thị Thúy Nga – CSTT Kanata Thủ Đức

 

 

Chương 5: Một sự vô ý rất nguy hiểm – Ðịa thế và tình hình các xóm lầy lội – Vì lẽ gì mà Mèn và Trũi trốn đi được?

 

Đi lùi về phía sau hang tôi, có một cánh đồng lớn.
→ 내 굴 뒤쪽으로 물러나 가면, 넓은 들판이 하나 있다.

Trèo lên ngọn cỏ lau cao nhất, ngước mắt trông chỉ thấy xa tít tắp mà chẳng thấy chân trời.
→ 가장 높은 갈대 끝에 올라 눈을 들어 바라보면, 아득히 멀기만 할 뿐 지평선은 보이지 않는다.

Khởi đầu, chúng tôi định đi suốt cánh đồng và bãi hoang.
→ 처음에 우리는 그 들판과 황무지를 끝까지 가 보려고 했다.

Chúng tôi, ngày đi đêm nghỉ, cùng nhau say ngắm dọc đường.
→ 우리는 낮에는 걷고 밤에는 쉬며, 길을 따라 함께 경치에 흠뻑 빠져 감상했다.

Non sông và phong tục, mỗi nơi mỗi lạ, mỗi bước rời chân mỗi thấy tuyệt vời.
→ 산천과 풍속은 가는 곳마다 새로웠고, 한 걸음 옮길 때마다 감탄이 절로 나왔다.

Nhìn không biết chán.
→ 아무리 봐도 싫증이 나지 않았다.

Mỏi chẳng muốn dừng.
→ 피곤해도 멈추고 싶지 않았다.

Bạn đọc yêu quý, thật có đi, có trải, còn như ro ró cái thân sớm chiều ngơ ngẩn góc bãi cửa hang thì sao hiểu được trời đất, bến bờ là đâu.
→ 사랑하는 독자여, 직접 가 보고 겪어 보아야 알 수 있는 것이다. 이렇게 아침저녁으로 굴 입구 한쪽에만 웅크리고 있다면, 어찌 세상과 그 끝을 알 수 있겠는가.

Ngày kia, chúng tôi mê mải đi, tối lúc nào không biết.
→ 어느 날 우리는 정신없이 걷다가 언제 날이 저문 줄도 몰랐다.

Một lúc, mặt trăng trắng bạch từ từ nhô lên.
→ 얼마 지나지 않아, 하얗게 빛나는 달이 서서히 떠올랐다.

Đêm ấy, trăng sáng lắm.
→ 그날 밤은 달빛이 무척 밝았다.

Tôi bàn với Trũi, nhân đêm sáng trăng, trời đẹp và mát, ta cứ đi, không cần ngủ đỡ.
→ 나는 쯔이와 상의했다. 이렇게 달이 밝고 날씨도 좋고 시원하니, 그냥 계속 가고 굳이 자지 말자고 했다.

Nhưng nửa đêm, nổi cơn mưa lớn.
→ 하지만 한밤중에 갑자기 큰 비가 쏟아졌다.

Chúng tôi ẩn lại dưới tàu lá chuối, cả đêm nghe mưa rơi như đánh trống trên đầu.
→ 우리는 바나나 잎 아래에 몸을 숨기고, 밤새 머리 위에서 북을 치듯 쏟아지는 빗소리를 들었다.

Sáng hôm sau, bừng mắt dậy, trời đã tạnh hẳn.
→ 다음 날 아침 눈을 떠 보니, 비는 완전히 그쳐 있었다.

Tôi nhìn ra trước mặt, thấy một làn nước mưa mới chảy veo veo giữa đôi bờ cỏ.
→ 나는 앞을 바라보니, 풀 사이 두 둑 사이로 맑은 빗물이 졸졸 흐르고 있었다.

Đây là con sông mà đêm qua chúng tôi không rõ.
→ 이것이 바로 어젯밤 우리가 미처 알아보지 못했던 강이었다.

Tôi bảo Trũi: “Xem như dòng sông này chảy ngoặt về phía bên kia, tức là cũng dọc theo đường mà chúng ta định đi. Mấy hôm chúng mình quốc bộ đã nhiều, bây giờ ta thử xuống sông đi thuỷ một chuyến. Trũi nghĩ thế nào? Cũng phải tập cho quen sông nước chứ!”
→ 나는 쯔이에게 말했다. “이 강물이 저쪽으로 굽어 흐르니, 우리가 가려던 길과도 나란히 이어지는 셈이야. 며칠 동안 우리는 걸어서 많이 이동했으니, 이제는 강으로 내려가 물길을 따라 한번 가 보자. 쯔이는 어떻게 생각해? 물에도 익숙해져야지!”

Trũi nghe ngay. Trũi bàn mỗi đứa nên đi một chiếc thuyền bằng lá sen thật khô.
→ 쯔이는 곧바로 동의했다. 그리고 우리 각자가 아주 잘 마른 연잎으로 만든 배 하나씩 타자고 했다.

Mùa nước lớn muộn này cái giống sen nhật trôi lang thang mặt nước vẩn vơ như chim vỡ tổ.
→ 이 늦은 홍수철에는 이런 연잎들이 둥지를 잃은 새처럼 물 위를 이리저리 떠다니고 있었다.

Mỗi chiếc lá có một bầu phao khô to như quả trứng, cưỡi lên thì nhẹ và êm lắm.
→ 잎 하나마다 달걀만 한 마른 부표가 있어서, 올라타면 가볍고 아주 편안했다.

Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng tôi bàn thêm: lấy vài lá sen nhật ghép lại đóng thành bè đi chung, tiện lợi hơn nhiều.
→ 나도 그렇게 생각했다. 하지만 나는 몇 장의 연잎을 이어 붙여 함께 탈 수 있는 뗏목을 만들자고 덧붙였다. 그러면 훨씬 편리할 것 같았다.

Chúng tôi bèn ghép ba bốn cánh sen nhật lại, làm một chiếc bè.
→ 그래서 우리는 서너 장의 연잎을 이어 붙여 하나의 뗏목을 만들었다.

Bè chúng tôi theo dòng trôi băng băng.
→ 우리의 뗏목은 물살을 따라 쏜살같이 흘러갔다.

Mùa thu mới chớm nhưng nước đã trong vắt.
→ 가을이 막 시작되었지만 물은 벌써 맑고 투명했다.

Trông thấy cả hòn cuội trắng tinh nằm dưới đáy.
→ 바닥에 하얗게 빛나는 조약돌까지 훤히 보였다.

Nhìn hai bên ven sông, phong cảnh thay đổi đủ điều ngoạn mục.
→ 강 양쪽을 바라보면 풍경이 매우 다채롭고 인상적으로 변해 갔다.

Cỏ cây và những làng xa gần, núi xa luôn luôn mới.
→ 풀과 나무, 가까운 마을과 먼 마을, 그리고 멀리 보이는 산까지 늘 새롭게 느껴졌다.

Những anh Gọng Vó đen xạm, gầy và cao, nghênh cặp chân gọng vó đứng trên bãi lầy nhìn theo hai tôi, ra lối bái phục.
→ 검게 그을리고 마르고 키 큰 장구벌레들이 긴 다리를 꼿꼿이 세운 채 늪지에 서서 우리 둘을 바라보며 감탄하는 듯했다.

Những ả Cua Kềnh cũng giương đôi mắt lồi, tình tứ và âu yếm ngó theo hai tôi với muôn vẻ quý mến.
→ 커다란 게들도 튀어나온 눈을 치켜뜨고 다정하고 애정 어린 눈빛으로 우리를 바라보며 여러 가지 방식으로 호감을 드러냈다.

Đàn Săn Sắt và cá Thầu Dầu thoáng gặp đâu cũng lăng xăng cố bơi theo bè hai tôi hoan nghênh váng cả mặt nước.
→ 떼 지어 다니는 작은 물고기들과 기름고기들도 어디서든 우리를 만나면 부산스럽게 헤엄치며 우리의 뗏목을 따라와 물결을 떠들썩하게 만들었다.

Cứ đi chứng gần nửa buổi, Trũi lại lái bè vào bờ để tìm cỏ ăn.
→ 한참 가다가 거의 반나절쯤 되면 쯔이는 다시 뗏목을 강가로 몰아 풀을 먹으려 했다.

Cái lối vừa đi vừa nghỉ ấy mất thì giờ quá.
→ 이렇게 가다가 쉬고 또 가는 방식은 시간이 너무 많이 들었다.

Chúng tôi định đi một thôi nhiều ngày mới lại tạt vào bờ.
→ 우리는 며칠 동안 계속 가다가 그제야 다시 강가에 들르기로 했다.

Nên một lần, Trũi ghé bên một bụi cỏ thật tốt hái xuống đầy một bè cỏ non.
→ 그래서 어느 날 쯔이는 좋은 풀숲에 들러 어린 풀을 한가득 따서 뗏목 위에 실었다.

Chúng tôi yên trí.
→ 우리는 안심했다.

Sang đêm thứ ba, trời tối đen như mực.
→ 셋째 날 밤이 되자 하늘은 먹처럼 캄캄해졌다.

Tôi ngồi phục vị, nghe nước óc ách chảy dưới gậm bè mà ngủ quên lúc nào không biết.
→ 나는 자리를 잡고 앉아 뗏목 아래로 찰박거리며 흐르는 물소리를 듣다가 어느새 잠이 들어 버렸다.

Khi trở dậy trời đã sáng
→ 깨어났을 때는 이미 날이 밝아 있었다.

Chao ôi! Nhìn ra xung quanh, tôi sợ không biết để đâu cho hết!
→ 아이고! 사방을 둘러보니, 이 두려움을 어떻게 해야 할지 모르겠다!

Quay sang bên cạnh, thấy Trũi cũng đứng đờ ra: hai râu hắn hơi đụng đậy, chắc cu cậu đứng run.
→ 옆을 돌아보니 쯔이도 멍하니 서 있었다. 그의 더듬이가 살짝 떨리는 걸 보니, 분명 떨고 있는 듯했다.

