TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
LÊ HUY KHOA
TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
Truyện ngắn
DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Võ Thị Thuý Ngọc – CSTT Kanata Gò Vấp
Chương 4: Ông anh Cả và ông anh Hai của Mèn – Tri âm không đợi mà gặp
제4장: 멘의 큰형과 둘째 형 – 마음이 통하는 벗은 기다리지 않아도 만난다
Bạn đọc hẳn đã biết mục đích tôi về quê chuyến này, vừa thăm mẹ và vừa có ý tìm bạn cùng nhau đi du lịch. Việc hỏi thăm mẹ, thế là đã xong.
독자 여러분은 이번에 내가 고향에 돌아온 목적이 어머니를 뵙고, 함께 여행을 떠날 벗을 찾기 위함이라는 것을 이미 알고 있을 것이다. 어머니를 찾아뵙는 일은 이렇게 마쳤다.
Giờ tôi đi tìm bạn. Đất này biết mấy ai kẻ tri âm? Tìm bạn đã khó, huống chi lại là sự đánh bạn với nhau trong cuộc lên đường lâu dài. Lên đường! Lên đường! Mỗi bước chân sẽ thấy một đổi thay. Mỗi sớm mỗi chiều ta lại gặp cảnh vật mới. Lúc nào cũng đi tới một nơi xa lạ. Không ai có thể mong ước hơn. Mới tưởng đến cũng đủ nao nức, bồi hồi.
이제 나는 벗을 찾으러 간다. 이곳에 과연 마음이 통하는 사람이 몇이나 될까? 벗을 찾는 것도 어려운데, 하물며 오랜 여정을 함께할 벗을 만난다는 것은 더더욱 어려운 일이다. 길을 떠나자! 떠나자! 한 걸음 한 걸음마다 새로운 변화를 마주하게 될 것이다. 아침마다 저녁마다 새로운 풍경을 만나게 된다. 언제나 낯선 곳을 향해 나아간다. 이보다 더 바랄 것이 어디 있겠는가. 그저 생각만 해도 가슴이 설레고 벅차오른다.
Hỡi ôi! Còn chi buồn bằng, tuổi thì trẻ, gân thì cứng, máu thì cuồn cuộn với trái tim và lòng thiết tha mà đành sống theo khuôn khổ bằng phẳng: ngày hí húi đào bới đất làm tổ, đêm thì đi ăn uống và tụ tập chúng bạn nhảy múa dông dài. Tôi không muốn cho đến lúc nhắm mắt vẫn phải ân hận chẳng biết là cuối cánh đồng mênh mông kia còn những gì lạ và cuộc đời ở đấy ra sao.
아아, 이보다 더 슬픈 일이 또 있을까! 젊고 힘이 넘치며 가슴 속에는 뜨거운 열정이 끓어오르는데도, 틀에 박힌 생활에 묶여 낮에는 부지런히 흙을 파 집을 만들고 밤에는 먹고 마시며 친구들과 어울려 끝없이 떠들고 춤추며 시간을 보내야 한다니. 나는 눈을 감는 그날까지 저 넓은 들판 끝에 무엇이 있는지, 그곳의 삶이 어떤지 알지 못한 채 후회하며 살고 싶지 않다.
Tôi có hai anh một lứa sinh, và ba anh em tôi đã được mẹ tôi cùng đưa đi ở hang riêng năm trước. Trong cuộc đi tìm bạn, tôi nghĩ đến ông anh hai tôi đầu tiên.
나는 같은 해에 태어난 두 형이 있고, 작년에 어머니께서 우리 세 형제를 각각 따로 굴에서 살도록 보내셨다. 벗을 찾는 길에서 나는 가장 먼저 둘째 형을 떠올렸다.
Tôi đến thăm anh hai tôi.
나는 둘째 형을 찾아갔다.
Thoạt nhìn cửa hang của anh, tôi đã hơi thất vọng. Cửa hang bé và nham nhở, bẩn như lỗ giun đùn, lúc chui vào thì có từng đám rễ cỏ quệt xuống đầu, y như vào một hang hoang, càng sâu càng ẩm mốc, lạnh tanh.
처음 형의 굴 입구를 보았을 때 나는 조금 실망했다. 굴 입구는 작고 울퉁불퉁하며 지렁이 구멍처럼 더러웠고, 안으로 들어가면 풀뿌리들이 머리를 스치며 마치 버려진 굴처럼 안쪽으로 갈수록 축축하고 곰팡내가 나며 차가웠다.
Trông thấy anh, tôi giật mình. Trong bóng tối âm thầm, tôi phải chú ý mãi mới nhìn thấy và nhận ra được mặt anh. Anh tôi gầy kheo như đến nỗi tưởng sức tôi mà đá thì chỉ phách một cái cũng đủ khiến anh tôi bắn xa mười lăm trượng.
형을 보자 나는 깜짝 놀랐다. 어두운 속에서 나는 한참을 집중해서야 겨우 형의 얼굴을 보고 알아볼 수 있었다. 형은 너무 말라서 내가 발로 한 번만 차도 멀리 날아가 버릴 것만 같았다.
