TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
LÊ HUY KHOA
TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
Truyện ngắn
DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Đỗ Thị Ngọc Ánh -CSTT Kanata Biên Hò
CHƯƠNG 6: Tranh hùng với võ sĩ Bọ Ngựa – Chánh phó phủ lĩnh tổng Châu Chấu – Thề rằng sinh tử có nhau
(제6장: 사마귀 무사와의 대결 – 메뚜기 무리의 정·부 수령 – 생사를 함께하겠다는 맹세)
- Hàng cây, mà lúc còn ở ngoài bãi chúng tôi trông thấy mờ xanh xanh, là cánh rừng cỏ may.
(우리가 아직 들판 밖에 있을 때 희미하게 푸르게 보이던 나무들은 사실 띠풀 숲이었다.)
- Bấy giờ mặt đất đương mùa hoa may.
(그때는 온 땅이 띠풀 꽃이 피는 계절이었다.)
- Chúng tôi đi mịt mờ dưới bóng hoa may.
(우리는 띠풀 꽃 그늘 아래를 흐릿하게 걸어갔다.)
- Trông suốt bốn phía chân trời đâu cũng phất lên một màu trắng bàng bạc, xam xám những ngù hoa may.
(사방 지평선 어디를 보아도 희끄무레한 은빛과 잿빛의 띠풀 꽃송이들이 흩날리고 있었다.)
- Trong rừng hoa cỏ may ấy ngụ những xóm Chuồn Chuồn.
(그 띠풀 꽃 숲 속에는 잠자리 마을들이 자리 잡고 있었다.)
- Đối với Chuồn Chuồn, họ Dế chúng tôi là láng giềng lâu năm.
(잠자리들에게 우리 귀뚜라미 일가는 오랜 이웃이었다.)
- Hang Dế thường ở quanh bãi và gần hồ ao.
(귀뚜라미의 굴은 보통 들판 주변이나 연못 근처에 있었다.)
- Chuồn Chuồn hay đậu trên ngọn cỏ cao bên bờ nước.
(잠자리는 물가의 높은 풀 끝에 자주 앉았다.)
- Bởi thế, đã thành thói quen như bức tranh sơn thủy thì phải có núi, có sông, chàng Dế và chàng Chuồn Chuồn cứ mùa hè đến lại gặp nhau ở bờ cỏ, anh đậu ngọn, anh nằm gốc.
(그래서 산수화에 산과 물이 있듯이, 여름이 오면 귀뚜라미와 잠자리는 늘 풀가에서 만나 한쪽은 꼭대기에 앉고 한쪽은 뿌리 근처에 눕는 것이 습관이 되었다.)
- Trong đám cỏ, có khi nắng chang chang – Chuồn Chuồn thật khoẻ chịu nắng – chúng tôi thường sôi nổi đàm luận việc đời, nhất là những chuyện đường xa.
(풀숲 속에서는 때로 햇볕이 쨍쨍 내리쬐어도 – 잠자리는 햇볕을 잘 견디기에 – 우리는 세상사, 특히 먼 길 이야기를 열정적으로 나누곤 했다.)
- Xóm ấy trú ngụ đủ các chi họ Chuồn Chuồn.
(그 마을에는 여러 종류의 잠자리들이 함께 살고 있었다.)
- Chuồn Chuồn Chúa lúc nào cũng như dữ dội, hùng hổ, nhưng kỳ thực trông kỹ đôi mắt lại rất hiền.
(왕잠자리는 언제나 사납고 거칠어 보였지만, 자세히 보면 눈빛은 매우 온순했다.)
- Chuồn Chuồn Ngô nhanh thoăn thoắt, chao cánh một cái đã biến mất.
(고추잠자리는 매우 재빠르게 날갯짓 한 번에 사라져 버렸다.)
- Chuồn Chuồn ớt rực rỡ trong bộ áo quần đỏ chót giữa ngày hè chói lói, đi đằng xa đã thấy.
(고추잠자리는 한여름의 눈부신 햇빛 아래에서 새빨간 몸빛으로 멀리서도 눈에 띄었다.)
- Chuồn Tương có đôi cánh kép vàng điểm đen thường bay lượn quanh bãi những hôm nắng to.
(또 다른 잠자리는 검은 점이 박힌 노란 겹날개를 가지고 햇볕이 강한 날이면 들판을 날아다녔다.)
- Lại anh Kim Kìm Kim bấy lấy như mẹ đẻ thiếu táng, chỉ có bốn mẫu cánh tí tẹo cái đuôi bằng chiếc tăm dài nghêu, đôi mắt lồi to hơn đầu, cũng đậu ngụ cư vùng này.
(또 김낌김이라는 녀석은 마치 제대로 태어나지 못한 것처럼 아주 작은 네 개의 날개와 이쑤시개처럼 긴 꼬리, 머리보다 더 큰 튀어나온 눈을 가지고 이곳에 함께 살고 있었다.)
- Họ nhà Chuồn Chuồn cứ miên man đi tha phương cầu thực, nhưng hễ khi trời sắp giông gió thì lại bay qua đồng hoa cỏ may tìm về tránh mưa trong chân cỏ.
(잠자리들은 늘 이곳저곳을 떠돌며 먹이를 구했지만, 비바람이 오기 직전이면 다시 띠풀 들판으로 날아와 풀 아래에서 비를 피했다.)
- Chúng tôi vừa đến, đi suốt đoạn đường, thấy các làng Chuồn Chuồn ai cũng hớn hở trong xống áo mới tinh giữa hoa may.
(우리는 막 도착했고, 길 내내 가면서 보니 잠자리 마을 사람들은 모두 새 옷을 입고 풀꽃 사이에서 들떠 있었다.)
- Họ đương sắp đi.
(그들은 막 떠나려 하고 있었다.)
- Tôi hỏi đi đâu.
(나는 어디로 가느냐고 물었다.)
- Đáp rằng họ đi xem hội thi võ, trên trời, Chuồn Chuồn bay sát cánh rợp cả nắng.
(그들은 무술 대회를 보러 간다고 대답했고, 하늘에서는 잠자리들이 서로 날개를 맞대며 햇빛을 가릴 정도로 날아다녔다.)
- Cậu Kỉm Kìm Kim gầy còm chỉ lượn được dưới thấp, nhưng cũng tung tăng ra dáng lắm.
(마른 키임낌낌은 낮게만 날 수 있었지만, 그래도 신나게 날며 제법 폼을 냈다.)
- Tôi hỏi thêm thế thì như anh em chúng tôi muốn đi xem hội thi võ có được không.
(나는 다시 물었다. 그렇다면 우리 형제들도 무술 대회를 보러 갈 수 있느냐고.)
- Đáp rằng có.
(그들은 갈 수 있다고 대답했다.)
- Thế là chúng tôi đi trẩy hội theo Chuồn Chuồn.
(그래서 우리는 잠자리들을 따라 축제를 보러 갔다.)
- Họ bay trên không.
(그들은 하늘을 날고,)
- Chúng tôi đi dưới.
(우리는 땅을 걸었다.)
- Đôi lúc khoái chí tôi cũng cất cánh bay chơi một quãng.
(가끔 신이 나면 나도 날개를 펴고 잠깐씩 날아보았다.)
- Trên đường còn gặp vô khối khách nô nức trẩy hội.
(길에서는 축제를 보러 가는 수많은 사람들을 만났다.)
- Vui lắm.
(정말 즐거웠다.)
- Cả những ông Niềng Niễng đen nháy quanh năm không ra khỏi mép cái lá sen mặt nước cũng lịch kịch cất bước ra đi.
(늘 연잎 가장자리에서만 살던 검은 물자라도 느릿느릿 걸음을 옮겨 축제에 나섰다.)
- Sự tích hội thi võ như thế này:
(무술 대회의 유래는 다음과 같다:)
- Nguyên vì ở vùng cỏ, hàng năm đến mùa hoa may chín trắng bạc khắp miền thì có hội lệ.
(이 풀밭 지역에서는 해마다 풀꽃이 하얗게 익는 계절이 되면 축제가 열렸다.)
- Năm ngoái, cụ Bọ Ngựa già yếu đã khuất núi.
(작년에는 늙고 약해진 사마귀 노인이 세상을 떠났다.)
- Năm nay, dân cả vùng, nhân hội hoa may, mở luôn hội thi võ kén ai tài giỏi nhất để đứng ra coi sóc việc chung trong vùng.