Cái nơi mà bè chúng tôi đang trôi, không phải là dòng sông hôm qua nữa, dòng hôm qua có hai bờ cỏ non.
→ 우리가 떠내려가고 있는 이곳은 어제의 그 강이 아니었다. 어제의 강에는 양쪽에 풀밭이 있었는데 말이다.

Chỗ này không biết phía nào là bờ nữa!
→ 이곳은 어느 쪽이 강가인지조차 알 수 없었다!

Nó mênh mang như bể.
→ 마치 바다처럼 끝없이 넓었다.

Nghĩa là chúng tôi từ sông nhỏ mà thoát ra ngoài hồ lớn từ đêm hôm qua.
→ 즉, 우리는 어젯밤 사이에 작은 강을 벗어나 큰 호수로 흘러나온 것이었다.

Tôi sục sạo tìm trong bè, xem có một vật gì khả dĩ dùng làm bơi chèo được, chẳng có chi.
→ 나는 뗏목 안을 뒤져 보며 노로 쓸 만한 것이 있는지 찾아봤지만, 아무것도 없었다.

Trừ mấy cái sống lá cỏ và một ít cỏ, đủ ăn một ngày.
→ 그저 몇 개의 풀줄기와 하루치 먹을 풀 조금이 있을 뿐이었다.

Trũi ra vẻ tuyệt vọng.
→ 쯔이는 절망한 표정을 지었다.

Bây giờ lênh đênh giữa nước, chỉ đành nhờ gió đưa vào bờ thôi.
→ 이제 물 위를 떠다니는 처지가 되어, 바람이 우리를 강가로 데려다주길 바랄 수밖에 없었다.

Đưa vào bờ còn phúc, nếu gió cứ mãi đẩy bè ra khơi, thì thật chết ngáp mất.
→ 강가로 보내 준다면 다행이지만, 바람이 계속 우리를 바다 쪽으로 밀어낸다면 정말 죽을 수밖에 없었다.

Chúng tôi đành nằm yên, chờ sự may rủi.
→ 우리는 그저 가만히 누워 운에 맡길 수밖에 없었다.

Sóng hồ đánh quá cao.
→ 호수의 파도는 너무 높았다.

Bè chúng tôi rập rềnh đưa từ ngọn sóng đến cuối sóng, nhiều lúc tưởng như đã ngụp vào trong nước.
→ 우리의 뗏목은 파도 위에서 아래로 크게 흔들리며, 때로는 물속으로 잠길 것처럼 보였다.

May mà được cái bè nó rất nhẹ, nên tuy nước dữ, song cũng không làm chết nổi chúng tôi.
→ 다행히도 뗏목이 매우 가벼워서 물살이 거셌지만 우리를 해치지는 못했다.

Nhưng có một điều mà tôi quên chưa nói cùng bạn đọc.
→ 그런데 독자에게 아직 말하지 않은 것이 하나 있다.

ấy là cái dạ dày của chúng tôi, và thú thật nó chóng lép ghê lắm.
→ 바로 우리의 위장이었는데, 솔직히 말해 금세 배가 고파졌다.

Một ngày chúng tôi phải dùng tới ba bữa là ít.
→ 우리는 하루에 적어도 세 끼는 먹어야 했다.

Nếu chỉ để sớm ngày hôm sau nữa thì trong bè tận nhẵn cả cỏ.
→ 만약 다음 날 아침까지 버틴다면, 뗏목 위의 풀은 모두 바닥나 버릴 것이었다.

Mà xung quanh tôi vẫn mênh mang những nước, chưa trông thấy bến bờ nào hết.
→ 그런데도 사방은 여전히 물뿐이었고, 어떤 강가도 보이지 않았다.

Trũi nhìn tôi, thở dài.
→ 쯔이는 나를 바라보며 한숨을 쉬었다.

Tôi phải làm ra mặt vui để hắn yên lòng.
→ 나는 그를 안심시키기 위해 일부러 밝은 표정을 지었다.

Tôi vũ cánh, múa càng.
→ 나는 날개를 퍼덕이고 집게발을 흔들며 춤을 췄다.

Vừa khiêu vũ vừa hát nghêu ngao.
→ 춤을 추면서 콧노래를 흥얼거렸다.

Qua ngày sáng thứ hai thì tôi hết cả hơi.
→ 이틀째 아침이 되자 나는 완전히 기운이 빠져 버렸다.

Mỗi khi há mồm, ruột đói như muốn co lên.
→ 입을 벌릴 때마다 배가 고파 창자가 오그라드는 것 같았다.

Trũi tìm cách ngậm nhấm những mép lá sen Nhật khô.
→ 쯔이는 마른 연잎 가장자리를 씹어 먹어 보려 했다.

Nhưng ăn những thức đó, khác gì ăn gỗ, không thể chịu được.
→ 하지만 그런 것을 먹는 건 나무를 씹는 것과 다름없어 도저히 견딜 수 없었다.

Vừa đói vừa mệt, mà chúng tôi không dám nhắm mắt ngủ, sợ rằng nếu chợp mắt đi, ngộ nhỡ có con cá lớn nào phá bè thì nguy lớn.
→ 배고프고 지쳤지만 우리는 감히 눈을 붙일 수 없었다. 혹시 잠깐이라도 잠들었다가 큰 물고기가 뗏목을 부수기라도 하면 큰일이었기 때문이다.

Ngày thứ ba, vẫn một màu trắng.
→ 사흘째, 여전히 온통 하얗기만 했다.

Ngày thứ tư, vẫn một màu trắng.
→ 나흘째도 여전히 같은 하얀 풍경뿐이었다.

Sang ngày thứ năm chúng tôi không thể nào đứng lên được nữa.
→ 닷새째가 되자 우리는 더 이상 일어설 수도 없었다.

Cái đói ghê gớm là cho chúng tôi bại hẳn sức.
→ 지독한 허기가 우리를 완전히 무기력하게 만들었다.

Muốn từ chỗ này qua chỗ khác, chúng tôi phải lê nhích từng tý một.
→ 이곳에서 저곳으로 움직이려면 우리는 조금씩 몸을 끌어야만 했다.

Bấy giờ Trũi mới khẽ nói: “Chết mất, anh ạ!”
→ 그때서야 쯔이가 힘없이 말했다. “형, 우리 죽겠어요!”

Tôi cười: “Chú đừng lo. Tôi xem đêm nay có hy vọng đổi gió lắm. Gió mà đưa ta về cái bờ xanh xanh kia là sống rồi!”
→ 나는 웃으며 말했다. “걱정 마. 오늘 밤에는 바람이 바뀔 것 같아. 저 푸른 강가로 우리를 데려다주기만 하면 살 수 있어!”

Đến chiều hôm ấy, muốn nói với nhau đôi câu chuyện, chúng tôi phải ghé sát nhau, mới đủ nghe tiếng.
→ 그날 저녁이 되자 서로 몇 마디 말을 나누려면 바짝 다가서야 겨우 들을 수 있을 정도였다.

Trũi băn khoăn. Trũi hay nhìn trộm tôi, tôi đoán thế, tôi hỏi luôn:
→ 쯔이는 고민에 빠진 듯했다. 나를 자꾸 흘끔흘끔 쳐다보는 것 같아, 나는 짐작하고 곧바로 물었다.

– Chú sắp có mưu gì bàn cùng anh?
→ “무슨 생각이 있어서 나와 상의하려는 거냐?”

Trũi lắc đầu. Nhưng lát sau, Trũi nói:
→ 쯔이는 고개를 저었다. 그러나 잠시 후 말했다.

– Thưa anh, em nghĩ anh em mình khó lòng thoát chết.
→ “형님, 저는 우리가 살아남기 어려울 것 같습니다.”

Tôi gạt:
→ 나는 이를 부정하며 말했다.

– Chú đừng nghĩ thế mà nản lòng anh em ta.
→ “그렇게 생각해서 우리 둘 다 기운을 잃으면 안 된다.”

Trũi tiếp:
→ 쯔이는 이어서 말했다.

– Anh mắng thì em cũng nói. Em tuyệt vọng rồi, mắt em mờ đi rồi đây này.
→ “형님이 뭐라 하셔도 저는 말하겠습니다. 저는 이미 절망했습니다. 보세요, 제 눈이 벌써 흐려지고 있습니다.”

Trũi im một lát rồi lại thều thào:
→ 쯔이는 잠시 말이 없더니 다시 힘없이 중얼거렸다.

– Em trộm nghĩ chết thì đành chết. Nhưng không nên chết cả, vô ích, ta phải tìm cách…
→ “제가 생각하기에는 죽는다면 어쩔 수 없지만, 둘 다 죽는 건 헛된 일입니다. 방법을 찾아야 합니다…”

Tôi hỏi:
→ 나는 물었다.

– Chú nói như vậy nghĩa là sao?
→ “그게 무슨 뜻이냐?”

Trũi ngập ngừng:
→ 쯔이는 머뭇거리며 말했다.

– Nghĩa là…Nghĩa là…ta tìm thứ gì tạm ăn cho sống được. Em có đôi càng…anh…
→ “그게… 그러니까… 우리가 잠시라도 살아남을 수 있도록 먹을 것을 찾아야 합니다. 저는 집게발이 있고… 형님은…”

Tôi ngắt lời:
→ 나는 말을 끊었다.