Nghe tiếng chân tôi bước thình thịch, anh hoảng hốt, luống cuống, bối rối cả càng lẫn râu rồi cứ quanh quẩn chạy vòng tròn, không biết chạy đi đâu. Tôi phải đánh tiếng mãi, anh mới nhận ra tôi, bấy giờ anh tôi mới yên lòng và đứng im, chỉ còn hơi rung râu. Dáng chừng tôi khoẻ mạnh, cứng cáp và đen bóng như cột nhà cháy bôi mỡ, anh còn sợ. Thế là đôi râu cứ rung mạnh dần lên. Thật đáng cười và đáng thương!
내 발소리를 듣자 형은 놀라 허둥지둥하며 다리와 더듬이까지 어쩔 줄 몰라 하며 제자리에서 빙빙 돌 뿐 어디로 가야 할지 몰랐다. 내가 여러 번 말을 건네고서야 형은 나를 알아보고 안심하여 가만히 서 있었고, 더듬이만 살짝 떨고 있었다. 내가 튼튼하고 단단하며 기름을 바른 검은 기둥처럼 보였기 때문에 형은 여전히 나를 두려워했다. 그래서 형의 더듬이는 점점 더 크게 떨렸다. 참으로 우스우면서도 안쓰러웠다.
Tôi hỏi:
나는 물었다:
– Anh ơi! Anh ốm hay thế nào mà còm nhỏm vậy?
– 형, 어디 아픈 거야? 왜 이렇게 야위었어?
Anh nhăn mặt:
형은 얼굴을 찡그리며 말했다:
– Chú nói be bé chứ không có anh váng cả đầu. Không anh không ốm, Tạng người anh thế. Bấy lâu chú đi làm ăn đâu mà những đứa độc mồm độc miệng bảo chú chết rồi.
– 좀 작게 말해라, 머리가 울린다. 나는 아픈 게 아니라 원래 이런 체질이다. 그동안 어디 갔기에 사람들이 너 죽었다고들 하더라.
Tôi cười:
나는 웃으며 말했다:
– Em chết làm sao được! Đi xa thích lắm. Em về chuyến này, trước thăm mẹ và các anh, sau rủ anh cùng đi xa.
– 내가 어떻게 죽겠어! 멀리 다니는 게 얼마나 좋은데. 이번에는 어머니랑 형들 뵈러 왔고, 그다음엔 형이랑 같이 떠나자고 하려고.
Anh hoảng hốt hỏi lại:
형은 놀라서 다시 물었다:
– Đi đâu?
– 어디로 간다고?
Tôi đùa, quát to:
나는 장난스럽게 큰 소리로 외쳤다:
– Đi xa! đi xa!
– 멀리! 멀리 떠나는 거야!
Thế là ông anh tôi thất kinh, trễ cả hai râu mũi xuống. Anh khụyu chân ngã giụi và nói lảm nhảm: “Đi…xa…chết…nó…chết”.
그 말을 듣고 형은 크게 놀라 더듬이를 축 늘어뜨렸다. 형은 다리가 풀려 주저앉으며 “멀리 가면… 죽어… 죽는다…” 하고 중얼거렸다.
Thảm hại quá! Vì đâu anh tôi mắc bệnh sợ đến như vậy, cái gì cũng sợ, chưa chi đã sợ, sợ đến chết ngất. Không phải bệnh ấy có từ bẩm sinh đâu. Lúc bé, anh em chúng tôi đều khoẻ mạnh như nhau. Câu chuyện bệnh sợ của anh tôi như sau:
정말 딱한 일이다! 어쩌다 형은 이렇게 겁이 많아져서 무엇이든 두려워하고, 일이 시작되기도 전에 겁을 먹어 기절할 지경이 되었을까. 그런 병은 타고난 것이 아니었다. 어릴 적에는 우리 형제 모두 똑같이 건강했다. 형이 이렇게 겁을 먹게 된 사연은 다음과 같다:
Ra ở hang riêng ít lâu, một hôm anh đi chơi tha thẩn vào vườn rau. Anh đứng dưới chân một cây cải xanh. Trên mép lá, một chim Chích đang nhặt sau. Có thể là vô ý, chim Chích ỉa toẹt một bãi trúng lưng anh. Anh giũ cánh, lẩm bẩm chửi đứa nào bậy bạ, mà anh không biết đứa nào, bởi vì lúc ấy chim Chích làm xong công việc vô ý ấy rồi điềm nhiên cong đuôi chui vào khều con sâu trong kẽ chiếc lá cải to.