(올해는 온 지역 사람들이 풀꽃 축제를 맞아 무술 대회를 열어 가장 뛰어난 이를 뽑아 지역 일을 맡기기로 했다.)
- Đó cũng là phong tục lâu năm của miền cỏ may này.
(이것은 이 지역의 오랜 풍습이기도 하다.)
- Giữa vùng cỏ may, chân cỏ đỏ tía, đầu hoa xám trắng và lóng lánh dựng lên võ đài nguy nga cao, toàn bằng gỗ cây lau ngà vàng, đứng cuối bãi trông lên cũng rõ mồn một.
(풀꽃 사이, 붉은 풀줄기와 희끗한 꽃 사이에 황금빛 갈대 나무로 만든 웅장하고 높은 무대가 세워져 있었고, 들판 끝에서도 또렷이 보였다.)
- Đài võ chắc chắn, đẹp, có ghế ông cầm trịch ngồi, trên lớp lá cỏ mật và treo từng chùm hoa ké vàng mọng buông xuống, lắc lư trong gió.
(무대는 튼튼하고 아름다웠으며, 심판이 앉는 의자가 있고, 달콤한 풀잎 위에 노란 꽃송이들이 매달려 바람에 흔들리고 있었다.)
- Những hôm đầu là đấu loại.
(처음 며칠은 예선전이었다.)
- Nhiều anh Châu Chấu vừa nứt mắt đã bắng nhắng lên đài.
(많은 메뚜기들이 아직 경험도 없으면서 성급하게 무대에 올라왔다.)
- Ngựa non háu đá, những gã ngông nghênh đó thật ra chưa có nổi ba hột sức.
(혈기왕성하지만, 그런 거만한 자들은 사실 힘도 별로 없었다.)
- Mới tự chân mình đá mấy cái cũng đã run rẩy cả người rồi đứng thở hồng hộc.
(자기 발로 몇 번 차기만 해도 온몸이 떨리고 숨을 헐떡였다.)
- Vì thế chỉ có các anh ấy tưởng võ mình là tuyệt thôi, còn khách xem thì thấy cuộc thi đấu loạc choạc, ngấy, họ đi chơi hội hơn là đi xem võ.
(그래서 그들만 자신의 무술이 뛰어나다고 생각했을 뿐, 관중들은 시합이 어설프고 지루하다고 느껴 무술을 보기보다 축제를 즐기러 온 것이었다.)
- Mấy ngày sau, võ đài mới bắt đầu rầm rộ.
(며칠 후에야 무대의 경기가 본격적으로 활기를 띠기 시작했다.)
- Bởi vì những tay võ kém đã bị lọc hết.
(왜냐하면 실력이 부족한 자들은 이미 모두 탈락했기 때문이다.)
- Bao nhiêu cậu ti toe đều bạt xuống chân đài cả rồi.
(잘난 체하던 녀석들은 모두 무대 아래로 떨어졌다.)
- Chỉ còn lại có hai tay cứng vào đấu vòng cuối là Bọ Muỗm và Bọ Ngựa.
(마지막 결승전에 오른 강자는 메뚜기와 사마귀 두 명뿐이었다.)
- Hai tráng sĩ trong vùng đấy.
(둘 다 이 지역의 용사들이었다.)
- Sáng hôm ấy, trước khi ra xem thi đấu, tôi một mình dạo chơi quanh bãi, nhìn thiên hạ kéo tới xem hội, chật như nêm cối.
(그날 아침, 경기를 보러 가기 전에 나는 혼자 들판을 거닐며 사람들이 축제를 보러 몰려오는 모습을 보았는데, 발 디딜 틈도 없을 정도로 붐볐다.)
- Những chị Cào Cào trong làng ra, mỹ miều áo đỏ áo xanh mớ ba mớ bảy, bước từng chân chầm chậm, khoan thai, khuôn mặt trái xoan như e thẹn, như làm dáng, như ngượng ngùng.
(마을의 여치들은 붉은 옷과 푸른 옷을 곱게 차려입고 천천히 우아하게 걸어 나왔으며, 달걀형 얼굴에는 수줍은 듯, 꾸미는 듯, 부끄러운 듯한 표정이 드러났다.)
- Các anh Châu Chấu Ma thì mặt mũi rất xí nhưng chúa hay lơn tơn đón đường co kéo các nàng Cào Cào xinh đẹp vào trò chuyện vẫn vơ trong vườn cỏ non – những hàng quán dọc đường.
(메뚜기들은 얼굴은 못생겼지만, 길을 막아서며 예쁜 여치들을 붙잡고 길가 풀밭의 가게들에서 쓸데없는 이야기를 늘어놓기를 좋아했다.)
- Tôi thấy bụng đoi đói, tôi cũng tạt vào quán làm vài nhánh cỏ lót dạ.
(나는 배가 조금 고파서 가게에 들러 풀 몇 가닥으로 허기를 달랬다.)
- Đông khách quá, Châu Chấu, Cào Cào, Bọ Muỗm, Bọ Ngựa rậm rịch vào.
(손님이 너무 많아 메뚜기, 여치, 사마귀들이 계속 들어오고 있었다.)
- Bỗng mấy chú Châu Chấu Ma đang nhảy nhót khoe tài quanh các nàng Cào Cào, vội né giạt về một bên.
(그때 여치들 주변에서 재주를 뽐내던 몇몇 메뚜기들이 갑자기 서둘러 한쪽으로 물러섰다.)
- Rồi trong cửa hàng chợt im tiếng ồn ào.
(그리고 가게 안은 अचानक 조용해졌다.)
- Tôi thấy trịnh trọng tiến vào một anh Bọ Ngựa.
(나는 한 사마귀가 근엄하게 들어오는 것을 보았다.)
- Người ngợm anh Bọ Ngựa này cũng bình thường thôi, nhưng chưa hiểu sao anh làm ra lối quan dạng đến thế,
(이 사마귀의 몸집은 평범했지만, 어째서인지 매우 거들먹거리는 태도를 보였다.)
anh cứ đi chân nhấc từng bước cao ngang đầu gối kiểu bước chân ngỗng,
(그는 무릎 높이까지 다리를 들어 올리며 거위처럼 걸었고,)
cách thức rất ta đây kẻ giờ và hách dịch.
(태도는 매우 거만하고 으스대는 모습이었다.)
- Cái khấc cổ vươn ra.
(목을 쭉 내밀었고,)
- Cái mặt ngắn củn nhưng cái cằm vuông bạnh lên.
(얼굴은 짧았지만 턱은 네모지게 튀어나와 있었다.)
- Con mắt đu đưa tưởng như ai xung quanh chỉ còn có việc thán phục nhìn anh ta.
(눈은 흔들거리며 주변 사람들이 자신을 감탄하며 바라보는 것처럼 보였다.)
- Hai sợi râu óng ả mấp máy phất lên phất xuống.
(두 개의 윤기 나는 더듬이는 위아래로 흔들리고 있었고,)
- Hai lưỡi gươm bên mạng sườn, lưỡi có răng cưa, luôn luôn co vào trước ngực,
(옆구리의 두 칼날은 톱니 모양이었고 항상 가슴 앞으로 접혀 있었으며,)
ra lối ta đây con nhà võ đi đứng đúng thế võ, lúc nào cũng giữ miếng.
(마치 무술가 집안 출신처럼 항상 자세를 유지하며 행동했다.)
- Trông bộ tịch anh ta như thế, nhưng tôi cũng không để tâm.
(그의 그런 모습에도 나는 별로 신경 쓰지 않았다.)
- Bởi vì tôi đã biết thường những anh tính hay khoe thì cái gì cũng ra miệng hết và chỉ có ở miệng chứ trong bụng nhiều khi chẳng có cóc khô gì.
(왜냐하면 나는 원래 잘난 체하는 사람은 말로만 떠들 뿐 속에는 별것 없는 경우가 많다는 것을 알고 있었기 때문이다.)
- Như anh này, chắc có mấy miếng võ xoàng thì đã trổ ra tay chân mặt mũi cả rồi, chẳng còn gì phải chú ý nữa.
(이 사마귀도 아마 몇 가지 시시한 기술을 이미 다 드러낸 상태라 더 볼 것도 없다고 생각했다.)
- Vả chăng tôi cũng đâu cần để mắt tới cái oai rơm rác và lố bịch ấy.
(게다가 나는 그런 허세 가득하고 우스꽝스러운 모습에 신경 쓸 필요도 없었다.)