– Thôi anh hiểu bụng chú rồi. Chú cứ nghĩ rằng không nhẽ anh em ta lại chịu chết lênh đênh cả như thế này, mà phải cứu sống lấy một. Chú định để anh ăn thịt chú, chú chịu hy sinh cho anh sống. Ta khen chú điều thủy chung. Nhưng em ơi! Tử sinh là lẽ thường mà mạng em cũng như mạng anh, đều quý cả. Huống chi, chẳng lẽ chúng ta chịu nằm chết đói trên mặt nước này? Dù thế nào cũng không bao giờ nản chí…
→ “됐다, 나는 네 마음을 알겠다. 너는 우리가 이렇게 떠돌다가 함께 죽을 수는 없으니, 한 사람이라도 살려야 한다고 생각하는 거지. 그래서 내가 너를 먹고 살아남기를 바라는 거고, 너는 나를 위해 희생하려는 거다. 그 마음은 참으로 기특하다. 하지만, 생과 사는 자연의 이치이고, 네 목숨도 내 목숨도 모두 소중하다. 더구나 우리가 이렇게 물 위에서 굶어 죽을 수는 없지 않느냐? 어떤 상황에서도 절대로 포기해서는 안 된다…”

Trũi cứ khẩn khoản rồi chìa càng lên mời tôi ăn.
→ 쯔이는 계속 간절히 애원하며 집게발을 내밀어 나에게 먹으라고 했다.

Trũi gượng cười bảo rằng Trũi cụt cả hai càng cũng không sao, không thể chết, vẫn khoẻ như thường.
→ 쯔이는 억지로 웃으며, 두 집게발이 없어져도 괜찮고 죽지 않으며 여전히 건강할 것이라고 말했다.

Trũi đã thấy có anh dế cụt càng như thế.
→ 쯔이는 그런 상태로도 살아가는 다른 곤충을 본 적이 있다고 했다.

Tôi gạt phắt đi và mắng Trũi.
→ 나는 단호히 거절하며 쯔이를 꾸짖었다.

Sau cùng anh em tôi ôm nhau mà khóc.
→ 결국 우리는 서로 끌어안고 울었다.

Những giọt nước mắt thương nhau ấy đã làm Trũi yên tâm và bình tĩnh trở lại.
→ 서로를 아끼는 그 눈물이 쯔이를 안심시키고 다시 평정을 되찾게 했다.

Đêm ấy, trời trở gió, chơ vơ giữa trời nước, gió lại thổi nhiều, lạnh quá.
→ 그날 밤 바람이 바뀌어, 하늘과 물 사이에 외로이 떠 있는 우리는 거센 바람에 시달리며 몹시 추웠다.

Chúng tôi nằm co quắp vào nhau.
→ 우리는 서로 몸을 웅크리고 붙어 누웠다.

Trũi ngửa mặt lên trời, gần như ngất đi.
→ 쯔이는 얼굴을 하늘로 향한 채 거의 기절한 듯했다.

Họ dế chúng tôi, ai cũng vậy, chỉ có khi sắp chết thì mới chịu phải nằm ngửa.
→ 우리 같은 곤충들은 누구나 마찬가지로, 죽음이 가까워져야 비로소 등을 대고 눕는다.

Bây giờ thấy Trũi như thế, tôi đã lo lo.
→ 지금 쯔이의 그런 모습을 보니 나는 불안해졌다.

Tôi sờ lên mặt Trũi xem còn thở không, rồi lay gọi, mãi Trũi mới ú ớ tỉnh.
→ 나는 쯔이의 얼굴을 만져 숨이 붙어 있는지 확인하고 흔들어 깨웠다. 한참 뒤에야 쯔이는 희미하게 정신을 차렸다.

Trời nghe trở gió ầm ầm trên mặt nước.
→ 바람이 물 위에서 요란하게 울부짖는 소리가 들렸다.

Tôi chợt nảy cái mừng vu vơ: ” Có lẽ gió này đưa chúng tôi vào bờ. Có lẽ thế…Có lẽ…”
→ 나는 문득 막연한 희망이 떠올랐다. “이 바람이 우리를 강가로 데려다줄지도 몰라. 그럴지도… 아마도…”

Tôi chợp mắt, cũng chiêm bao thấy thế.
→ 나는 잠깐 눈을 붙였고, 꿈속에서도 그렇게 되기를 보았다.

Tới nửa đêm, tôi cũng mệt quá, thiếp đi.
→ 한밤중이 되자 나 역시 너무 지쳐 깊이 잠들었다.

Sớm sau, nghe đầu bè có tiếng động rền như tiếng sấm.
→ 다음 날 아침, 뗏목 앞쪽에서 천둥 같은 굉음이 들려왔다.

Tôi thức dậy, hé cặp mắt nặng nề.
→ 나는 잠에서 깨어 무거운 눈을 겨우 떴다.

Nhưng mắt vừa hé đã bị chói đầy ánh sáng mặt trời.
→ 그러나 눈을 막 뜨자마자 눈부신 햇빛에 시야가 가려졌다.

Tôi nhích đầu lên – cổ đây như bị ai cứa – tôi thấy ngợp mắt một bờ cỏ xanh rì.
→ 나는 머리를 겨우 들어 올렸다. 목이 마치 베인 듯 아팠다. 그러자 눈앞에 푸르게 우거진 풀밭이 펼쳐졌다.

Thì ra bè chúng tôi, từ lúc nào đã trôi vào gần một bờ cỏ, cái tiếng sấm đằng kia vang lại chỉ là những tiếng động quen thuộc của làng xóm đằng ấy đương rộn rã trong một ngày nắng.
→ 알고 보니 우리의 뗏목은 어느새 풀밭이 있는 강가 가까이 흘러와 있었다. 저쪽에서 들리던 천둥 같은 소리는, 사실은 햇살 좋은 날에 분주하게 움직이는 마을의 익숙한 소리였다.

Tôi bò đến lay Trũi. Trũi vẫn nằm nhuôi như chết.
→ 나는 기어가서 쯔이를 흔들었다. 쯔이는 죽은 듯 축 늘어져 있었다.

Tôi phải nghe và đập vào ngực xem còn thở không. Vẫn còn.
→ 나는 숨이 붙어 있는지 확인하려고 가슴에 귀를 대고 두드려 보았다. 아직 숨은 쉬고 있었다.

Tôi cúi xuống ngậm nước phun vào mặt Trũi.
→ 나는 몸을 숙여 물을 머금고 쯔이의 얼굴에 뿜었다.

Chốc Trũi hắt xì hơi liền ba cái.
→ 잠시 후 쯔이는 연달아 세 번 재채기를 했다.

Vừa tỉnh, mắt còn nhắm, Trũi đã rền rĩ kêu.
→ 막 깨어나면서도 눈을 채 뜨지 못한 채 쯔이는 신음하듯 소리를 냈다.

Tôi trỏ vào bờ xanh xanh.
→ 나는 푸른 강가를 가리켰다.

Trũi nghển cổ nhìn rồi rú lên.
→ 쯔이는 목을 길게 빼고 바라보더니 소리치며 외쳤다.

Trông thấy sống.
→ 살 길이 보인 것이다.

Thế là tự nhiên chúng tôi khỏe hẳn hơn lúc nãy.
→ 그러자 우리는 갑자기 아까보다 훨씬 기운이 나는 것 같았다.

Nhưng cũng phải đến chiều, bè chúng tôi mới giạt vào và bấy giờ chúng tôi mới lên được bờ.
→ 그러나 오후가 되어서야 뗏목이 강가로 밀려와, 그때서야 우리는 육지에 오를 수 있었다.

Bè vào sát bụi cỏ, tôi túm lấy leo.
→ 뗏목이 풀숲 가까이 닿자 나는 그것을 붙잡고 기어올랐다.

Trũi cũng làm như tôi, không đến nỗi rơi xuống nước.
→ 쯔이도 나를 따라 했고, 물에 빠지지 않고 무사히 올라왔다.

Chúng tôi lên bờ, để lại đằng sau chiếc bè trống không nhẹ bỗng, vụt cái, trôi vèo vèo vào gió nước.
→ 우리는 강가에 올라섰고, 뒤에는 텅 빈 가벼운 뗏목이 순식간에 바람과 물결을 따라 멀리 흘러갔다.

Bè ơi bè, từ nay giã biệt mày.
→ 뗏목아, 이제 너와는 작별이다.

Tôi cúi xuống gặm miếng cỏ.
→ 나는 몸을 굽혀 풀 한 입을 베어 물었다.

Bên cạnh, Trũi húc đầu hi húi ngồm ngoàm ngốn tự lúc nào.
→ 옆에서는 쯔이가 머리를 들이밀고 어느새 정신없이 허겁지겁 먹고 있었다.

Thứ cỏ đó, cỏ nước.
→ 그 풀은 물풀이었다.

Lá cứng nhiều gân và ngăm ngăm đắng.
→ 잎은 질기고 결이 많으며 약간 쓴맛이 났다.

Phải như mọi ngày, tôi chẳng thèm ghé răng.
→ 평소 같았으면 나는 입도 대지 않았을 것이다.

ấy vậy mà lúc đó chén ngon đáo để.
→ 그런데 그때는 아주 맛있게 느껴졌다.

Thế mới biết, đã đói, nuốt đất cũng thấy được.
→ 그래서 배가 고프면 흙이라도 먹을 수 있다는 것을 알게 되었다.

Ăn xong, trời đổ tối.
→ 식사를 마치자 날이 어두워졌다.

Cẩn thận, chúng tôi chạy một mạch vào trong đề phòng nếu đêm có mưa, nước lớn không cuốn chúng tôi đi được.
→ 우리는 조심스럽게 안쪽으로 한달음에 달려가 밤에 비가 오거나 물이 불어도 떠내려가지 않도록 대비했다.

Đến bãi cỏ trên mô đất cao, chúng tôi lăn ra đánh giấc say sưa.
→ 높은 둔덕 위의 풀밭에 이르자 우리는 그대로 쓰러져 깊이 잠들었다.

Sáng hôm sau, tôi trèo lên ngọn hoa cỏ xước, ngắm địa thế chỗ chúng tôi bạt phong vào.
→ 다음 날 아침, 나는 가시풀 꼭대기에 올라 우리가 바람에 밀려온 이곳의 지형을 살펴보았다.