따로 살게 된 지 얼마 지나지 않아, 어느 날 형은 채소밭으로 어슬렁거리며 놀러 갔다. 형은 푸른 배추(채소) 밑에 서 있었다. 잎 가장자리에는 박새 한 마리가 벌레를 쪼고 있었다. 아마도 우연히, 그 새가 형의 등에 똥을 떨어뜨렸다. 형은 몸을 털며 누가 이런 짓을 했는지 투덜거리며 욕했지만, 범인이 누군지는 몰랐다, 그때 이미 그 새는 아무 일도 없다는 듯 꼬리를 치켜들고 큰 잎 사이로 들어가 벌레를 쪼고 있었기 때문이다.
Nghe tiếng chửi, chim Chích quay ra, Chim và Dế đâm chuyện cãi nhau. Một bên thì chửi đứa ỉa xuống lưng tao. Một bên thì bảo mày vu oan cho ông. (Vì anh tôi đã giũ sạch ngay bãi cứt chim trên lưng rồi).
욕하는 소리를 듣고 박새가 돌아보았고, 새와 귀뚜라미는 곧 말다툼을 벌였다. 한쪽은 “내 등에 똥을 싼 놈이 누구냐!” 하고 욕을 했고, 다른 한쪽은 “괜히 나를 모함하지 마라!”라고 맞섰다. (형은 이미 등에 묻은 새똥을 털어내 버린 상태였다).
Không ai chịu nhau thì phải đến đánh nhau vậy. Thằng chim Chích kia thì bằng hạt mít, chân nó leo kheo như cái tăm hương và cái mỏ oặt như sợi bún, còn anh tôi thì nào răng sắc, nào có ngạnh vênh rất hiểm, cứ dấn mạnh lên thì choảng cho nó vỡ mày vỡ mặt ra chứ. Thế mà đù đờ đến nỗi anh tôi thua. Anh tôi co cổ chạy, Nó đuổi theo. Anh chạy thục mạng, nó cứ bay trên đầu, nó mổ xuống. Anh tôi sợ quá, vấp ngã ngửa, nó cũng không tha, nó vẫn đuổi đánh, có lúc anh tưởng chết dọc đường. Rồi phải lê dần, chạy lê thế mà nó vẫn mổ, vẫn đánh, nó đuổi đến khi lẩn được vào trong hang thì khắp người máu me, hai cánh ngoài rách nát cả và nằm chết ngất.
서로 물러서지 않으니 결국 싸움으로 번졌다. 그 박새는 몸집이 아주 작고 다리는 향 꼬챙이처럼 가늘며 부리는 국수처럼 휘어 있었고, 반면 형은 날카로운 이빨과 위험한 갈고리를 가지고 있어 제대로 덤비기만 하면 상대를 단번에 쓰러뜨릴 수 있었다. 그런데도 어리둥절한 탓에 형은 결국 지고 말았다. 형은 목을 움츠리고 도망쳤고, 새는 뒤쫓아왔다. 형이 필사적으로 달리자 새는 머리 위를 날며 계속 쪼아댔다. 형은 너무 무서워 넘어졌지만, 새는 멈추지 않고 계속 공격했고, 형은 길에서 죽을 것만 같았다. 형은 겨우 기어가듯 도망쳤지만 계속 공격을 당했고, 결국 굴 속으로 간신히 숨어들었을 때는 온몸이 피투성이가 되고 날개도 찢어진 채 기절해 버렸다.
Không biết mấy hôm mới tỉnh. Từ đấy, nghe tiếng gió thổi ngoài cửa hang cũng sợ, tưởng thằng chim Chích lại đến đuổi đánh trên đầu. Không dám đi đâu nữa. Đói lắm mà đến khuya mới dám ra cửa lôi vội mấy cái cỏ già vào nhấm nháp. Thế là ốm dần. Cứ thế này rồi thì mai kia cũng đến chết vùi thân trong hang mà thôi.
며칠이 지나서야 겨우 의식을 되찾았다. 그 뒤로는 굴 밖에서 바람 소리만 들려도 그 새가 다시 공격하러 온 것처럼 겁을 먹었다. 더 이상 어디에도 나가지 못했다. 배가 너무 고파도 밤늦게서야 겨우 나와 마른 풀 몇 가닥을 급히 뜯어 먹을 뿐이었다. 그렇게 점점 쇠약해졌다. 이대로라면 결국 굴 속에서 쓸쓸히 죽고 말 것이다.
Một lúc sau, anh tôi mới dần dần tỉnh. Tôi cũng chẳng muốn nói thêm lời nào. Càng không dám đùa nữa. Ngại anh tôi có thể chết ngất mà chết hẳn chăng.
잠시 후, 형은 서서히 정신을 차렸다. 나는 더 이상 아무 말도 하고 싶지 않았다. 더더욱 농담을 할 엄두도 나지 않았다. 형이 혹시 그대로 정신을 잃고 다시는 깨어나지 못할까 걱정되었기 때문이다.
Tôi ra ngoài bãi, hái mớ cỏ non và tươi nhất đêm vào biếu anh. Tôi lựa nói mấy câu an ủi. Đến lúc anh tôi tỉnh táo như thường rồi tôi mới khéo trách sao hồi đó anh không ngửa mặt giơ càng lên vừa đánh vừa đỡ vừa lùi vào hang, phỏng thử thằng Chích láo lếu đã làm chi nổi! Anh tôi cũng chẳng tỏ vẻ gì ngẫm nghĩ để hoạ may còn nhớ lại được chút mạnh bạo nào không, anh chỉ lắc đầu.