- Có nghĩa là lúc đó tôi vẫn đủng đỉnh giữa cửa quán hàng cỏ như không biết có võ sĩ Bọ Ngựa đi vào.
(그 말은 그때 내가 가게 문 앞에서 태연하게 서 있으면서도 사마귀 무사가 들어온 것을 모르는 척하고 있었다는 뜻이다.)
- Thấy thế, Bọ Ngựa bổ luôn cho tôi một nhát gươm vào đầu. Tôi đau điếng.
(그 모습을 보자 사마귀는 곧바로 내 머리를 향해 칼을 내리쳤다. 나는 몹시 아팠다.)
- Tôi nhảy trái, đá hậu cú song phi.
(나는 왼쪽으로 뛰며 뒤차기와 양발차기를 날렸다.)
- Hắn né được và co hai gươm định quạng tôi nữa.
(그는 그것을 피하고 두 칼을 거두어 다시 나를 공격하려 했다.)
- Thấy có xung đột, bao nhiêu khách hàng bỏ chạy hết.
(싸움이 벌어지자 모든 손님들이 도망쳤다.)
- Các chị Cào Cào hốt hoảng nhảy tung, rách cả vạt áo màu.
(여치들은 놀라서 뛰어다니다가 색동 치마 자락이 찢어졌다.)
- Chỉ khổ bác Cành Cạch đã cao tuổi, lại to lớn chạy vướng cái áo dài lụng thụng, ngã ngoẹo càng, nằm cong chân, xoã cánh, kêu trời kêu đất.
(불쌍하게도 나이 많은 큰 체구의 장수잠자리는 헐렁한 옷에 걸려 넘어져 다리를 구부리고 날개를 펼친 채 하늘과 땅을 향해 울부짖었다.)
- Nhưng gã Bọ Ngựa không xông vào giữa mà chỉ giơ gươm trỏ mặt tôi, bảo:
(그러나 그 사마귀는 바로 달려들지 않고 칼을 들어 나를 가리키며 말했다:)
- Có giỏi chốc nữa lên đài.
(“실력이 있으면 이따가 무대에 올라와라.”)
- Tôi cười khểnh, nói lịch sự mỉa mai:
(나는 비웃으며 정중하지만 비꼬는 말투로 말했다:)
- Rất hân hạnh.
(“영광입니다.”)
- Sau đó Bọ Ngựa, thật tức cười, lại trịnh trọng khuỳnh khuỳnh kiểu bước chân ngỗng đúng như lúc nãy.
(그 후 사마귀는 정말 우스꽝스럽게도 아까처럼 거위걸음으로 근엄하게 걸었다.)
- Nhưng bước ra, đi cút luôn mất.
(하지만 곧 나가버리고 사라졌다.)
- Đám đông dần trở lại, quán cỏ lại chen chân mới vào được.
(사람들은 다시 돌아왔고, 가게는 다시 비집고 들어가야 할 만큼 붐볐다.)
- Bây giờ họ xúm quanh tôi, Bác Cành Cạch ngã lúc nãy dậy được, nhô cái mũi nhọn đến, thở hổn hển nói:
(그들은 나를 둘러쌌고, 아까 넘어졌던 장수잠자리는 겨우 일어나 뾰족한 코를 내밀며 숨을 헐떡이며 말했다:)
- Chú mình ơi! Chú mình dại thế!
(“자네야! 왜 그렇게 어리석은가!”)
- Chắc chú mình ở xa đến, chưa biết.
(아마 자네는 먼 데서 와서 아직 모르는 모양이네.)
- Ông ấy là cháu đích tôn cụ võ sư Bọ Ngựa, cả vùng này không ai dám đụng đến cái lông chân ông ấy đâu.
(그는 사마귀 무술가의 직계 손자로, 이 지역에서는 아무도 감히 그에게 손대지 못하네.)
- Ông ấy phen này hẳn tranh được chân trạng võ nối chức cụ võ sư Bọ Ngựa rồi.
(이번에는 틀림없이 무술 우승자가 되어 그 자리를 잇게 될 걸세.)
- Chú mày biết điều thì mau mau tránh đi nơi khác là hơn cả.
(자네가 분별이 있다면 어서 다른 곳으로 피하는 게 좋네.)
- Tôi nói:
(나는 말했다:)
- Cảm ơn chư vị. Bình sinh trên đời tôi không hề biết sợ lời đe doạ nào cả.
(“여러분 고맙습니다. 나는 평생 어떤 협박도 두려워해 본 적이 없습니다.”)
- Bác Cành Cạch còn làu bàu phàn nàn cho tôi là gà dở và nói “chú mình gở chết hay sao ấy”.
(장수잠자리는 여전히 투덜거리며 나를 어리석다고 탓하며 “자네 정말 재수 없게 죽으려고 그러나”라고 말했다.)
- Tôi ở quán bán cỏ ra.
(나는 풀을 파는 가게에서 나왔다.)
- Lời lẽ nhát sợ của bác Cành Cạch nọ làm tôi khó chịu.
(그 장수잠자리의 겁먹은 말투가 나를 불쾌하게 만들었다.)
- Tôi phải bước vào rừng cỏ ngắm làn hoa may đương tràn ngập trong gió phơi phới cho tĩnh tâm lại.
(나는 마음을 진정시키기 위해 바람에 흩날리는 풀꽃이 가득한 풀숲으로 들어가 그 풍경을 바라보았다.)
- Khi trở vào đám hội thì võ đài đương vào cuộc thi tài.
(다시 축제장으로 돌아왔을 때, 무대에서는 경기가 한창이었다.)
- Tôi rất ngạc nhiên khi thấy Trũi đứng sừng sững trên đài, sắp đấu với anh Bọ Muỗm.
(나는 트루이가 당당히 무대 위에 서서 메뚜기와 싸우려는 모습을 보고 매우 놀랐다.)
- Thì ra chú Trũi nhà tôi bấy lâu vẫn còn căm nhà Bọ Muỗm.
(알고 보니 우리 트루이는 오랫동안 메뚜기 집안을 여전히 원망하고 있었다.)
- Cái trận đòn của các mụ Bọ Muỗm nanh ác ngày ấy vẫn chưa thể quên!
(그날 사나운 메뚜기들에게 당한 일은 아직도 잊지 못하고 있었다!)
- Còn căm nặng đến độ bây giờ chỉ gặp một gã Bọ Muỗm xa lạ cũng khiến Trũi nổ máu đòn thù.
(그 분노가 너무 커서 지금은 낯선 메뚜기를 보기만 해도 복수심이 끓어올랐다.)
- Trũi lên đài ngay.
(그래서 트루이는 바로 무대에 올라갔다.)
- Gã Bọ Muỗm kia đã đánh ngã mấy địch thủ nhép hôm qua, đương nhơn nhơn ra vẻ.
(그 메뚜기는 어제 몇 명의 약한 상대를 쓰러뜨리고 의기양양해 있었다.)
- Thực ra gã cũng không phải tay vừa.
(사실 그는 만만한 상대가 아니었다.)
- Người gã xanh rực và vạm vỡ, bắp chân bắp càng bóng nhẫy, mập mạp.
(그의 몸은 선명한 초록색에 건장했고, 다리와 집게는 윤기가 흐르며 살집이 있었다.)
- Lưng gã gờ lên rắn chắc, và đôi cánh màu lá cây làm thành chiếc áo giáp che kín xuống tận đuôi.
(등은 단단하게 솟아 있었고, 나뭇잎 같은 색의 날개는 꼬리까지 덮는 갑옷처럼 보였다.)
- Đằng đuôi, mắc thêm lưỡi gươm cong hoắt.
(꼬리에는 구부러진 칼날이 달려 있었다.)
- Đầu gã lớn, mút nhọn lại, húc rất khoẻ.
(머리는 크고 끝이 뾰족해서 들이받는 힘이 강했다.)
- Hai vành râu trắng phau.
(더듬이는 새하얗게 빛났다.)
- Đôi mắt to hó như mắt cá.
(눈은 물고기 눈처럼 크고 튀어나와 있었다.)
- Hai tảng răng thì đen và nhọn khoằm khoặm.
(이빨은 검고 날카롭게 굽어 있었다.)
- Nếu không có Trũi lên đài thì Bọ Muỗm được đấu thẳng với Bọ Ngựa để tranh chức trạng võ.
(트루이가 올라오지 않았다면 메뚜기는 곧바로 사마귀와 싸워 우승을 겨뤘을 것이다.)
- Hai võ sĩ ra đài.
(두 무사가 무대에 올랐다.)