Đó là khoảng bãi rộng, lầy lội bùm tum toàn giống cỏ nước.
→ 그곳은 넓게 펼쳐진 늪지로, 온통 물풀로 가득 차 있었다.

Quá phía trên, đất hơi ráo, nhưng cũng chỉ độc một thứ cây ké hoa vàng rượi.
→ 그보다 위쪽은 땅이 조금 마른 편이었지만, 노란 꽃이 피는 한 가지 식물만 자라고 있었다.

Xóm ấy xưa rày sống vất cả trong bùn lầy nước đọng.
→ 그 마을은 예로부터 늘 진흙과 고인 물 속에서 힘겹게 살아왔다.

Dân cư chỉ có vài nhà Cóc, mấy anh ễnh Uơng, Chẫu Chàng, Nhái Bén, một ếch Cốm và một chú Rắn Mòng.
→ 주민이라고는 두꺼비 몇 집과 개구리들, 청개구리, 작은 개구리들, 한 마리 어린 개구리, 그리고 물뱀 한 마리뿐이었다.

Hoặc giả cũng có thêm một vài giống nữa, nhưng cả cái xóm bùn lội đen ngòm với da dẻ chân tay loài ở bùn cũng om như thế, ít ai mới nhìn đã phân biệt ngay ra được.
→ 어쩌면 다른 종류도 더 있었을지 모르지만, 온통 검은 진흙 속에서 사는 이들의 몸빛도 비슷하게 어두워서, 처음 보면 구별하기가 쉽지 않았다.

Xóm ở chơ vơ trong cái cù lao giữa nước, muốn vào đất liền phải qua bãi lầy và một dòng sông nhỏ.
→ 그 마을은 물 한가운데 있는 작은 섬처럼 외따로 떨어져 있어, 육지로 나가려면 늪지와 작은 강을 건너야 했다.

Theo thói quen ở bãi, vả lại, đường sá đi lại diệu vợi, mọi nhà trong cù lao không mấy ai ra ngoài, không ai nghe biết tin tức mọi nơi.
→ 이런 환경에 익숙해진 데다 길도 멀고 험해서, 섬 안의 주민들은 거의 밖으로 나가지 않았고, 다른 곳의 소식도 알지 못했다.

Suốt ngày bàn tán quanh quẩn lúc nào cũng vang động tiếng cãi cọ, tranh nhau đoán suông xem bao giờ thì trời mưa.
→ 하루 종일 별다른 일 없이 떠들썩하게 수다를 떨며, 언제 비가 올지를 서로 제멋대로 추측하고 다투곤 했다.

Suốt đời họ mong mưa.
→ 그들은 평생 비가 오기만을 바랐다.

Bởi có mưa, đất lầy nhuyễn ra, dễ đào bới, mới được cái ăn.
→ 비가 오면 진흙이 부드러워져 파헤치기 쉬워지고, 그래야 먹을 것을 구할 수 있기 때문이다.

Cứ điều qua tiếng lại, mỗi miệng thêm một lời, không ai nhịn ai, uồm uồm oang oang mãi lên.
→ 말이 오가며 서로 한마디씩 더 보태고, 아무도 물러서지 않아 목소리는 점점 커져 계속 떠들썩했다.

Cánh này đã to tiếng thì thì phải biết là ầm ĩ.
→ 이들이 한 번 목소리를 높이면 정말 소란스럽기 그지없었다.

Mới có cậu ễnh ương căng mép, phình bụng chỉ nói một câu bình thường cũng váng tai cả xung quanh rồi.
→ 특히 어떤 개구리는 입을 벌리고 배를 부풀린 채 평범한 말 한마디만 해도 주변이 귀가 울릴 정도였다.

Chúng tôi vào đây, nghe loạn xạ, mà đi một lúc chưa gặp ai.
→ 우리는 이곳에 들어와 소란스러운 소리만 들릴 뿐, 한참을 걸어도 아무도 만나지 못했다.

Mãi sau có anh Rắn Mòng trông thấy chúng tôi.
→ 한참 뒤에야 물뱀 한 마리가 우리를 발견했다.

Rắn Mòng ngoe nguẩy trườn ra – chỉ có trẻ em nhút nhát thì sợ Rắn Mòng chứ thật ra anh Rắn Mòng hiền như cái đụn rạ.
→ 그 물뱀은 몸을 흔들며 기어 나왔다. 겁 많은 어린아이들만 무서워할 뿐, 사실 그는 볏짚 더미처럼 온순한 존재였다.

Không ai thấy anh nói bao giờ, tưởng câm, nhưng anh ấy chỉ có tính ít nói thôi.
→ 아무도 그가 말하는 것을 본 적이 없어 벙어리로 여겼지만, 사실은 그저 말수가 적을 뿐이었다.

Hàng ngày, anh Mòng vơ vẩn trên mặt nước đợi mồi.
→ 그는 늘 물 위를 떠돌며 먹이를 기다렸다.

Một Muỗi Mắt, một gã Bọ Bèo lạc tới, anh tợp ngay.
→ 모기나 물벌레가 우연히 다가오면 곧바로 잡아먹었다.

Nhưng thường đợi cả tháng cũng chẳng được cái tợp nào.
→ 그러나 보통은 한 달을 기다려도 한 번도 먹이를 잡지 못했다.

Mòng đương lúc đói, mới nghe tiếng chân chúng tôi đi tới liền bò ra.
→ 배고픈 상태였던 그는 우리의 발소리를 듣고 곧바로 기어 나왔다.

Nhưng khi thấy chúng tôi to lớn, chân càng gai ngạnh không thể là mồi của anh thì, thì Mòng lại cúp mắt xuống, nhìn chỗ khác và trườn đi.
→ 그러나 우리가 크고 집게발이 날카로워 먹잇감이 될 수 없다는 것을 알자, 그는 시선을 피하고 다른 곳을 보며 다시 기어갔다.

Sau có Nhái Bén trông thấy chúng tôi.
→ 그 후 작은 개구리 한 마리가 우리를 발견했다.

Nhái Bén tính nhau nhảu liền ra bảo ễnh ương đi rong khắp nơi đánh lệnh vang vang rao cho cả làng nước biết có người lạ vào địa phận.
→ 그 개구리는 성격이 급해 곧바로 나가 다른 개구리들에게 온 마을을 돌아다니며 크게 알리라고 했다. 낯선 이들이 들어왔다고 말이다.

Thế là, cả xóm lô nhô kéo ra.
→ 그러자 온 마을 사람들이 하나둘씩 몰려나왔다.

Trông những cái bụng lép và nét mặt vêu vao, tôi đoán biết họ kéo ra làm gì.
→ 그들의 홀쭉한 배와 초라한 얼굴을 보니, 왜 나왔는지 짐작할 수 있었다.

Họ ra xem chúng tôi có gì cho ăn hoặc chúng tôi có phải là thức ăn được không.
→ 그들은 우리가 먹을 것을 가지고 있는지, 아니면 우리가 먹잇감이 될 수 있는지를 확인하러 나온 것이었다.

Nhưng thấy chúng tôi sừng bướng, đầu mình bọc giáp sắt, chân mang khí giới nhọn hoắt thì họ lại lờ vờ lảng dần.
→ 그러나 우리가 단단하고 몸은 갑옷처럼 단단하며 다리에는 날카로운 무기가 달려 있는 것을 보자, 그들은 슬그머니 물러나 흩어졌다.

Đã lâu trời không mưa, không có nước dềnh vào xóm – nước hồ lâu mưa thì trong vắt, chỉ đẹp mắt mà không có thức gì ăn nên dân cư trong hồ đói lắm.
→ 오랫동안 비가 오지 않아 마을로 물이 불어나지 않았다. 비가 오래 오지 않은 호수의 물은 맑기만 하고 먹을 것이 없어, 그곳 주민들은 몹시 굶주리고 있었다.

Bao giờ cũng vậy, sự cùng quẫn hay khiến ta nghĩ ngợi và giận dữ.
→ 늘 그렇듯이, 궁핍함은 사람을 생각하게도 하지만 쉽게 화를 내게도 만든다.

Không biết vặc vào ai.
→ 누구에게 화를 내야 할지도 알 수 없었다.

Chẳng biết trời ở đâu mà lôi xuống bắt làm mưa – dù cho tiên sinh Cóc có được tiếng là cậu ông trời đi chăng nữa thì cũng đành chịu, cho nên họ đâm ra nóng tính, động một tí cũng cáu kỉnh, bực tức ầm cả lên.
→ 하늘이 어디 있는지도 몰라 끌어내려 비를 내리게 할 수도 없었다. 설령 두꺼비가 하늘의 사자라는 명성이 있다 해도 어쩔 수 없었기에, 그들은 점점 성질이 급해지고 사소한 일에도 쉽게 화를 내며 소란을 피웠다.

Trong xóm không lúc nào dứt tiếng chửi vã.
→ 마을에서는 욕설이 끊이지 않았다.

Nhà này đòi nợ nhà kia, chỗ này bàn, chỗ kia tán, inh ỏi những uôm oạp, những kèng kẹc ngày đêm không bao giờ ngớt, bởi vì không biết giải quyết thế nào.
→ 이 집은 저 집에 빚을 독촉하고, 여기저기서 수군거리며, 개구리 울음소리와 시끄러운 소리가 밤낮으로 끊이지 않았다. 해결할 방법을 모르기 때문이었다.

Thấy chẳng ăn thua gì, mấy anh nọ lảng đi như Rắn Mòng.
→ 별 소용이 없다고 생각한 몇몇은 물뱀처럼 슬그머니 자리를 떴다.

Chỉ còn đôi ba bác Cóc ngẩn ngơ đứng lại.
→ 몇몇 두꺼비들만 멍하니 남아 있었다.

Một Cóc tóp tép miệng, như tợp được mồi, vờ nhai cho đỡ thèm.
→ 한 두꺼비는 먹이를 잡은 것처럼 입을 오물거리며 허기를 달래는 척했다.