나는 들판으로 나가 그날 밤 가장 연하고 신선한 풀 한 줌을 뜯어 형에게 가져다주었다. 몇 마디 위로의 말을 골라 건넸다. 형이 평소처럼 완전히 정신을 차린 뒤에야 나는 그때 왜 고개를 들어 집게발을 들어 올려 맞서 싸우고 막으면서 굴 속으로 물러나지 않았는지 은근히 타일렀다. 그렇게 했더라면 그 건방진 찌르레기 따위가 감히 어찌할 수 있었겠느냐는 것이었다. 그러나 형은 무언가를 다시 생각해 보거나 조금이라도 용기를 떠올리려는 기색도 없이 그저 고개만 저었다.
Tôi lặng lẽ ra khỏi hang anh. Cũng không có một ý nghĩ rõ rệt. Còn nghĩ sao nữa, khi anh ấy đã run rẩy hèn đớn đến nỗi ai nói to cũng giật mình thì có gì mà hy vọng rủ anh đi được.
나는 조용히 형의 굴을 나왔다. 뚜렷한 생각도 떠오르지 않았다. 더 무슨 생각을 할 수 있겠는가. 형은 이미 누가 조금만 크게 말해도 놀랄 만큼 겁에 질려 있었는데, 그런 형에게 함께 길을 떠나자고 권할 희망이 있을 리 없었다.
Tôi đến thăm anh trưởng tôi.
나는 맏형을 찾아갔다.
Hang anh trưởng tôi rất khang trang. Coi vẻ phong lưu. Tôi đã biết tính anh thích ăn ngon, ưu phép tắc tôn ti trật tự, hay bắt bẻ vặn. Tôi chào. Mặt anh hằm hằm đương tức tối điều gì. Tôi phải thưa với anh rằng bao nhiêu lâu anh em xa cách, em đã trải những phút gian nan, tính mệnh treo đầu sợi râu, anh có biết không, em lặn lội từ xa về đây để gặp anh, sao trông thấy em, mặt anh cứ lạnh như đá thế kia?
맏형의 굴은 매우 단정하고 잘 꾸며져 있었다. 겉보기에도 꽤 풍족해 보였다. 나는 형이 맛있는 것을 좋아하고, 예절과 위계질서를 중시하며, 자주 트집을 잡는 성격이라는 것을 이미 알고 있었다. 나는 인사를 했다. 그런데 형의 얼굴은 무언가에 화가 난 듯 잔뜩 굳어 있었다. 나는 형에게 우리가 오랫동안 떨어져 지내는 동안 내가 얼마나 많은 고생을 겪었는지, 목숨이 위태로운 순간도 있었다는 것을 이야기하며, 멀리서 형을 만나러 왔는데 왜 나를 보면서 그렇게 얼굴이 차갑기만 하냐고 말했다.
Anh tôi nói mát:
형은 비꼬듯 말했다:
– Chả dám! Chú còn nhớ phép lịch sự đến thăm anh. Xin chả dám.
– 그럴 리가! 그래도 예의는 잊지 않고 형을 찾아왔구나. 참 고맙기도 하다.
Tôi đáp:
나는 대답했다:
– Thưa anh, đi đâu thì em vẫn nhớ anh em ta cùng lứa mẹ sinh ra.
– 형님, 어디에 있든 저는 우리가 한 어머니에게서 난 형제라는 것을 늘 기억하고 있습니다.
Anh cười nhạt:
형은 비웃듯 웃으며 말했다:
– Hừ, chú bảo chú nhớ anh mà lại vào nhà thằng hai trước khi đến đây, thế thì phỏng thử chú coi gia giáo nhà ta ra cái gì, đuôi lộn lên đầu hử?
– 흥, 형을 기억한다면서 여기에 오기 전에 둘째 형 집부터 들렀다니, 그럼 우리 집안의 예법이란 게 도대체 뭐가 되느냐? 위아래가 뒤집힌 셈 아니냐?
Thế ra anh tính giận tôi đã quên tôn ti thứ bậc. Thảo nào, mặt anh nặng như cái bị. Tôi định cãi lại một câu. Chẳng gì thì tôi đã đi đây đi đó, tôi không thể cung kính theo được cái thói trên dưới thứ bậc và cái việc chấp nhặt nhỏ mọn này. Nhưng chợt nhớ đến đây để rủ anh cùng đi, tôi đã quên tức và từ tốn trình bày:
그제야 형이 내가 서열과 예의를 지키지 않았다고 화가 난 것임을 알았다. 그래서 얼굴이 그렇게 굳어 있었던 것이다. 나는 한마디 따져 말하려 했다. 이곳저곳을 돌아다닌 나로서는 이런 위아래 따지기나 사소한 일에 집착하는 태도를 따르기 어려웠기 때문이다. 그러나 여기 온 목적이 형을 설득해 함께 떠나기 위함이라는 것을 떠올리고는 화를 누르며 차분히 말했다.