- Cụ Châu Chấu già lụ khụ đã bạc cả lưng, cái gân đen kẻ nổi gồ trên trán, ra ngồi cầm trịch.
(허리가 굽고 온몸이 희끗해진 늙은 메뚜기가 이마에 검은 힘줄을 드러낸 채 심판으로 앉았다.)
- Trũi và Bọ Muỗm, sau khi mỗi anh đi một bài võ ra mắt như các tay đô vật múa lên đài rồi đứng lại,
(트루이와 메뚜기는 각각 씨름 선수처럼 기술을 한 번씩 선보인 뒤 멈춰 섰다.)
ngó nhau một giây,
(서로를 잠시 바라보다가,)
rồi từ từ đưa chân lên vuốt râu đàng hoàng mấy cái,
(천천히 다리를 들어 더듬이를 몇 번 정리하고,)
rồi bất thình lình ập vào đấu đá liền.
(갑자기 달려들어 곧바로 싸움을 시작했다.)
- Trũi sử đôi càng khéo lắm.
(트루이는 집게를 매우 능숙하게 사용했다.)
- Từ ngày ra đi, Trũi học thêm được nhiều miếng võ, đường quyền coi ngoạn mục và kín.
(집을 떠난 이후 트루이는 많은 기술을 익혀 동작이 화려하면서도 빈틈이 없었다.)
- Bọ Muỗm kia thì không cần võ, chỉ cậy sức, cứ lăn xả vào thọc gươm và cắn lia lịa.
(반면 메뚜기는 기술보다 힘에 의존해 계속 달려들며 칼로 찌르고 마구 물어댔다.)
- Nhưng Trũi uyển chuyển và nhanh hơn, tránh được cả.
(하지만 트루이는 더 유연하고 빨라서 모두 피했다.)
- Loanh quanh một lát, Bọ Muỗm đã mệt phờ.
(잠시 후 메뚜기는 이미 지쳐버렸다.)
- Bấy giờ Trũi mới mở sức.
(그때 트루이는 본격적으로 힘을 쏟기 시작했다.)
- Trũi nhảy phóc lên, đưa hai quả trùy càng ép bẹp vỡ cặp kính bảo vệ mắt của Bọ Muỗm
(트루이는 높이 뛰어올라 두 집게로 메뚜기의 눈 보호막을 눌러 부수고)
rồi thúc thêm một cái đá làm gã kia ngã ngửa,
(이어 강한 발차기를 날려 그를 뒤로 넘어뜨렸다.)
rướn lưng mấy lần mà không dậy được.
(그는 몇 번이나 몸을 일으키려 했지만 결국 일어나지 못했다.)
- Cụ Châu Chấu cầm trịch thong thả bước tới dắt chàng võ sĩ được trận ra một bên và tuyên bố kẻ thắng trận.
(심판인 늙은 메뚜기는 천천히 다가와 승리한 무사를 한쪽으로 이끌고 가서 승자를 선언했다.)
- Cả bãi xôn xao.
(들판 전체가 술렁거렸다.)
- Vừa hoan hô, vừa lạ lùng vì chưa ai biết võ sĩ Trũi tài giỏi ấy ở đâu ra.
(사람들은 환호하면서도 그 뛰어난 트루이가 어디서 나타났는지 몰라 놀라워했다.)
- Cụ Châu Chấu già cầm trịch nâng cái loa dài tết bằng lá cỏ ấu, nói xuống đài:
(늙은 메뚜기 심판은 풀잎으로 엮은 긴 나팔을 들어 무대 아래로 외쳤다:)
- Võ sĩ Dế Trũi thắng võ sĩ Bọ Muỗm.
(“무사 트루이가 메뚜기를 이겼다.”)
- Bây giờ các võ sĩ trong thiên hạ đã đông đủ về đây, ai lên đấu với võ sĩ Dế Trũi:
(“이제 천하의 무사들이 모두 모였으니, 누가 트루이와 싸울 것인가?”)
- Tiếng ông cụ gọi loa vang đài, ai nấy lặng yên nghe, lặng yên nghe.
(그의 외침이 무대에 울려 퍼지자 모두 조용히 귀를 기울였다.)
- Bỗng một tiếng đáp vang động: “Có ta đây!”
(그때 갑자기 “내가 있다!”라는 큰 소리가 울려 퍼졌다.)
- Rồi anh chàng Bọ Ngựa ban nãy vừa lôi thôi với tôi, nhảy vót lên.
(그리고 아까 나와 시비가 붙었던 사마귀가 단숨에 뛰어올랐다.)
- Cơ nguy cho Trũi, vì xem anh chàng Trũi đã có vẻ mệt.
(트루이에게는 위기였다. 그는 이미 지쳐 보였기 때문이다.)
- Vả lại, thấy Bọ Ngựa ngông ngáo, nhớ chuyện ban nãy ở quán hàng, cái bực mình trong tôi tức tốc trở lại.
(게다가 사마귀의 건방진 모습을 보자, 아까 가게에서 있었던 일이 떠올라 내 분노가 다시 치밀어 올랐다.)
- Tôi nhảy phắt lên đài, quát:
(나는 단숨에 무대에 뛰어올라 외쳤다:)
- Khoan khoan, đây trước đã. Nhớ hẹn chứ?
(“잠깐, 내가 먼저다. 약속 기억하지?”)
- Bọ Ngựa lùi lại rồi “à” một tiếng rõ to, nghênh hai thanh gươm lên – vẫn một điệu tự cao tự đại như thế.
(사마귀는 뒤로 물러나며 “아!” 하고 크게 외치고 두 칼을 치켜들었는데, 여전히 거만한 태도였다.)
- Lại như lệ trên trường đấu ngày ấy, trước khi vào cuộc, mỗi bên biểu diễn một vài đường quyền, theo sở trường mình.
(그날의 규칙대로 싸움에 들어가기 전 각자 자신의 특기를 보여주었다.)
- Bọ Ngựa đứng vươn mình, đi bài song kiếm.
(사마귀는 몸을 쭉 펴고 쌍검 기술을 펼쳤다.)
- Bóng kiếm loang loáng, mù mịt như hoa may điệu bộ khá đẹp mắt.
(검빛은 번쩍이며 흩날리는 풀꽃처럼 어지럽게 보였고, 꽤 볼 만했다.)
- Tôi chẳng cần đi bài gì hết.
(나는 따로 기술을 펼칠 필요도 없었다.)
- Tôi đứng nghiêng người về đằng trước, hếch hai càng lên.
(나는 몸을 앞으로 기울이고 두 집게를 치켜들었다.)
- Cứ hai càng ấy, tôi ra oai sức khoẻ, đạp phóng tanh tách liên tiếp một hồi,
(그 두 집게로 힘을 과시하며 연속으로 강하게 차올렸고,)
gió tuôn thành từng luồng xuống bay tốc cả áo xanh áo đỏ các cô Cào Cào đứng gần.
(그 바람이 몰아쳐 근처에 있던 여치들의 빨간 옷, 파란 옷이 펄럭였다.)
- Lúc vào đấu, Bọ Ngựa cao nên lợi đòn.
(싸움이 시작되자 키가 큰 사마귀가 유리했다.)
- Hai gươm hắn bổ xuống đầu tôi chan chát.
(그는 두 칼로 내 머리를 연달아 내리쳤다.)
- Nhưng đầu tôi đầu gỗ lim tôi lựa cách đã, không vần gì hết.
(하지만 내 머리는 단단해서 전혀 상처를 입지 않았다.)
- Còn tôi đoản người, tôi nhè bụng hắn mà đá, khiến có lúc hắn phải hạ gươm xuống đỡ, mất đà, đâm loạng choạng.
(나는 키가 작았기에 그의 배를 노려 차서, 그가 칼을 내려 막다가 균형을 잃고 휘청거리게 만들었다.)
- Biết không chém vỡ được đầu tôi, hắn liền đổi miếng ác, co gươm, quặp cổ tôi.
(내 머리를 베지 못하자 그는 전술을 바꿔 칼을 접고 내 목을 낚아챘다.)
- Hắn định lách gươm nghiêng vào khe họng – chỗ hiểm, cuống họng tôi có khe thịt dễ đứt.
(그는 칼을 내 목의 틈, 즉 치명적인 급소인 목구멍 사이로 찔러 넣으려 했다.)
- Thấy thế nguy, tôi gỡ đòn, cúi xuống, thúc nhanh một răng rất sâu vào bụng hắn.