Một Cóc khác bước ra, cất lên một giọng rất văn vẻ ( Cóc vẫn nổi tiếng thầy đồ, thầy đồ Cóc trong tranh Tết ):
→ 또 다른 두꺼비 하나가 앞으로 나와 매우 점잖고 학식 있는 말투로 입을 열었다. (두꺼비는 예부터 학자처럼 여겨져 왔다.)

– Hà cớ mà nhị vị tráng sĩ du nhàn qua bản thôn?
→ “어찌하여 두 분 용사께서 한가로이 이 마을을 지나가시는 것이오?”

Rõ chán, nói chữ mà chưa chắc đã biết nghĩa, tôi bấm bụng nhịn cười thầy đồ Cóc rồi dùng cái khoa giao thiệp hoa mỹ khôi hài đó đáp đùa lại:
→ 참으로 우스운 일이다. 어려운 말을 쓰면서도 뜻은 제대로 아는지 의심스러웠다. 나는 웃음을 참고 그 두꺼비 선생의 화려하고 익살스러운 말투에 맞춰 장난스럽게 대답했다.

– Thưa tiên sinh, chúng tôi đi du lịch.
→ “선생님, 저희는 여행 중입니다.”

– Kèng kẹc! Du lịch! Kèng kẹc! Du lịch! Vậy bỉ phu xin hỏi nhị vị tráng sĩ, nhị vị xưa rày là tay dọc ngang nào biết trên đầu có ai, thế thì chắc nhị vị phải nghe tiếng từ lâu rằng bỉ phu mặc dầu thanh bạch ở hang dưới đất nhưng bỉ phu là cậu thằng Trời đấy! Nhị vị qua chơi nhiều nơi trên hoàn cầu, nhị vị có gặp thằng cháu “trời đánh thánh vật” nhà tôi ở đâu không?
→ “케엥 켁! 여행이라! 케엥 켁! 여행이라! 그렇다면 내가 두 분께 묻겠소. 두 분은 세상을 떠돌며 위에 누가 있는지도 모를 만큼 자유로운 분들이니, 아마 오래전부터 들으셨겠지요. 나는 비록 땅속 굴에 사는 청빈한 몸이지만, 하늘의 친척이오! 두 분이 세상을 두루 다니셨으니, 혹시 내 그 ‘하늘이 때려도 안 죽을’ 못된 조카를 어디서 보신 적이 있소?”

Trũi mỉm cười, dùng càng hích tôi một cái.
→ 쯔이는 미소를 지으며 집게발로 나를 툭 건드렸다.

Tôi nháy, ý bảo phải nghiêm một chút, gặp đứa dở hơi thì cũng cứ liệu lời cho qua chuyện mới được.
→ 나는 눈짓으로 좀 진지하게 대응하자고 신호를 보냈다. 이런 괴짜를 만나면 적당히 맞춰 넘기는 수밖에 없었다.

Tôi bèn lấy điệu vuốt râu tưởng tượng, làm vẻ đứng đắn trả lời rằng:
→ 나는 수염을 쓰다듬는 흉내를 내며 점잖은 척 대답했다.

– Thưa tiên sinh, chúng tôi có gặp ông Trời.
→ “선생님, 저희는 하늘님을 만난 적이 있습니다.”

– Kèng kẹc! Rất tiếc! Kèng kẹc! Rất tiếc không được tương kiến trước. Thế thì nếu như từ nay về sau nhị vị tráng sĩ có còn gặp nó thì hỏi nó cho bỉ phu rằng: Vì lẽ gì mà lâu nay bản thôn không có nước mưa? Cái thằng “trời đánh thánh vật” cháu tôi mê mải tổ tôm xóc đĩa ở đâu mà không biết suốt đêm cậu Cóc nó phải nghiến răng kèng kẹc đến nỗi đâu đâu cũng nghe như tiếng trống đăng văn ấy chăng, đến đỗi cậu nó đã nghiến mòn hết cả răng rồi đấy chăng?
→ “케엥 켁! 참으로 유감이오! 케엥 켁! 미리 만나보지 못한 것이 아쉽구려. 그렇다면 앞으로 두 분께서 다시 그 녀석을 만나게 된다면, 나 대신 물어봐 주시오. 어째서 이 마을에는 오랫동안 비가 내리지 않는 것이오? 그 ‘천벌을 받아 마땅한’ 내 조카 녀석이 어디서 도박에 빠져 있는지, 밤새도록 이 두꺼비가 이를 갈아 케엥 켁 소리를 내어 마치 북소리처럼 온 곳에 울려 퍼질 지경인데, 이제는 이가 다 닳아 없어질 판이오!”

Suýt nữa tôi bật cười thành tiếng.
→ 나는 하마터면 소리 내어 웃을 뻔했다.

Giỡn chơi thế chứ nào tôi biết cái lão Trời “trời đánh thánh vật” ấy ở mô tê!
→ 농담으로 맞장구쳤을 뿐이지, 그 ‘천벌 받아 마땅한’ 하늘님이 어디 있는지 내가 알 리가 없었다.

Tôi còn đương bụm miệng nhịn cười, nhưng Trũi đã ngứa tai không giữ nổi vai kịch, bỗng choang một câu:
→ 나는 여전히 입을 막고 웃음을 참고 있었지만, 쯔이는 더는 참지 못하고 갑자기 한마디 내뱉었다.

– Trời với đất, cậu với cháu, chỉ vớ vẩn! Nói thẳng thừng là muốn ăn mà chỉ ngửa tay thế thì kêu đến sái cổ, gãy răng, gãy hàm nữa cũng chẳng quả sung nào rụng trúng vào mồm đâu.
→ “하늘이니 뭐니, 삼촌이니 조카니, 다 헛소리야! 솔직히 말해 먹고 싶은데 가만히 손만 벌리고 있으면, 아무리 목이 쉬고 이가 부러져도 저절로 입에 들어오는 건 없다고!”

Cóc còn đương ngơ ngác nghe chưa thủng câu nói mỉa mai của Trũi, tôi đã chen vào, át đi, tôi cung kính, lễ phép nói to:
→ 두꺼비는 아직 쯔이의 비꼬는 말을 제대로 이해하지 못하고 멍하니 있었고, 나는 얼른 끼어들어 말을 덮으며 공손하게 크게 말했다.

– Thưa tiên sinh, tôi nhớ ra rồi, tôi nhớ dù chưa được tiên sinh dặn thế, chúng tôi cũng đã có tâu hỏi việc lâu nay sao hạ giới không mưa.
→ “선생님, 이제 생각이 났습니다. 선생님께서 부탁하시기 전이지만, 저희는 이미 왜 이곳에 오랫동안 비가 내리지 않는지 여쭈어 본 적이 있습니다.”

Ông Trời ông ấy cứ xua tay nhăn mặt mà rằng hồi này tôi mắc bận, chưa mưa được, chưa mưa, bận lắm lắm.
→ “하늘님께서는 손을 내저으며 얼굴을 찡그리며 요즘은 바빠서 비를 내릴 수 없다고, 아직 비를 내릴 수 없다고, 매우 바쁘다고 말씀하셨습니다.”

Việc ông Trời là việc làm mưa mà ông ấy lại kêu mắc bận, chẳng hiểu bận gì, tôi cũng chẳng hiểu ra sao cả, nhưng không dám hỏi nữa.
→ “하늘님의 일은 비를 내리는 것인데도 그렇게 바쁘다고 하시니 무엇이 그렇게 바쁜지 저도 이해할 수 없었지만, 더 이상 여쭙지는 못했습니다.”

Tôi nói thế, Cóc ta đã kêu kèng kẹc vẻ mãn nguyện, ầm ĩ:
→ 내가 이렇게 말하자, 두꺼비는 만족한 듯 케엥 켁 소리를 내며 요란하게 떠들어댔다.

– Bỉ phu hiểu rồi! Hiểu rồi! Hiểu rồi! Thế ra cháu nó bận quá đến nỗi quên cả cho cậu nó uống nước. Cháu nó bận quá! Có thế chứ! à ra thế! Thảo nào!
→ “내가 알겠소! 알겠소! 알겠소! 그 녀석이 너무 바빠서 삼촌에게 물 주는 것조차 잊어버린 것이로군! 바쁘긴 바쁜 모양이야! 그렇지! 아, 그래서 그렇구나! 그럴 만도 하지!”

Cóc cứ dấm dớ lý sự và lẩm nhẩm một mình nghĩ, một mình nói thế trong khi cả đàn cóc nhô nhốp nhảy ra lại nhảy vào, vừa kèng kẹc, vừa gật gù: Có thế chứ, à ra thế! Thảo nào!
→ 두꺼비는 그렇게 혼자서 억지를 부리며 중얼거렸고, 주변의 두꺼비 떼도 이리저리 뛰어다니며 “그렇지!”, “아, 그렇구나!”, “그럴 만하지!” 하며 케엥 켁 소리를 내며 고개를 끄덕였다.

Tự an ủi mình bằng câu chuyện tầm phơ của tôi.
→ 그들은 내 엉뚱한 이야기를 핑계로 스스로를 위로하고 있었다.

Các cậu cóc chỉ quanh quẩn xó hang mà khoái cái oai hờ “con cóc là cậu ông trời” là như thế.
→ 이 두꺼비들은 늘 굴 주변만 맴돌면서도 ‘두꺼비는 하늘의 친척’이라는 허세를 즐기고 있는 것이다.

Chúng tôi nhắm mắt, nhắm mũi lại lăn ra cười.
→ 우리는 눈과 코를 틀어막고 웃음을 터뜨렸다.

Đến khi mở được mắt, không thấy Cóc đâu nữa chỉ thấy đi tới một chàng Nhái Bén gầy, lêu đêu cao, hai cái đùi bé quắt mà dài quá nửa thân mình.
→ 눈을 떠 보니 두꺼비는 사라지고, 대신 마르고 키만 큰 개구리 한 마리가 다가오고 있었다. 그의 가느다란 두 다리는 몸의 절반 이상이나 길었다.