– Thưa anh, em cũng biết thế, nhưng vì anh hai đau yếu, lai tiện em đi qua nhà, thấy nên vào thăm anh ấy trước. Thế đấy, chắc anh vui lòng rồi.
– 형님, 저도 그 점은 알고 있습니다. 하지만 둘째 형이 몸이 약해서, 마침 지나가는 길에 먼저 들러 문안을 드린 것입니다. 이제 이해하시겠지요.
Anh tôi không vui lòng, anh tôi vẫn to tiếng, hỏi giật giọng:
그러나 형은 여전히 못마땅해하며 큰소리로 다그쳤다:
– Mấy năm nay chú đi đâu?
– 그동안 몇 년이나 어디에 있었느냐?
– Em đi du lịch.
– 저는 여행을 다녔습니다.
– Du lịch? Đi du lịch, đi buôn bán?
– 여행? 여행이라고? 장사를 한 것도 아니고?
Tôi cười:
나는 웃으며 말했다:
– Chẳng buôn bán gì đâu. Du lịch là xem xét các nơi cho mở mang trí óc ra.
– 장사는 아닙니다. 여행은 여러 곳을 돌아다니며 세상을 보고, 견문을 넓히는 것입니다.
Anh tôi cười khẩy:
형은 코웃음을 치며 말했다:
– Đi không kiếm được món ngon thì chỉ đi mỏi chân, có động dại mới đi như thế. Đi lang thang thất thểu thì ai ở nhà trông nom phần mộ tổ tiên, ai đèn hương cúng giỗ các cụ? Thời bây giờ đứa nào cũng nống lên với đi! Quân bất mục bất hiếu là chú, chú biết không?
– 좋은 것을 얻지도 못하면서 돌아다니는 건 헛수고일 뿐이다. 그런 짓은 어리석은 자나 하는 거다. 그렇게 떠돌아다니면 누가 집에 남아 조상 묘를 돌보고 제사를 지내느냐? 요즘 것들은 다들 나서서 돌아다니기만 하니! 너 같은 건 부모도 조상도 모르는 불효자다, 알겠느냐?
Tôi giận lắm, nhưng chỉ cười thầm. Đáng lẽ mẹ tôi nói những câu ấy mới phải. Nhưng mẹ hiểu, mẹ đã vui mừng thấy con bay nhảy sông hồ. Tôi lại nghĩ giá tổ tiên tôi mà biết được việc này hẳn các cụ cũng phát chán cái thằng con cháu cứ khư khư ôm miếng đất đến mòn đời, chẳng làm được gì để lấy tiếng thơm cho cha ông, Anh này mới dúm tuổi mà lụ khụ hơn cả người già lẫn cẫn.
나는 몹시 화가 났지만 겉으로는 그저 속으로만 웃었다. 저런 말은 원래 어머니가 하셔야 할 말이 아닌가. 하지만 어머니는 나를 이해해 주셨고, 내가 넓은 세상을 돌아다니는 것을 오히려 기뻐하셨다. 나는 또 생각했다. 만약 조상님들이 이 일을 알게 된다면, 평생 한곳에만 틀어박혀 아무런 공도 세우지 못하는 이런 자손을 보고 오히려 실망하실 것이라고. 이 형은 아직 젊은 나이인데도 늙은이보다 더 고루하고 답답했다.
Đằng nào tôi cũng cần nói rõ ý kiến của tôi. Tôi nói:
어쨌든 나는 내 생각을 분명히 말할 필요가 있었다. 그래서 말했다:
– Thưa anh, em cũng biết rằng trên đời này muốn mở mang trí óc thì phải bước chân đi ra bốn phương “một ngày đàng một sàng khôn”, tổ tiên ta dạy thế chứ các cụ không khuyên ta ngồi xó đâu. Cho nên em về đây, trước thăm anh, sau muốn rủ anh cùng đi phiêu lưu với em.
– 형님, 저도 알고 있습니다. 하지만 세상에서 견문을 넓히려면 사방으로 나가야 합니다. “하루 길을 가면 하나의 지혜를 얻는다”라고 우리 조상도 말씀하지 않았습니까. 조상님들은 우리에게 구석에만 앉아 있으라고 가르치지 않으셨습니다. 그래서 저는 이번에 돌아와 먼저 형님을 뵙고, 이어서 형님을 모시고 함께 여행을 떠나고 싶었습니다.
Anh tôi hét to:
형은 소리치며 말했다:
– Mày chửi tao à? Mày chửi tao.
– 나를 욕하는 거냐? 감히 나를 욕해?
Rồi xông đến trước mặt tôi. Nhưng tôi biết dù nổi nóng thế, anh cũng chẳng dám động đến tôi. Bởi tôi lực lưỡng to gấp mấy anh. Quả thế, cáu lắm anh cũng chỉ dám cụng trán tôi và dừng lại, trừng mắt thế thôi.