(위험하다고 느낀 나는 공격을 풀어내며 몸을 낮추고 그의 배에 깊숙이 한 방을 찔러 넣었다.)
- Choáng người, Bọ Ngựa nhảy lộn qua lưng tôi.
(충격을 받은 사마귀는 내 등을 넘어 뒤로 튕겨 올랐다.)
- Tôi cũng chỉ đợi có thế.
(나는 바로 그 순간을 기다리고 있었다.)
- Vừa đúng là càng – lừa vào miếng võ gia truyền của nhà Dế,
(그 순간을 이용해 나는 집게로 유인하여 우리 집안의 전통 기술을 펼쳤다.)
tôi lấy tấn, đá hậu đánh phách một đá trời giáng vào giữa mặt anh chàng.
(자세를 잡고 뒤차기로 그의 얼굴 한가운데에 강력한 일격을 날렸다.)
- Chàng Bọ Ngựa kiêu ngạo rú lên một tiếng, bắn tung lên trời, rơi tọt ra ngoài võ đài, ngã vào đám đông xôn xao.
(거만하던 사마귀는 비명을 지르며 공중으로 튕겨 올라갔다가 무대 밖으로 떨어져 사람들 사이로 굴러떨어졌다.)
- Tôi đã hạ địch thủ một cách vẻ vang,
(나는 당당하게 상대를 쓰러뜨렸다.)
trong khi dưới đám hội còn đương ồn ào nhốn nháo vì không ai ngờ võ sĩ Bọ Ngựa giỏi võ nhất vùng đồng cỏ lại thua nhanh và thua đau như thế và thua bởi một chàng Dế Mèn lạ mặt ở đâu đến.
(그 사이 관중들은 가장 강하던 사마귀가 이렇게 빨리, 그리고 처참하게, 어디서 온지도 모르는 귀뚜라미에게 패배했다는 사실에 크게 소란스러워했다.)
- Còn chưa ai hết lạ lùng thì cụ Châu Chấu cầm trịch lại ra, trịnh trọng giơ loa lên, ba lần đều đặn, hô vang vang xuống:
(사람들이 아직 놀라움을 금치 못하는 사이, 심판인 늙은 메뚜기가 다시 나와 나팔을 들고 세 번 또박또박 크게 외쳤다:)
- Tôi xin hỏi đông đủ các võ sĩ trong thiên hạ tề tựu quanh võ đài, có còn ai lên đấu nữa chăng?
(“여기 모인 모든 무사들 가운데, 더 싸울 사람이 있는가?”)
- Cả đám hội im lặng.
(모든 사람들이 조용해졌다.)
- Cụ Châu Chấu cầm trịch lại hô tiếp.
(심판은 다시 외쳤다.)
- Bây giờ trận đấu tranh hùng kết thúc. Võ sĩ Dế Trũi đấu với võ sĩ Dế Mèn!
(“이제 최종 결전이다. 트루이와 데멘이 맞붙는다!”)
- Ơ hay, tôi sẽ đấu võ với Trũi?
(이게 무슨 일인가, 내가 트루이와 싸운다고?)
- Tôi nhìn sang Trũi.
(나는 트루이를 바라보았다.)
- Vừa lúc Trũi lại nhìn tôi.
(마침 트루이도 나를 보고 있었다.
- Chúng tôi cùng nhau đi đến đất này để đấu võ tranh quyền với nhau ư?
(우리가 서로 싸우기 위해 이곳까지 온 것인가?)
- Bất giác, tôi tiến lại Trũi, đứng thẳng hai chân trước, khoác vai Trũi, hai chúng tôi hướng xuống dưới võ đài.
(나는 무심코 트루이에게 다가가 앞다리를 곧게 세우고 그의 어깨에 팔을 두르며 함께 무대 아래를 향했다.)
- Khắp bãi, rờn bóng hoa may, tụ tập hàng nghìn vạn các loài trong vùng đi xem hội võ,
(풀꽃이 가득한 들판에는 수많은 생물들이 모여 무술 대회를 보고 있었고,)
tôi nói to lên rằng:
(나는 크게 말했다:)
- Thưa chư vị, anh em chúng tôi vừa từ phương xa tới đây.
(“여러분, 우리는 먼 곳에서 이곳에 왔습니다.)
- Cái chủ đích của chúng tôi thật không định tranh lèo giật giải gì ở đất này.
(우리는 이곳에서 우승을 다투려는 목적이 전혀 없습니다.)
- Đất lành chim đậu, thấy phong tục vui thì chúng tôi đến góp mặt vui chung mà thôi.
(좋은 곳이라 들러 이 즐거운 풍습을 함께 즐기러 왔을 뿐입니다.)
- Bây giờ, cái điều chúng tôi không chờ đợi là anh hùng bốn phương đều đã lui cả mà nhường quyền đọ sức cao thấp sau cùng cho anh em chúng tôi.
(지금 예상치 못하게 모든 강자들이 물러나 우리에게 마지막 승부를 맡기게 되었습니다.)
- Với sự tranh đua, anh em chúng tôi xin lỗi, không thể.
(그러나 경쟁에 대해서는 죄송하지만 우리는 할 수 없습니다.)
- Bởi vì sao, chắc chư vị đã rõ.
(그 이유는 여러분도 잘 아실 것입니다.)
- Còn về ngôi thứ trách nhiệm thì anh em chúng tôi xin lỗi, không dám.
(또한 그 자리와 책임 역시 우리는 감당할 수 없습니다.)
- Anh em chúng tôi chỉ là hai kẻ giang hồ thấy đất quê đẹp đẽ thì ghé tới trên đường đi mà không định ý ở đâu cả.
(우리는 그저 길을 가다 이 아름다운 곳에 잠시 들른 떠돌이일 뿐, 어디에 머물 생각도 없습니다.)
- Dám xin chư vị xét cho.
(부디 이해해 주시기 바랍니다.”)
- Tôi vừa nói xong, ở dưới vang lên tiếng the thé, tiếng ầm ầm.
(내가 말을 마치자 아래에서는 날카로운 소리와 웅성거리는 소리가 터져 나왔다.)
- Kẻ thì bảo nhất quyết phải mời chúng tôi ra thi đấu, lệ vùng này nghìn xưa như thế.
(어떤 이들은 반드시 우리를 시합에 참가시켜야 한다고 했는데, 이 지역의 오랜 전통이라는 것이었다.)
- Kẻ thì rằng thôi.
(어떤 이들은 그만두자고 했다.)
- Sau có một ban bô lão thượng thọ của đám hội cắt ra trông nom võ đài – một cụ Châu Chấu, một cụ Bọ Ngựa, một cụ Cành Cạch, một cụ Cào Cào, một cụ Niềng Niễng,
(그 후, 축제를 관리하는 원로들로 이루어진 위원회가 나섰는데, 늙은 메뚜기, 사마귀, 장수잠자리, 여치, 물자라가 포함되어 있었다.)
các cụ ra nói với chúng tôi rằng:
(그들은 우리에게 말했다:)
- Thưa hai võ sĩ, đất lành chim đậu, hai võ sĩ qua đây, lại có lòng lên thi thố tài nghệ siêu quần, thiên hạ không còn ai đối địch nổi, thật là phúc cho chúng tôi.
(“두 분 무사님, 좋은 곳에는 새가 모이듯 두 분께서 이곳에 와서 뛰어난 실력을 보여주시고, 더 이상 대적할 사람이 없으니 이는 우리에게 큰 복입니다.)
- Hai võ sĩ là anh em một nhà, lại là những tay võ đồng môn với nhau thì càng may cho chúng tôi
(두 분이 형제이자 같은 문파의 무사라니 더할 나위 없이 다행입니다.)
và như thế, cái lệ đấu có thể bỏ đi được.
(그러니 결승전은 생략해도 될 것입니다.)
- Nhưng việc chịu trách nhiệm về đứng đầu vùng này thì phải có một trong hai ngài nhận.
(하지만 이 지역을 이끄는 책임은 두 분 중 한 분이 반드시 맡아야 합니다.)
Đó là phong tục đất chúng tôi hàng bao đời vẫn chọn tài như thế.
(이는 우리 지역이 오랫동안 이어온 전통입니다.”)
- Tôi thì hết lời từ chối.
(나는 끝까지 사양했다.)
- Còn Trũi đứng lặng không nói ( về sau tôi mới biết sự im lặng của Trũi có một ý nghĩa riêng ).