Bộ quần áo thể thao của Nhái Bén bó sát người, cứ so le, xộc xệch, càng có cảm tưởng như cái cẳng chân nó dài thêm ra.
→ 그 개구리는 몸에 딱 붙는 옷을 입고 있었는데, 삐뚤삐뚤하고 헐렁해 보여 오히려 다리가 더 길어 보였다.

Chúng tôi lại toan cười.
→ 우리는 또다시 웃음이 나오려 했다.

Nhưng mặt Nhái Bén vốn nhợt bây giờ nghiêm xám hẳn lại.
→ 그러나 그 개구리의 창백한 얼굴은 갑자기 굳어지며 더욱 어두워졌다.

Tôi im.
→ 나는 입을 다물었다.

Tôi ngờ có điều gì đây.
→ 나는 무언가 심상치 않은 일이 있음을 느꼈다.

Quả thật. Lão Cóc có tính khuyếch khoác chứ không phải lão Cóc là cục đất mà ai chửi vào mũi lão cũng được!
→ 과연 그렇다. 그 두꺼비는 허풍이 심한 편이지만, 그렇다고 아무에게나 욕을 들어도 가만히 있는 성격은 아니었다.

Còn có câu ví “gan cóc tía” cơ mà.
→ 게다가 ‘보라색 두꺼비의 간’이라는 말처럼, 그는 매우 대담한 성격이었다.

Lão cũng thâm lắm, cho nên sự chế giễu và nhạo báng lão của chúng tôi không qua nổi ý tứ lão, đến lúc chúng tôi nhắm mắt lại cười vào mũi lão như thế thì lão cáu lắm, và thành cái kết quả ngay là các lão đi khắp xóm là có kẻ trộm vào xóm.
→ 그는 속이 깊은 편이라 우리의 비웃음과 조롱을 모두 눈치채고 있었다. 우리가 눈을 감고 몰래 비웃자 그는 몹시 화가 났고, 그 결과 곧바로 온 마을에 도둑이 들어왔다고 떠벌리고 다녔다.

Nháy mắt, Nhái Bén nhảy thoắt đến trước mặt, nói:
→ 순식간에 그 개구리가 눈앞으로 뛰어와 말했다.

– Đại vương Ếch có lệnh đòi.
→ “개구리 대왕께서 부르십니다.”

Chúng tôi theo Nhái Bén đến dưới một búi cúc tần ẩm thấp, nhớp nháp, trông vào thấy ếch chồm chỗm ngồi vênh mõm trên viên gạch vuông như kiểu ngồi trên sập, ra điều uy nghi lắm.
→ 우리는 그 개구리를 따라 축축하고 질척한 풀숲 아래로 갔고, 그 안에는 개구리 왕이 네모난 벽돌 위에 앉아 마치 높은 자리에 앉은 듯 거만하게 턱을 치켜들고 있었다.

Đôi mắt lồi nghiêm nghị của lão ta cứ giương trừng trừng.
→ 그의 튀어나온 눈은 엄숙하게 부릅뜨고 있었다.

Hai khoeo chân trước khoảnh ra, đôi chân sau xếp tè he lại.
→ 앞다리는 벌리고, 뒷다리는 접어 앉아 있었다.

Ngực và bụng trắng bóng giống lối cổ áo thầy kiện, cứ phập phồng đưa lên đưa xuống lấy hơi sắp nói, nhưng mãi chẳng thấy nói gì.
→ 그의 하얗고 번들거리는 배와 가슴은 마치 옛 관리의 옷깃처럼 보였고, 숨을 들이쉬며 오르내리기만 할 뿐 한동안 아무 말도 하지 않았다.

Đặc biệt trên gáy lão ra điểm mấy miếng xanh ở cổ áo và lưng áo như hạt cốm.
→ 특히 목과 등에 연두색 점들이 마치 찹쌀알처럼 박혀 있었다.

Bởi thế, lão cũng có tên là Ếch Cốm.
→ 그래서 그는 ‘연두 개구리’라는 이름으로도 불렸다.

Và có lẽ trong hoàn cảnh đói kém này, lão cậy mình còn to béo khoẻ mạnh nhất vùng nên lão xưng là đại vương, đại vương Ếch Cốm!
→ 아마도 이런 궁핍한 상황 속에서, 그는 이 지역에서 가장 크고 건강하다는 것을 믿고 스스로를 대왕이라 칭했을 것이다. 바로 ‘개구리 대왕, 연두 개구리’였다.

Với chúng tôi, đại vương hay là cái gì thì cũng chẳng bận tâm, qua câu chuyện tôi chỉ có nhận xét tính lão cũng hệt bọn đồ cóc đã dốt lại còn hay khoe chữ, còn cái tính khoác lác của ếch thì một tấc đến trời, hơn Cóc nhiều.
→ 우리에게는 그가 대왕이든 무엇이든 중요하지 않았다. 다만 이야기해 보니, 그는 무식하면서도 아는 척하기 좋아하는 두꺼비들과 비슷했고, 특히 개구리 특유의 허풍은 하늘에 닿을 만큼 심해 두꺼비보다 더했다.

Chuyện với anh nói khoác nó chỉ biết nói cho nó nghe và không biết nghe ai nói cả, cứ tức anh ách như bị bò đá.
→ 이런 허풍쟁이와 이야기하면 자기 말만 할 줄 알지 남의 말은 들을 줄 몰라, 듣는 사람만 답답해진다.

Ếch Cốm hỏi (hay nói cũng không rõ)
→ 연두 개구리가 물었다기보다 혼잣말처럼 말을 꺼냈다.

– Chúng bay sang buôn ngọc bên vùng Rùa Rùa trong chân núi…
→ “너희는 산기슭의 거북이 지역으로 보석 장사를 하러 가는 것이겠지…”

Tôi đáp:
→ 나는 대답했다.

– Thưa, tôi…
→ “저희는…”

– Biết rồi, ta biết rồi, đây vào đến vùng Rùa Rùa còn xa một phiên chợ. Ngày trước ta đã…
→ “알고 있다, 알고 있다. 여기서 거북이 지역까지는 아직 시장 한 번 갈 거리나 남아 있다. 옛날에 내가…”

Trũi sẵng tiếng ngắt lời:
→ 쯔이가 성급하게 말을 끊었다.

– Không, tôi không đến vùng Rùa Rùa!
→ “아니요, 저는 거북이 지역에 가지 않습니다!”

– Ta biết rồi… Ngày trước ta đã vào chơi vùng Rùa Rùa trong chân núi ấy… Ngày trước ta… Ngày trước ta… Ngày trước ta…
→ “알고 있다… 예전에 내가 그 산기슭의 거북이 지역에 가 본 적이 있지… 예전에 내가… 예전에 내가… 예전에 내가…”

Nói có mấy câu thì đầu đuôi câu nào cũng “ngày trước ta…” và “ta biết rồi…”.
→ 몇 마디 하지도 않았는데, 말의 시작과 끝이 모두 “예전에 내가…”와 “알고 있다…”뿐이었다.

Nên cho anh chàng khuếch khoác này thêm cái biệt hiệu là anh “ngày trước ta” hay anh “biết rồi”.
→ 그래서 이 허풍쟁이에게 ‘예전에 내가’ 또는 ‘알고 있다’라는 별명을 붙여도 될 것 같았다.

Cái lão đại vương ếch Cốm này chẳng biết cóc gì nhưng cái gì cũng nói trước, mình chưa nói hết câu nó đã nói nốt câu mình nói, cái gì cũng tỏ vẻ biết, và cái gì ta cũng giỏi.
→ 이 연두 개구리 대왕은 아는 것도 없으면서 모든 것을 먼저 말하고, 내가 말을 끝내기도 전에 대신 이어 말하며, 모든 것을 아는 척하고 무엇이든 잘한다고 떠벌렸다.

Bây giờ tôi mới rõ câu tục ngữ “ếch ngồi đáy giếng” thế mà thâm và ý nghĩa sâu.
→ 이제야 ‘우물 안 개구리’라는 속담이 얼마나 깊은 뜻을 지니고 있는지 알게 되었다.

Không ai chịu được những anh đã dốt lại hay tự đắc và dở hơi.
→ 무식하면서도 자만심 강하고 엉뚱한 사람은 누구도 참기 어렵다.

Trũi có tính nóng nảy.
→ 쯔이는 성격이 급하고 다혈질이었다.

Thấy trái tai, Trũi cãi phăng, nói phăng.
→ 마음에 들지 않으면 곧바로 따지고 직설적으로 말해 버렸다.

Rồi muốn ra sao thì ra!
→ 그리고 결과가 어떻게 되든 상관하지 않았다.

Trũi văng một câu:
→ 쯔이가 한마디 내뱉었다.

– Này ông hỏi chúng tôi, chúng tôi đã trả lời đâu mà ông biết được, ông chẳng biết cóc gì hết! Ông là ếch ngồi đáy giếng, ếch ngồi đáy giếng chỉ trông thấy mẩu trời trong miệng giếng đã tưởng nom thấy cả vòm trời! Ha ha! ếch ngồi đáy giếng. Hôm nay mới thấy thật ếch ngồi đáy giếng.
→ “이봐요, 우리가 아직 대답도 안 했는데 어떻게 안다는 겁니까? 당신은 아무것도 모르잖아요! 당신은 우물 안 개구리입니다. 우물 안 개구리는 우물 입구의 하늘 한 조각만 보고도 온 하늘을 다 본 줄 아는 법이죠! 하하! 우물 안 개구리라니. 오늘에서야 진짜 우물 안 개구리를 보네요.”

Ếch Cốm tức quá, hét ầm ỹ đuổi Trũi, Trũi điềm nhiên giơ càng.
→ 연두 개구리는 화가 나서 크게 소리치며 쯔이를 쫓았지만, 쯔이는 태연하게 집게발을 들어 올렸다.