그러고는 내 앞으로 달려들었다. 하지만 나는 형이 아무리 화가 나도 나에게 손을 대지는 못하리라는 것을 알고 있었다. 내가 훨씬 더 크고 힘이 셌기 때문이다. 실제로 형은 아무리 화가 나도 내 이마에 자기 이마를 들이받는 정도에서 멈추고, 그저 눈을 부릅뜨고 노려볼 뿐이었다.
Tôi bực mình, song vẫn cố làm vẻ bình tĩnh. Cái bình tĩnh lạnh lùng ngụ ý khinh khi.
나는 짜증이 났지만 애써 태연한 척했다. 그 태연함은 차갑고도 은근한 경멸을 담고 있었다.
Tôi nghênh mặt lên, không chào, lặng lẽ quay ra. Đuôi cánh tôi quay chổng vào mặt anh một cách kinh thường. Tôi đã từ giã ông anh cổ hủ của tôi một cách ngạo mạn như vậy. Để mặc ông anh tức tím ruột. Tuy vậy anh cũng không dám đuổi đánh tôi, đành ôm mối căm hờn vì có đứa em hỗn láo dám đi phiêu lưu!
나는 턱을 치켜들고 인사도 하지 않은 채 조용히 돌아섰다. 내 날개 끝을 형의 얼굴 쪽으로 치켜세우며 노골적으로 무시하는 태도를 보였다. 나는 그렇게 오만한 태도로 고루한 형과 작별했다. 형은 속이 뒤집힐 듯 화가 났지만, 그래도 나를 쫓아와 때리지는 못했다. 그저 무례한 동생이 감히 여행을 떠난다며 분을 삭일 수밖에 없었다.
Tôi còn đi tìm vài anh em quen nữa. Song xem ra chỉ phường giá áo túi cơm thì lắm lắm. Có anh cũng như anh trưởng đã nói rằng nhà mình con một, không thể nhất đán rời quê hương. Có anh mới nghe tôi nói đu du lịch đã xanh mặt lại và vái tôi. Có anh ngẩn ngơ hỏi:”Đi xa thế độ mấy hôm thì về được?” Tôi chẳng buồn trả lời.
나는 또 몇몇 아는 형제들을 찾아다녔다. 하지만 보아하니 대부분이 그저 쓸모없는 무리들뿐이었다. 어떤 이는 맏형처럼 집안에 외아들이라 고향을 떠날 수 없다고 했고, 어떤 이는 내가 여행 이야기를 꺼내자마자 얼굴이 하얗게 질려 손사래를 쳤다. 또 어떤 이는 멍하니 “그렇게 멀리 가면 며칠 만에 돌아올 수 있느냐?”라고 묻기도 했다. 나는 대답할 가치도 느끼지 못했다.
Một buổi chiều, tôi đứng bờ đầm nước, trông ra. Khi hoàng hôn xuống, mặt nước trời bỗng sáng lên trong giây lát, đượm vẻ bao la khêu gợi vô hạn lòng giang hồ.
어느 날 저녁, 나는 늪가에 서서 밖을 내다보고 있었다. 해질 무렵이 되자, 물과 하늘의 표면이 잠시 환하게 빛나며 끝없는 방랑의 마음을 자극하는 광활한 분위기를 띠었다.
Bỗng sau lưng có tiếng ồn ào. Quay lại, tôi thấy một Dế Trũi đương đánh nhau với hai mụ Bọ Muỗm. Hai mụ Bọ Muỗm vừa xông vào vừa kêu om sòm. Ai đã nói rằng “vừa đánh trống vừa ăn cướp”, lúc ấy tôi đã thấy tận mắt cái cảnh thật đúng câu ví vậy. Hai mụ giơ chân, nhe cặp răng dài nhọn, đánh tới tấp. Trũi bình tĩnh, dùng càng gạt đòn rồi bổ sang. Hai càng Trũi móc toẽ đằng trước, khi hươi lên, coi oai như cặp chùy đồng.
그때 갑자기 등 뒤에서 시끄러운 소리가 들렸다. 돌아보니, 한 두더지귀뚜라미가 두 마리의 방아깨비와 싸우고 있었다. 두 방아깨비는 달려들면서도 요란하게 소리를 질러댔다. “북을 치며 도둑질한다”는 말이 있듯이, 나는 그 순간 그 말이 그대로 맞는 장면을 눈앞에서 보게 되었다. 두 방아깨비는 다리를 들어 올리고 길고 날카로운 이빨을 드러내며 마구 공격해댔다. 반면 트ũ이는 침착하게 집게발로 공격을 막아내고 되받아쳤다. 그의 두 집게발은 앞쪽으로 크게 벌어져 있었는데, 휘두를 때마다 마치 한 쌍의 청동 망치처럼 위엄 있어 보였다.