(트루이는 말없이 서 있었는데, 나중에야 그 침묵에 나름의 의미가 있다는 것을 알게 되었다.)
- Tôi đành phải nhận.
(결국 나는 받아들일 수밖에 없었다.)
- Thế là cả đám hội ầm vang lời hoan hô tôn chúng tôi lên là chánh phó, thủ lĩnh đứng đầu các làng trong vùng cỏ may.
(그러자 사람들은 크게 환호하며 우리를 이 지역의 최고 지도자로 추대했다.)
- Cả đám hội xô vào làm kiệu rước hai tôi lên, đi chen trong đám đông và hoa cỏ may.
(사람들은 우리를 가마에 태워 군중과 풀꽃 사이를 지나 행진했다.)
- Các chị Cào Cào áo xanh áo đỏ làm duyên đứng nghiêng khuôn mặt dài ngoằng nhìn theo chúng tôi một đỗi rất lâu, tỏ vẻ mến phục.
(푸른 옷과 붉은 옷을 입은 여치들은 얼굴을 기울이며 오랫동안 우리를 바라보며 감탄했다.)
- Tất cả tung cỏ, tung hoa may.
(모두가 풀과 꽃을 던지며 환영했다.)
- Đồng dân cử bài hát rầm rộ.
(사람들은 떠들썩하게 노래를 불렀다.)
- Rồi cùng nhau mừng rỡ cầm tay khiêu vũ.
(그리고 서로 손을 잡고 기쁘게 춤을 췄다.)
- Cành Cạch với Châu Chấu, Cào Cào với Bọ Muỗm nhảy múa linh đình.
(장수잠자리와 메뚜기, 여치와 메뚜기가 어울려 신나게 춤을 췄다.)
- Từ trong hang, trong lá ra đến ngoài bãi, ngoài đồng, hoa may trắng suốt chân trời.
(굴과 잎 사이에서부터 들판과 논밭까지, 하얀 풀꽃이 끝없이 펼쳐져 있었다.)
- Tôi bước lên đài, uốn éo múa càng, rung cánh, trổ một bài hát rất du dương.
(나는 무대에 올라 집게를 흔들고 날개를 떨며 아름다운 노래를 불렀다.)
- Trũi thì hớn hở hơn ai hết.
(트루이는 누구보다 기뻐했다.)
- Thì ra lúc nãy cu cậu im không nói gì chỉ sợ tôi từ chối cái địa vị thủ lĩnh.
(알고 보니 아까 그가 말하지 않았던 것은 내가 그 자리를 거절할까 봐서였다.)
- Đến khi thấy tôi nhận lời, Trũi ra hét inh lên, múa rối rít hai càng khiến những bác Cành Cạch nhút nhát, mới đầu cũng sợ đáo để!
(내가 받아들이자 그는 크게 외치며 집게를 휘둘러, 겁 많은 장수잠자리들조차 깜짝 놀라게 했다.)
- Chúng tôi ở lại vùng cỏ may được ít lâu.
(우리는 그 풀꽃 지역에 잠시 머물렀다.)
- Ngày lại ngày…
(날이 가고 또 날이 가며…)
- Tôi thì hơi buồn và băn khoăn.
(나는 조금 슬프고 마음이 복잡했다.)
- Nể quá mà phải nhận lời đó thôi.
(너무 사정이 간절해서 어쩔 수 없이 받아들였을 뿐이다.)
- Tôi vẫn chỉ muốn được thoả chí nguyện của mình là đi đây đi đó, thế đủ sung sướng rồi.
(나는 그저 이곳저곳을 돌아다니며 내 뜻을 이루는 것만으로도 충분히 행복하다고 생각했다.)
- Trái với tôi, Trũi rất thú vị.
(나와는 달리 트루이는 매우 즐거워했다.)
- Đứng đâu Trũi cũng tỏ vẻ khoái cứ nghiêng râu mép lên gảy đàn tưng tưng.
(어디에 서 있든지 트루이는 즐거운 듯 수염을 기울이며 흥얼거리곤 했다.)
- Tôi bảo Trũi:
(나는 트루이에게 말했다:)
- “Đừng tưởng thấy an nhàn mà vui!
(“편안하다고 해서 즐겁기만 한 것은 아니야!)
- Huống chi đời ta còn trẻ mà sống chỉ có an nhàn thế này thì buồn tẻ khác nào khi chúng ta còn ở trong hang quê nhà”.
(게다가 우리는 아직 젊은데 이런 안일한 삶만 산다면 고향 굴에 있을 때와 다를 바 없이 지루할 뿐이야.”)
- Quả nhiên mùa đông năm ấy xảy ra một việc biến lớn.
(과연 그해 겨울, 큰 변화가 일어났다.)
- Cỏ may trên bờ đường đi đã tàn.
(길가의 풀꽃은 이미 시들어버렸다.)
- Những con bò gầy tọp, dũi toét cả mũi cũng chỉ vơ được mấy chiếc rễ cỏ khô.
(여윈 소들조차 코를 땅에 박고도 마른 풀뿌리 몇 개밖에 찾지 못했다.)
- Người trong làng ra đồng gặt lúa.
(마을 사람들은 들판으로 나가 벼를 수확했다.)
- Cánh đồng vàng rượi xưa kia đã được người ta lấy liềm gặt, bó từng lượm, cái đòn xóc đâm ngang thành từng gánh, quẩy về sân.
(황금빛 들판은 낫으로 베어 묶이고, 지게에 지어 마당으로 옮겨졌다.)
- Trên mênh mông chỉ còn trơ lại những gốc rạ khô.
(넓은 들판에는 마른 볏짚 그루터기만 남아 있었다.)
- Thế là mùa rét đã tới.
(이렇게 겨울이 찾아왔다.)
- Cánh đồng vắng ngắt, màu xám trên trời và màu xám dưới đất đã liền vào nhau và ở giữa có gió suốt đêm ngày.
(들판은 적막했고, 하늘의 회색과 땅의 회색이 하나로 이어진 듯했으며 그 사이로 바람이 밤낮으로 불어왔다.)
- Trẻ con ra ngoài đồng thì lạnh tai và đỏ hắt mũi.
(아이들이 들판에 나가면 귀가 시리고 코가 빨개졌다.)
- Rét quá, rúm cả chân.
(너무 추워 발까지 오그라들었다.)
- Chẳng ai có thể trốn trên đồng không được.
(그 누구도 들판에 그대로 머물 수 없었다.)
- Phải đi tìm nơi tránh rét.
(반드시 추위를 피할 곳을 찾아야 했다.)
- Nếu cứ phong phanh giữa trời suốt mùa đông thì đến chết cả.
(겨울 내내 이렇게 노출되어 있다가는 모두 죽게 될 것이다.)
- Bởi thế, đã thành thói quen từ xưa, cứ mùa rét đến thì các loài sống trong vùng này lại bỏ cánh đồng lạnh ngắt lạnh ngơ mà lũ lượt đi kiếm nơi tránh rét.
(그래서 예전부터의 습관처럼 겨울이 오면 이 지역의 생물들은 차가운 들판을 떠나 무리를 지어 피난처를 찾아 나섰다.)
- Có khi phải tranh cướp, đánh nhau mới tìm được chỗ.
(때로는 자리를 차지하기 위해 싸우기도 했다.)
- Bởi vì trong mùa rét, nhiều loài áo mỏng khác cũng đi tìm kiếm chỗ ở ấm như thói quen của họ nhà Châu Chấu.
(왜냐하면 겨울이 되면 메뚜기처럼 다른 연약한 생물들도 따뜻한 곳을 찾기 때문이다.)
- Tôi bảo Trũi:
(나는 트루이에게 말했다:)
- Có phải thế không, Trũi thấy nhé.
(“그렇지 않니, 트루이?)
- Gió thổi hun hút đến nỗi con kiến chỉ có cái chân bé tẹo bằng hạt bụi cũng phải ra
- sức đào sâu xuống dưới đất mới tìm được tí hơi đất ấm.
(바람이 너무 세게 불어서 작은 먼지 같은 다리를 가진 개미조차도 땅속 깊이 파고들어야 겨우 따뜻함을 찾을 수 있어.)
- Lo cho cái sống cũng gay lắm đây.
(살아남는 것도 쉽지 않은 일이야.)
- Kìa bao nhiêu loài phải xô đẩy nhau đi tìm chỗ trú ẩn trong mùa đông tháng giá.
(봐라, 수많은 생물들이 겨울을 피하려고 서로 밀치며 피난처를 찾고 있잖아.)