Ếch Cốm không dám xông đến.
→ 개구리는 감히 덤벼들지 못했다.

Chúng tôi không chạy, cũng không nói, chúng tôi ung dung đi ra.
→ 우리는 도망치지도, 말하지도 않고 태연하게 걸어 나왔다.

Làm vẻ ngông nghênh cũng không tốt, nhưng lúc ấy chúng tôi thú vị như thế đấy.
→ 거만하게 구는 것이 좋지는 않지만, 그때는 이상하게도 그런 기분이 들었다.

Ếch Cốm gọi cả xóm lại, bàn cách nện chúng tôi.
→ 개구리는 온 마을을 불러 모아 우리를 혼내 줄 방법을 의논했다.

Nhưng buồn cười thay, xóm này mới chỉ rỉ tai bàn bí mật mà đi tận xa xa cũng nghe tiếng uôm oạp.
→ 그런데 우스운 것은, 비밀스럽게 속삭이며 의논한다면서도 멀리까지 개굴개굴 소리가 다 들린다는 것이었다.

Nói thế này, thế nọ, cứ ầm ỹ rối xoè.
→ 이러니저러니 하며 계속 시끄럽게 떠들어댔다.

Ai cũng kêu là ghét hai thằng lếu láo, giá thấy mặt bây giờ thì phải đánh cho chúng mấy đánh.
→ 모두가 우리 두 녀석을 건방지다고 욕하며, 지금 당장 만나면 몇 대 때려 주겠다고 했다.

Những quân lang chạ ở đâu đến rõ bọn đầu trộm đuôi cướp.
→ 어디서 굴러온 놈들인지, 도둑이나 다름없다고 했다.

Phải vặn cổ nó xuống, tức lắm, phải nện cho chúng nó một trận nhừ tử.
→ 목을 비틀어 버리고 싶다며, 분풀이로 우리를 흠씬 두들겨 패야 한다고 떠들어댔다.

Ếch cử Ễnh Ương và Chẫu Chàng đi đánh chúng tôi, cả hai anh chàng cùng nhăn nhó là có bệnh đau bụng kinh niên.
→ 개구리는 다른 개구리 둘을 보내 우리를 공격하게 했지만, 그들은 모두 얼굴을 찡그리며 만성 복통이 있다고 핑계를 댔다.

Ếch bảo Cóc.
→ 그래서 개구리는 두꺼비에게 명령했다.

Đáng lẽ Cóc phải hăng hái đi nhất thì Cóc trả lời rằng với chúng tôi, Cóc là chỗ quen biết, xưa nay có giao thiệp, vả chăng, đã là thầy đồ nho nhã biết ngậm cái bút lông mèo thì không bao giờ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay như kẻ tầm thường.
→ 원래라면 가장 적극적으로 나서야 할 두꺼비였지만, 그는 우리와 안면이 있고 예전부터 교류가 있었다며, 또 학자답게 붓을 드는 사람은 결코 거칠게 싸우지 않는다고 핑계를 댔다.

Đến lượt Nhái Bén, Nhái Bén ngoẹo mình, giơ mạng sườn, làm hiệu và kiếu: tôi gầy lắm, đứa nào thổi mạnh một cái tôi cũng ngã huống chi chúng nó những hai đứa…
→ 다음으로 그 개구리가 나섰지만, 몸을 비틀며 갈비뼈를 드러내 보이고는 너무 말라서 누가 세게 숨만 불어도 쓰러질 정도라며 두 명이나 되는 우리를 상대할 수 없다고 사양했다.

Rắn Mòng khước mình vừa lột, xương cốt mình mẩy còn mỏng manh lắm, chưa làm việc nặng được.
→ 물뱀도 최근에 허물을 벗어 몸이 약해져 아직 힘든 일을 할 수 없다며 거절했다.

Đến khi cả bọn Cóc, Ễnh Ương, Nhái Bén, Chẫu Chàng, Rắn Mòng đồng thanh cử đại vương Ếch Cốm hãy tạm rời cái mà ếch mùa đông ở bờ đầm nước và cái sập gạch kiên cố ấy, bước ra, đi trước, bọn họ sẽ theo sau trợ chiến thì Ếch Cốm ra phồng bụng, phồng mép, trố mắt, quát:
→ 마침내 두꺼비와 개구리들, 물뱀까지 모두 한목소리로 개구리 대왕에게 연못가의 은신처와 그 단단한 벽돌 자리를 잠시 떠나 앞장서 나가면, 자신들이 뒤에서 도와주겠다고 하자, 개구리 대왕은 배와 입을 부풀리고 눈을 부릅뜨며 외쳤다.

– Như ta đây đường đường một đấng trượng phu hai nhãi ấy chưa đáng mặt đọ sức với ta…
→ “나 같은 당당한 사내에게 저 두 녀석은 상대할 가치도 없다…”

Rút cuộc, ai về nhà nấy và lại làm công việc hàng ngày của mình.
→ 결국 모두 제자리로 돌아가 각자 하던 일을 계속했다.

Mòng và Cóc đi rình muỗi.
→ 물뱀과 두꺼비는 모기를 노리러 갔다.

Nhái Bén leo cây.
→ 작은 개구리는 나무를 탔다.

Chẫu Chàng hát nghêu ngao.
→ 다른 개구리는 콧노래를 흥얼거렸다.

Những kẻ khác thì ngồi than vãn, khóc lóc hoặc cãi vã nhau cho qua ngày.
→ 나머지들은 앉아서 한탄하거나 울거나 서로 다투며 하루를 보냈다.

Còn đại vương Ếch Cốm vẫn lặng im tư lự một cách vô tích sự trên hòn gạch vuông – suốt mùa đông lão ngồi ngậm hơi không một lần nhích đít khỏi cái sập oai vệ trong cái mà của lão.
→ 한편 개구리 대왕은 쓸데없이 생각에 잠긴 채 네모난 벽돌 위에 앉아 있었고, 겨울 내내 한 번도 그 자리에서 움직이지 않은 채 그 허세 가득한 자리를 지키고 있었다.

Chúng tôi chẳng muốn gây sự và cũng không lưu luyến gì đất này, đất buồn.
→ 우리는 싸움을 벌일 생각도 없었고, 이 우울한 곳에 미련도 없었다.

Có đáng kỷ niệm đây chỉ là nhớ nơi mà chúng tôi lênh đênh từ ngoài nước lớn giạt vào – một lần thoát chết.
→ 기억에 남을 것은 단지 우리가 큰 물에서 떠돌다 이곳으로 흘러와 목숨을 건진 일뿐이었다.

Tôi cùng Trũi đi ngược lên phía những rặng cây ké hoa vàng lấp lánh một giòng sông.
→ 나는 쯔이와 함께 노란 꽃이 반짝이는 풀숲 쪽으로 거슬러 올라갔다. 그곳에는 강이 흐르고 있었다.

Chúng tôi định vượt qua đấy có thể tìm một ít cỏ tốt rồi nghỉ ngơi vài ngày chăng.
→ 우리는 그곳을 건너 좋은 풀을 찾아 며칠 쉬어 보려고 했다.

Trũi nhảy xuống nước, bơi sang.
→ 쯔이는 물에 뛰어들어 건너가기 시작했다.

Bơi một quãng bỗng nhiên chìm nghỉm.
→ 한참 헤엄치다가 갑자기 물속으로 사라졌다.

Cả hai cái râu cũng không thấy ngo ngoe trên mặt nước, như bị đột ngột rút chân xuống.
→ 더듬이조차 수면 위에 보이지 않았고, 마치 갑자기 아래로 끌려간 듯했다.

Chốc, thấy Trũi ngoi lên, kêu váng rồi hớt hải quay lại.
→ 잠시 후 쯔이가 물 위로 올라와 소리를 지르며 황급히 돌아왔다.

Tôi định thần nhìn kỹ thấy quanh đấy có luồng sóng cồn đuổi theo.
→ 나는 정신을 가다듬고 보니, 그 주변에 물결이 몰려오고 있었다.

Một đàn cá săn sắt đương rầm rập kéo đến.
→ 작은 물고기 떼가 빠르게 몰려오고 있었다.

Những cái đuôi cờ ngũ sắc bay hoa cả mặt nước.
→ 그들의 오색 꼬리가 물 위를 화려하게 흔들고 있었다.

Vừa rồi mải bơi, chính là Trũi bị mấy gã Săn Sắt ấy kéo tụt xuống.
→ 아까 쯔이가 헤엄치다가 바로 그 물고기들에게 끌려 들어갔던 것이다.

May, Trũi cố vùng thoát lên.
→ 다행히 쯔이는 힘껏 버티며 빠져나올 수 있었다.

Bây giờ tôi mới kinh hãi nhìn dần ra khắp dọc sông, chỗ nào cũng thấy đông đặc cá Săn Sắt với những đuôi cờ múa rợp bóng nước.
→ 그제야 나는 강을 따라 둘러보며 깜짝 놀랐다. 어디를 봐도 작은 물고기 떼가 가득했고, 그들의 화려한 꼬리가 물 위를 뒤덮고 있었다.

Chúng lượn đi lượn lại, vẻ nghênh ngang, chặn đường.
→ 그들은 이리저리 돌아다니며 거만한 태도로 길을 막고 있었다.

Cái này chắc có âm mưu gì đây.
→ 이건 분명 무슨 꿍꿍이가 있는 게 틀림없었다.

Rồi tôi thấy Săn Sắt kéo đến mép nước phía chúng tôi, hằm hè toan nhảy hẳn lên bờ đòi choảng nhau, rất hung hăng.
→ 그리고 물고기 떼가 우리 쪽 강가까지 몰려와 금방이라도 뛰어올라 공격할 듯 사납게 노려보았다.

Thế này phải tìm cách thoát ngay mới được.
→ 이대로는 당장 탈출 방법을 찾아야 했다.