Tôi đứng ngắm và khen thầm. Xưa nay tôi vẫn có ý coi thường các cậu Dế Trũi – Dế Trũi quê kệch, mình dài thuồn thuỗn, bốn mùa mặc ái gi-lê trần. Nhưng bây giờ, nhìn anh Trũi nhanh nhẹn này, tôi hiểu rằng không nên chỉ xem bề ngoài mà coi thường ai một cách hồ đồ như vậy.
나는 서서히 그 모습을 지켜보며 속으로 감탄했다. 예전에는 늘 두더지귀뚜라미를 촌스럽고 볼품없다고 여겼다. 몸은 길쭉하고 늘 헐렁한 조끼 하나만 걸친 듯한 모습이었기 때문이다. 그러나 지금 이 민첩한 트ũ이를 보며, 겉모습만 보고 함부로 사람을 판단해서는 안 된다는 것을 깨달았다.
Trũi gan góc, một chống với đôi mà mà địch thủ vẫn luôn luôn bị cú đòn đau. Nhưng hai mụ Bọ Muỗm cứ vừa đánh vừa kêu, làm cho họ nhà Bọ Muỗm ở ruộng lúa gần đấy nghe tiếng. Thế là cả một bọn Bọ muỗm lốc nhốc chạy ra. Trũi biết thế nguy, lủi khỏi vòng chiến nhảy bòm xuống dòng nước, bơi sang bên này. Cách nước rồi, yên trí, Trũi lại nghênh ngang đứng hướng về bên kia, giơ chân, giơ càng doạ lại bọn Bọ Muỗm vừa kéo tới. Thấy thế, bọn Bọ Muỗm tức, bật lên một cử chỉ bất ngờ là chúng bay ào sang rợp cả mặt nước.
두더지귀뚜라미는 매우 용감해서 혼자서 둘을 상대했지만, 상대는 계속해서 큰 타격을 입었다. 그러나 두 방아깨비는 싸우면서도 계속 소리를 질러댔고, 그 소리를 듣고 근처 논에 있던 다른 방아깨비들이 몰려왔다. 순식간에 한 무리가 우르르 달려든 것이다. 위험을 느낀 두더지귀뚜라미는 싸움에서 빠져나와 물속으로 뛰어들어 이쪽으로 헤엄쳐 왔다. 물을 건너 안전해지자, 그는 다시 반대편을 향해 당당히 서서 다리와 집게발을 들어 방금 도착한 방아깨비들을 위협했다. 그러자 방아깨비들은 화가 나서 갑자기 날아올라 물 위를 뒤덮듯이 몰려왔다.
Trũi ta không dè bọn Bọ Muỗm bay mau thế. Anh ta chỉ kịp giơ hai cái càng răng cưa tròn xoe lên thì đã thấy không biết bao nhiêu răng, móc đánh, chém tới tấp xuống. Trũi ngã quay. Lũ kia xô cưỡi lên. Nhất định có án mạng phen này.
두더지귀뚜라미는 방아깨비들이 그렇게 빨리 날아올 줄은 미처 예상하지 못했다. 그는 그저 둥글고 톱니처럼 생긴 두 집게발을 겨우 들어 올렸을 뿐인데, 어느새 수많은 이빨과 갈고리가 사방에서 마구 찍고 내리치는 것이 보였다. 두더지귀뚜라미는 뒤로 나자빠졌다. 그 무리들이 달려들어 올라탔다. 이번에는 정말 큰일이 날 판이었다.
Tôi vội nhẩy tới. Bọn Bọ Muỗm hốt hoảng bay đi hết. Trũi nằm chỏng gọng, bất tỉnh nhân sự. Tôi vực về cửa hang, lấy nước phun vào mặt Trũi.
나는 급히 달려갔다. 방아깨비들은 놀라서 모두 날아가 버렸다. 두더지귀뚜라미는 벌러덩 드러누운 채 정신을 잃고 있었다. 나는 그를 굴 입구로 데려와 물을 얼굴에 뿌렸다.
Một lát, Trũi tỉnh, còn rên hừ hừ. Bị nhiều đòn đau thâm tím cả mình.
잠시 후, 그는 신음 소리를 내며 깨어났다. 온몸이 얻어맞아 멍들어 있었다.
Trũi kể tôi nghe. Vốn trước kia hang Trũi xóm xa bên cánh đồng khác. Một lần sang bên sông, thấy cỏ tốt quá bèn đến ở bên đó. Xóm ấy có Bọ Muỗm trú ngụ nhiều. Bọn Bọ Muỗm thấy tự dưng có kẻ lông bông ở đâu đến, không ngày nào không có Bọ Muỗm đến sinh sự. Chúng cắt lượt nhau suốt ngày vào cà khịa, làm cho Trũi không chịu được. Nhưng Trũi vẫn gan lì. Có khi chúng dọa đánh chết Trũi.
두더지귀뚜라미는 나에게 사정을 이야기해 주었다. 원래 그의 굴은 멀리 다른 들판 쪽에 있었다. 어느 날 강가를 지나가다가 풀이 너무 좋아 보여 그곳으로 옮겨 살게 되었다. 그런데 그곳에는 방아깨비들이 많이 살고 있었다. 그들은 어디서 굴러온 떠돌이가 나타났다고 생각하고, 거의 매일같이 시비를 걸어왔다. 번갈아 가며 하루 종일 괴롭혀서 그는 견디기 힘들 지경이었다. 하지만 두더지귀뚜라미는 끝까지 버텼다. 때로는 그들이 그를 때려죽이겠다고 위협하기도 했다.
Trũi rất ngang, không sợ. Đứa nào chửi thế nào, Trũi chửi lại thế ấy. Đứa nào muốn đánh nhau, Trũi đánh nhau. Tiếng Bọ Muỗm bắng nhắng thế, nhưng dù thế cũng phải kiềng kẻ gan dạ, nên cũng mới chỉ có những cuộc xô xát xoàng thôi. Trận ẩu đả hôm nay là to nhất. Bọn bọ muỗm định đánh chết Trũi thật. Chúng cho hai mụ ra sinh sự, lấy cớ rồi kéo cả lò ra. Đây là trận đòn thù chứ không phải cuộc ẩu đả tình cờ như tôi tưởng lúc mới đầu.
두더지귀뚜라미는 매우 억세고 겁이 없었다. 누가 욕을 하면 그대로 되받아 욕했고, 싸움을 걸면 맞서 싸웠다. 방아깨비들은 떠들썩했지만, 그래도 용감한 상대는 어느 정도 꺼리는 법이라 그동안은 큰 싸움 없이 작은 충돌만 있었을 뿐이었다. 오늘의 싸움이 가장 큰 싸움이었다. 방아깨비들은 이번에는 정말 그를 죽이려고 한 것이었다. 두 마리를 앞세워 시비를 걸고, 그것을 구실로 무리를 몰고 온 것이었다. 처음에 내가 생각했던 것처럼 우연한 싸움이 아니라, 분명한 보복전이었다.
Trũi rối rít tạ ơn. Tôi khuyên Trũi nên ở lại hang tôi mà chữa bệnh cho tới khi khỏi hẳn mới về.
두더지귀뚜라미는 연신 고맙다고 인사를 했다. 나는 그에게 완전히 나을 때까지 내 굴에 머물며 치료를 받으라고 권했다.
Được ít lâu, các vết thương của Trũi lành dần.
얼마 지나지 않아 그의 상처는 점차 나아졌다.
Mấy hôm trò truyện cũng Trũi, tôi biết tính Trũi rấy vui, hay nói pha trò và yêu đời. Nhưng tôi thích nhất Trũi cũng ưa sự đi đây đi đó, Trũi thường khoe rằng tuy Trũi còn ít tuổi nhưng đã từng đi xa. Tôi ngỏ ý rủ Trũi sẽ cùng đi du lịch. Tôi bảo rằng ở phía chân trời xa kia chắc có nhiều cái lạ, không nên về đồng cỏ cũ nữa. Trũi reo lên, nhận lời ngay.
며칠 동안 이야기를 나누며 지내 보니, 그는 매우 유쾌하고 농담을 잘하며 삶을 사랑하는 성격이라는 것을 알게 되었다. 하지만 무엇보다 마음에 들었던 것은 그 역시 이곳저곳 돌아다니는 것을 좋아한다는 점이었다. 그는 아직 어리지만 이미 먼 곳까지 다녀온 적이 있다고 자주 자랑했다. 나는 그에게 함께 여행을 떠나자고 제안했다. 저 멀리 지평선 너머에는 분명 새로운 것들이 많을 테니, 옛 들판으로 돌아갈 필요는 없다고 말했다. 그는 기뻐하며 곧바로 승낙했다.
Chúng tôi kết làm anh em.
우리는 형제의 의를 맺었다.
Từ hôm ấy, Trũi ở luôn hang tôi và Trũi tôn tôi là anh. Còn tôi gọi Trũi là em. Thề rằng từ đây sinh tử có nhau.
그날 이후 그는 내 굴에서 함께 지내며 나를 형이라 부르고, 나는 그를 동생이라 불렀다. 우리는 생사를 함께하겠다고 맹세했다.
Chúng tôi sửa soạn.
우리는 여행을 준비했다.
Một ngày cuối thu, tôi và Trũi lên đường. Hôm ấy nước đầm trong xanh. Những áng cỏ mượt rời rợi. Trời đầy mây trắng. Gió hiu hiu thổi như giục lòng kẻ ra đi. Thế là tôi rời quê hương lần thứ hai.
어느 늦가을의 날, 나와 두더지귀뚜라미는 길을 떠났다. 그날 늪의 물은 맑고 푸르렀다. 풀들은 부드럽게 넘실거렸고, 하늘에는 흰 구름이 가득했다. 바람은 살랑살랑 불어 떠나는 이의 마음을 재촉하는 듯했다. 그렇게 나는 두 번째로 고향을 떠났다.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