- Mùa đông khủng khiếp đã đến rồi.
(무서운 겨울이 이미 닥쳤어.)”
- Tôi bảo bà con rằng:
(나는 사람들에게 말했다:)
- Cái rét đã đến ngoài đồng, chúng ta hãy kíp đi tìm nơi ấm áp mà trú ẩn.
(“추위가 들판에 닥쳤으니, 우리는 서둘러 따뜻한 곳을 찾아 피해야 합니다.”)
- Chẳng mấy lúc, không còn thấy bóng ai ngoài trời.
(얼마 지나지 않아 밖에는 아무도 보이지 않게 되었다.)
- Bọn Chuồn Chuồn cánh giấy – các cậu Kim Kìm Kim ốm o biết mình không chịu nổi nửa cơn gió giật đã mò mẫm đi trước.
(얇은 날개의 잠자리들, 특히 여윈 김킴킴들은 바람을 견디지 못할 것을 알고 먼저 떠나갔다.)
- Anh em nhà Niềng Niễng thì lặn xuống bùn nằm với các anh Gọng Vó, bên cạnh những Cua, những Ếch lo rét đương vội vã đắp những cái mà đất lô nhô bát úp quanh các bờ đầm ao.
(물자라들은 진흙 속으로 들어가 물거미, 게, 개구리들과 함께 추위를 피하려고 연못 주변에 흙을 쌓고 있었다.)
- Châu Chấu, Cào Cào, Bọ Ngựa, Bọ Muỗm thì đi tìm khe dứa dại.
(메뚜기, 여치, 사마귀, 풀벌레들은 야생 파인애플 잎 틈을 찾으러 갔다.)
- Trong mùa đông, chỉ có những bụi dứa dại xanh nguyên, mỗi chiếc lá dứa vẫn dỏng cái tai cứng lên nền trời xám.
(겨울에도 야생 파인애플만은 푸르게 남아 있고, 잎은 단단하게 하늘을 향해 서 있었다.)
- Kẽ lá dứa sâu hoắm, ta có thể chúi được vào đấy, nằm chống đuôi ra, bất chấp mưa gió bên ngoài.
(잎 사이의 틈은 깊어서 그 안에 몸을 숨기고 바깥의 비바람을 피할 수 있었다.)
- Cứ vào đấy, nằm yên đấy, cho đến khi những ngày xuân trở lại, thấy cái ấm đậu xuống hai vai và nghe tiếng con chim chích kêu vui chanh chách ngoài khe lá, lúc ấy mới bước ra.
(그 안에서 가만히 있다가 봄이 오고 따뜻함이 느껴지며 새소리가 들릴 때 비로소 밖으로 나오는 것이다.)
- Chúng tôi đi tìm chỗ ở mùa đông.
(우리는 겨울을 날 곳을 찾으러 갔다.)
- Tìm nơi ở mùa đông là việc năm nào cũng phải làm và bao giờ cũng gian nan.
(겨울을 날 곳을 찾는 일은 해마다 반복되며 언제나 힘들다.)
- Bởi vì không bao giờ và không có chỗ nào cứ đến là đã sẵn chỗ.
(왜냐하면 가면 바로 쉴 수 있는 자리는 어디에도 없기 때문이다.)
- Hơn nữa, ai cũng muốn được nơi ở tốt nhất.
(게다가 모두가 가장 좋은 자리를 원한다.)
- Ấy thế là cái cảnh tranh giành, lắm khi đổ máu, lại thường diễn ra.
(그래서 자리 다툼과 심지어 피를 흘리는 싸움까지 벌어지곤 한다.)
- Ngoài đồng, mây đen cuồn cuộn, gió thổi tan tác, mặt đất và gió lùa cái giá buốt vào tận ruột gan, không ai muốn cất một bước.
(들판에는 검은 구름이 몰려오고 바람이 거세게 불어 살을 에는 추위가 몸속까지 파고들어 아무도 움직이고 싶지 않았다.)
- Thế mà vẫn phải đi, đi mãi đi mãi chưa tìm thấy đâu chỗ ẩn náu.
(그럼에도 계속 가야 했고, 한참을 가도 피할 곳을 찾지 못했다.)
- Khe lá nào, gốc cây nào cũng vô khối các loài áo mỏng vào tránh rét, trốn rét ròng rã nhiều ngày, mỗi sáng ra lại bỏ lại ven đường mấy cái xác bạn chết cóng rất đau thương mà vẫn chưa tìm ra được nơi trú ngụ.
(어느 잎 틈이든 나무 밑이든 이미 많은 생물들이 들어가 있었고, 며칠씩 버티다 매일 아침마다 얼어 죽은 시체가 길가에 남아 있었지만 여전히 피할 곳을 찾지 못했다.)
- Lại phải đánh nhau thôi, một là sống, hai là chết, có đánh nhau mới giành được chỗ ở – tiếng bàn tán và than thở như thế trong đám đông, mỗi lúc càng xôn xao.
(결국 싸울 수밖에 없다, 살거나 죽거나, 싸워야 자리를 얻는다—이런 말들이 군중 속에서 점점 더 크게 퍼졌다.)
- Một ngày kia, chúng tôi đến một bờ đê, trông xuống thấy nhiều bụi dứa, trong lòng rất hồi hộp.
(어느 날 우리는 둑에 도착했고, 아래에 많은 파인애플 덤불을 보고 가슴이 설렜다.)
- Mấy anh Bọ Muỗm cao cẳng rón chân đi thám thính xem ai đã đến trú chưa.
(몇몇 긴 다리의 풀벌레들이 살금살금 가서 누가 이미 자리를 차지했는지 살폈다.)
- Quân thám thính về báo, các kẽ lá đều ở đầy Châu Chấu Voi.
(정찰병이 돌아와 보고하기를, 잎 틈마다 이미 큰 메뚜기들로 가득 차 있었다.)
- Cả đoàn sau lưng chúng tôi la ó và kêu rầm rĩ.
(우리 뒤에 있던 무리 전체가 소리를 지르며 떠들어댔다.)
- Họ không muốn đi, họ không đi nổi nữa.
(그들은 더 이상 가고 싶지도, 갈 수도 없었다.)
- Tôi trù trừ một lát rồi sau thấy đám đông ùn lên, nhốn nháo, thế là tôi cũng hùa theo, chúng tôi kêu lên “Cứ xông vào, đánh nhau thì đánh nhau, chết thôi”.
(나는 잠시 망설이다가 사람들이 몰려들며 소란스러워지는 것을 보고 결국 따라가며 외쳤다: “그냥 돌진하자, 싸워야 한다면 싸우고, 죽으면 죽는 거다.”)
- Thế là chúng tôi kéo đến từng góc dứa, leo lên lách vào khe lá đầy gai phủ ở ngoài, cứ cắn đuôi từng Châu Chấu Voi mà lôi giật lùi.
(우리는 각 파인애플 덤불로 몰려가 가시로 덮인 잎 사이를 비집고 들어가 큰 메뚜기들의 꼬리를 물고 끌어냈다.)
- Khó chịu, bọn Châu Chấu Voi nhảy ra.
(짜증이 난 큰 메뚜기들은 밖으로 뛰쳐나왔다.)
- Thế là chúng tôi, một phần tranh nhau nhảy xuống khe dứa hở, một phần thì xúm lại đánh cho Châu Chấu Voi không quay vào được nữa.
(우리는 일부는 빈 틈으로 뛰어들어 자리를 차지하고, 일부는 모여서 그들이 다시 들어오지 못하게 공격했다.)
- Bọn Châu Chấu Voi khoẻ lắm.
(큰 메뚜기들은 매우 강했다.)
- Anh nào cũng hùng dũng và hiên ngang.
(모두가 용맹하고 당당했다.)
- Chẳng trách họ được tên là Châu Chấu Voi.
(그래서 그들이 ‘코끼리 메뚜기’라 불리는 것도 무리가 아니었다.)
- Một Châu Chấu Voi đương thoắt xông tới.
(한 마리가 갑자기 돌진해왔다.)
- Sắc xanh biếc, lưng cao nhọn và ngang ngạnh lên.
(푸른 빛을 띠고, 등은 높고 날카롭게 솟아 있었다.)
- Hai chiếc râu trổ ra dữ như hai cái đinh.
(두 개의 더듬이는 못처럼 날카로웠다.)
- Đôi càng đã to, to hơn càng tôi mà quanh bắp vế còn lắp chi chít những mũi mác nhọn như chông.
(집게는 나보다 훨씬 크고, 다리에는 창처럼 날카로운 가시가 빽빽했다.)
- Chẳng cần biết mình có thể yếu thế, bởi vì mỗi Châu Chấu Voi to gấp mấy lần Châu Chấu thường, nhưng chúng tôi cứ lăn xả vào vây đánh.
(우리는 상대가 훨씬 크고 강하다는 것을 알면서도 무작정 달려들었다.)
- Chúng tôi đương liều.
(우리는 목숨을 걸고 싸우고 있었다.)
- Choảng nhau rối rít đến tận chiều cũng chưa ngã ngũ bên được bên thua.
(격렬한 싸움은 저녁까지 이어졌지만 승패는 나지 않았다.)
- Đám Châu Chấu đã chui được vào chiếm khe dứa sợ quá, lại nhào cả ra.
(이미 자리를 차지했던 메뚜기들마저 두려워 밖으로 뛰쳐나왔다.)
- Thế là chúng tôi vẫn long đong ngoài trời rét, buốt lên tận óc.
(그래서 우리는 여전히 추운 밖에서 떠돌며 뼛속까지 시렸다.)
- Nhưng có điều đau đớn hơn cho tôi là Trũi đã bị Châu Chấu Voi bắt làm tù binh rồi.
(하지만 더 괴로운 것은 트루이가 그들에게 붙잡혀 포로가 되었다는 사실이었다.)
- Cả đêm tôi trằn trọc lo không chợp được mắt.
(나는 밤새 뒤척이며 한숨도 자지 못했다.)
- Mờ mờ hôm sau, chúng tôi đông hàng nghìn lại kéo vào vây rặng dứa.
(다음 날 새벽, 우리는 수천 명이 모여 다시 덤불을 포위했다.
- Phải cứu Trũi kỳ được.
(반드시 트루이를 구해야 했다.)
- Nhưng khi xô lên, nhòm vào khe lá, thì lạ thay!
(하지만 밀고 올라가 잎 사이를 들여다보니 이상하게도!)
- Các khe lá rỗng tuyếch, không còn một bóng Châu Chấu Voi!
(잎 틈은 텅 비어 있었고 큰 메뚜기들은 하나도 없었다!)
- Họ đã rút đi từ lúc nào.
(그들은 이미 떠나버린 것이었다.)
- Có lẽ sợ chúng tôi đông quá và cái hăng thí mạng của chúng tôi, họ đã ra đi từ ban đêm.
(아마 우리의 수와 결의를 두려워해 밤에 떠난 것 같았다.)
- Thôi thế dù sao cũng là xong nỗi lo mùa đông.
(어쨌든 겨울을 날 걱정은 해결되었다.)
- Nhưng được chỗ ở ấm rồi mà tôi cứ ngao ngán cả người.
(하지만 따뜻한 곳을 얻고도 나는 마음이 무거웠다.)
- Bởi vì, lúc rút chạy, Châu Chấu Voi đã mang đi cả tù binh.
(왜냐하면 그들이 떠날 때 포로도 데려갔기 때문이다.)
- Trũi mất tích rồi.
(트루이는 사라졌다.)
- Chúng tôi được vào ở kín cả trong bụi dứa.
(우리는 파인애플 덤불 안에 자리 잡았다.)
- Ngày đêm trên đầu khe, gió hú, gió gào bên ngoài nhưng trong vẫn ấm áp và êm đềm như thường.
(밖에서는 바람이 밤낮으로 몰아쳤지만 안은 여전히 따뜻하고 평온했다.)
- Khi nơi ăn chốn ở đầy đủ cả, tôi mới nói rằng:
(생활이 안정되자 나는 말했다:)
- Trong trận xung đột vừa rồi, chẳng may em tôi bị cầm tù, phải Châu Chấu Voi đem đi đày đến tận xứ sở nào không rõ.
(이번 싸움에서 불행히도 내 동생은 붙잡혀 어디로 끌려갔는지 모른다.)
- Ngày trước anh em tôi đã thề cùng nhau sinh tử.
(우리는 생사를 함께 하기로 맹세했었다.)
- Bây giờ cơ sự xảy ra thế này, tôi không đành tâm ngồi lại đây.
(이런 일이 생겼는데 여기 머물 수 없다.
- Tôi phải đi tìm, cùng trời cuối đất nào tôi cũng đi, đi
(나는 반드시 찾으러 갈 것이다, 하늘 끝 땅 끝까지라도 가겠다…)
bao giờ gặp được nhau thì anh em tôi lại trở về đây.
(언젠가 다시 만나게 되면 우리는 이곳으로 돌아올 것이다.)
- Ai nấy xúm lại can ngăn, không muốn tôi đi.
(모두가 나를 붙잡으며 떠나지 말라고 했다.)
- Nhưng chí tôi đã quyết.
(하지만 내 결심은 확고했다.)
- Tình em nghĩa bạn, ở yên một mình sao đặng.
(형제와 친구의 정을 생각하면 혼자 남아 있을 수 없다.)
- Vả lại, tù chân một chỗ cũng đã lâu, tôi nóng ruột lắm.
(게다가 한곳에만 머문 지도 오래되어 마음이 몹시 답답했다.)
- Biết không thể lưu tôi lại, ai cũng ngao ngán.
(나를 붙잡을 수 없다는 것을 알고 모두 안타까워했다.)
- Họ dặn đi dặn lại rằng hễ tìm được Trũi thế nào cũng phải trở về.
(그들은 트루이를 찾으면 반드시 돌아오라고 거듭 당부했다.)
- Tôi nói:
(나는 말했다:)
- Chư vị hãy yên tâm, mặt đất rộng mà hẹp, thế nào chúng ta cũng còn khi gặp nhau.
(“여러분, 걱정 마십시오. 세상은 넓으면서도 좁으니 우리는 반드시 다시 만날 것입니다.”)
- Chia tay lưu luyến, tôi cũng bịn rịn, tuy không khóc nhưng lòng nao nao, bùi ngùi.
(헤어짐이 아쉬워 나 역시 마음이 먹먹했고, 울지는 않았지만 슬픔이 밀려왔다.)
- Cảnh biệt ly bao giờ chẳng vậy.
(이별은 언제나 그런 것이다.)
- Thế là, khăn gói gió đưa, tôi lại bước chân đi.
(그렇게 나는 짐을 꾸리고 다시 길을 떠났다.)
- Bấy giờ đã tàn mùa hoa may từ lâu.
(그때는 이미 풀꽃의 계절이 한참 지나 있었다.)
- Trên đồng bãi và bờ ruộng chỉ còn xám mờ nhưng đám gốc rạ và gốc cỏ của trẻ chăn trâu đã nhổ lên, chất đống, để đốt sưởi.
(들판과 논둑에는 회색빛만 남아 있었고, 아이들이 뽑아 모아둔 볏짚과 풀더미는 불을 피우는 데 쓰이고 있었다.)
- Đám khói cỏ xanh ngắt trong vòm trời gió buốt, càng đượm vẻ thê lương.
(차가운 바람 속에서 피어오르는 푸른 연기는 더욱 쓸쓸한 분위기를 자아냈다.)
- Trời đông rét run cánh, run râu thế mà cả làng Châu Chấu nhảy ra ngoài khe lá, lũ lượt đội gió tiễn tôi mấy dặm đường mới chịu trở lại.
(겨울 추위에 날개와 수염이 떨릴 정도였지만, 메뚜기들은 모두 밖으로 나와 바람을 맞으며 나를 몇 리나 배웅한 뒤에야 돌아갔다.)
- Ngược lên phía Bắc, cứ ngắm những bụi cây trơ trụi xa xa mà đi tới.
(나는 북쪽으로 향하며 앙상한 나무들을 바라보며 계속 나아갔다.)
- Bước cao bước thấp, đi hết mùa đông sang mùa xuân.
(비틀거리며 걷다 보니 겨울이 지나고 봄이 찾아왔다.)
- Vào những đêm hè xanh trong, trăng sao vằng vặc, tôi càng cảm thấy mình lẻ loi.
(여름밤, 맑은 하늘과 밝은 달과 별 아래에서 나는 더욱 외로움을 느꼈다.)
- Có khi, tôi ngửa mặt lên vòm trời không, gọi to: “Em ơi! Giờ em ở đâu?”
(어느 때는 하늘을 향해 고개를 들고 크게 외쳤다: “동생아! 지금 어디에 있니?”)
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