Ờ! có thể ếch cốm lập ra mưu này, cái lão khoác lác một tấc đến trời mà cũng mưu lược gớm.
→ 아마도 그 개구리 대왕이 꾸민 계략일지도 모른다. 허풍은 심하지만 제법 꾀도 있는 녀석이었다.

Lại vài mụ Diếc trắng trẻo, béo tròn con quay, lò mò đến.
→ 거기에다가 하얗고 통통한 물고기 몇 마리도 느릿느릿 다가왔다.

Các mụ tung tăng múa vây, múa gáy.
→ 그들은 지느러미를 흔들며 요란하게 움직였다.

Rồi mấy bác cá Ngão mắt lồi đỏ, dài nghêu, mồm nhọn ngoác ra, ở đâu bơi chớp nhoáng đến, đỗ kề ngay bờ trước mặt, há miệng đợi đớp.
→ 이어서 눈이 붉게 튀어나오고 몸이 길며 입이 뾰족하게 벌어진 물고기들이 번개처럼 헤엄쳐 와 바로 앞 강가에 멈춰 입을 벌리고 덮칠 준비를 했다.

Ôi chao, nếu không mau chân, bọn này cứ thắt mãi vòng vây, chí nguy!
→ 아, 서둘러 움직이지 않으면 이 녀석들이 점점 포위를 좁혀 매우 위험해질 것이다!

Trũi lau tau mà đã thấy cuống.
→ 쯔이는 원래 덤벙대는 성격이라 벌써 당황해했다.

Trũi nóng tính, nóng hăng thì cũng nóng nhụt!
→ 그는 성격이 급해서 쉽게 흥분했다가 또 금방 기가 죽는 편이었다.

Chưa chi cả mà đã hốt.
→ 아직 아무 일도 일어나지 않았는데 벌써 겁을 먹은 것이다.

Tôi bảo:
→ 나는 말했다.

– Khoan khoan liệu việc, nhốn nháo thì hỏng đấy.
→ “잠깐만, 침착하게 생각하자. 허둥대면 끝장이야.”

Bỗng Trũi lại tru lên:
→ 갑자기 쯔이가 다시 소리쳤다.

– Kìa kìa.. lũ nữa đến…
→ “저기 봐… 또 몰려온다…”

Nhìn lên đầu sông thấy mấy bác cá Chuối đương lừ lừ tới.
→ 강 상류 쪽을 보니 몇 마리 큰 물고기가 느릿느릿 다가오고 있었다.

Bóng cá Chuối loáng cả dòng nước, răng nhe trắng như lưỡi cưa, nó lướt vào đến trước mặt thì dòng nước đương trong vắt bỗng đen sạm như nền trời cơn mưa.
→ 그 물고기들의 그림자가 강물을 뒤덮었고, 톱날처럼 하얀 이빨을 드러낸 채 다가왔다. 그들이 가까이 오자 맑던 물이 갑자기 비 오기 전 하늘처럼 어둡게 변했다.

Phải tính việc tẩu ngay.
→ 이제 당장 도망칠 방법을 찾아야 했다.

Nhìn sang bên kia sông, tuy xa, nhưng tôi cảm thấy nếu tôi cố thì có thể bay qua được.
→ 나는 강 건너편을 바라보며, 거리가 멀지만 힘을 내면 날아서 건널 수 있을 것 같다고 생각했다.

Tôi sẽ bay qua ngay trên đầu chúng nó.
→ 나는 그들의 머리 위로 바로 날아넘을 생각이었다.

Nhưng đôi cánh của Trũi ngắn thun lủn, không thể bay xa thế.
→ 하지만 쯔이의 날개는 짧아서 그렇게 멀리 날 수 없었다.

Trong khi ấy, nếu còn trù trừ thì chết.
→ 그런데 여기서 더 망설이면 죽을 수도 있었다.

Đàn cá Chuối hung hăng sẽ ngoi lên tận bờ bùn này đớp chân chúng tôi.
→ 사나운 물고기들이 이 진흙 둑까지 올라와 우리의 다리를 물어버릴 것이다.

Hoặc một thằng Chạch, một thằng Lươn có thể độn thổ lên ngay vũng bùn dưới chân chúng tôi đứng đây.
→ 혹은 다른 물고기들이 바로 우리가 서 있는 진흙 밑에서 튀어나올지도 모른다.

Tại sao nên tai nạn như vậy?
→ 왜 이런 사고가 일어난 것일까?

Về sau tôi mới hiểu chỉ vì cái thói nghịch ác và sự coi thường xung quanh của chúng tôi.
→ 나중에야 나는 이것이 우리의 장난기와 주변을 얕보는 태도 때문이었다는 것을 깨달았다.

Chẳng là bị khích thế, cả xóm ếch Nhái đương buồn bã kia bỗng phát cáu lên và các xóm Cá ngoài này nghe phong thanh có hai thằng dế bơ vơ ở đâu đến làm loạn sông thì cá kéo ra đánh đuổi đi.
→ 자극을 받아 우울하던 개구리 마을이 갑자기 분노했고, 이 근처 물고기들까지 두 떠돌이 곤충이 강을 어지럽힌다는 소문을 듣고 몰려와 우리를 쫓아내려 했다.

Lúc ấy, tôi khom người xuống.
→ 그때 나는 몸을 낮췄다.

Tôi đã nghĩ ra một cách.
→ 나는 한 가지 방법을 떠올렸다.

Tôi bảo Trũi trèo lên lưng.
→ 나는 쯔이에게 내 등에 올라타라고 했다.

Tôi mím miệng nghiến răng, gắng sức bình sinh cõng Trũi bay qua sông.
→ 이를 악물고 온 힘을 다해 쯔이를 업고 강을 날아넘으려 했다.

Không cất cao mình lên được, tôi chỉ đủ sức bay là là mặt nước.
→ 높이 날 수는 없었고 겨우 수면 가까이 낮게 날 수 있었다.

Cả đàn mấy chục các loại cá đuổi theo, chen nhau đánh sóng và quẫy đuôi, ngoáp miệng bắn nước lên đầy mặt tôi, ướt cánh và ướt cả bụng tôi.
→ 수십 마리 물고기들이 뒤쫓아 오며 물살을 일으키고 꼬리를 휘저으며 물을 튀겨 내 얼굴과 날개, 배까지 흠뻑 적셨다.

Tôi chỉ núng cánh một chút, nó mà tợp được chân tôi lôi xuống thì tan xương cả.
→ 내가 조금만 흔들려도 그들이 내 다리를 물어 끌어내리면 끝장이었다.

Lưng tôi nặng như cái cối đá đè.
→ 내 등은 맷돌처럼 무겁게 짓눌렸다.

Tôi cố sức, cố sức, cố sức…
→ 나는 힘을 내고 또 힘을 내며 계속 버텼다…

Cuối cùng, tôi lướt khỏi mặt nước, sang tới bờ bên này bãi cỏ.
→ 마침내 나는 물 위를 벗어나 반대편 풀밭까지 날아올 수 있었다.

Tôi lăn kềnh ra bãi, trong khi Trũi bị hất tung ngã tít đằng kia.
→ 나는 풀밭에 쓰러졌고, 쯔이는 멀리 튕겨 나가 떨어졌다.

Trở dậy, trông bờ bên ấy đã thấy cả xóm ếch Nhái kéo ra.
→ 일어나 보니 건너편에는 이미 개구리 떼가 몰려 나와 있었다.

Tuy vậy, vẫn không thấy đại vương Ếch Cốm đâu.
→ 하지만 개구리 대왕의 모습은 보이지 않았다.

Thêm viện binh!
→ 게다가 지원군까지 나타났다!

Bốn bác Cua Núi đen sì như bốn cái xe bọc sắt to kềnh, múa lên những chiếc càng rất lớn.
→ 검은 게 네 마리가 마치 철갑차처럼 커다란 집게를 휘두르며 나타났다.

Tưởng nếu bị càng đó cắp thì bụng tôi có thiết giáp cũng phải phòi ruột.
→ 그 집게에 잡히면 아무리 단단해도 배가 찢어질 것 같았다.

Nhưng chúng tôi đã qua được sông.
→ 그러나 우리는 이미 강을 건넜다.

Thách cũng chẳng mống cá nào dám lên bờ đuổi.
→ 물고기들은 감히 육지까지 쫓아오지 못했다.

Nghĩ cứng thế, nhưng tôi lại chợt nghĩ thêm: biết đâu ai học được chữ ngờ, như cái lần Trũi bị cả xóm Bọ Muỗm bay qua sông sang đánh suýt chết đấy.
→ 그렇게 생각했지만, 나는 혹시 모를 상황을 떠올렸다. 예전에 쯔이가 곤충 떼에게 습격당할 뻔했던 일이 생각났다.

Tôi vội bảo Trũi cùng nhau chạy trốn ngay.
→ 나는 쯔이에게 당장 함께 도망치자고 했다.

Trũi cũng hiểu, chúng tôi biến rất nhanh.
→ 쯔이도 이해했고, 우리는 빠르게 자리를 떠났다.

Tuy vậy, trước khi chạy, vẫn làm oai ta đây, chúng tôi giơ càng lên, ri ri hát một bài.
→ 그래도 도망가기 전, 우리는 허세를 부리며 집게를 들고 작은 노래를 불렀다.

Trũi xỏ hai chân vào hai râu, cong cong râu, làm hiệu giễu cợt.
→ 쯔이는 다리를 더듬이에 끼고 휘어지게 하며 조롱하는 몸짓을 했다.

Giở trò trêu ngươi cái đã.
→ 마지막으로 한 번 놀려주고 떠난 것이다.

Nhưng bên kia bọn bên kia sông chưa kịp nổi giận thêm tôi đã kéo Trũi chạy một mạch đến tận hàng cây xanh xanh mờ mờ đằng xa.
→ 그러나 강 건너편의 무리들이 더 화를 내기도 전에, 나는 쯔이를 끌고 저 멀리 희미하게 보이는 푸른 나무들까지 단숨에 달려갔다.

 

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo