TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
DỊCH TRUYỆN NGẮN “NGÀY MAY MẮN”
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
SVTT: ĐỖ THỊ NGỌC ÁNH
CSTT: Kanata Biên Hòa
1.운수좋은 날
Ngày may mắn
2.새침하게 흐린 품이 눈이 올 듯하더니 눈은 아니 오고 얼다가 만 비가 추적추적 내리는 날이었다.
Trời u ám như thể sắp có tuyết rơi, nhưng tuyết không đến, chỉ có cơn mưa lạnh lất phất rơi xuống.
3.이날이야말로 동소문 안에서 인력거꾼 노릇을 하는 김첨지에게는 오래간만에도 닥친 운수 좋은 날이었다.
Đối với Kim Cheomji, người kéo xe trong khu Đông So-mun, hôm nay quả thật là một ngày may mắn hiếm có.
문안에(거기도 문밖은 아니지만) 들어간답시는 앞집 마마님을 전찻길까지 모셔다 드린 것을 비롯으로 행여나 손님이 있을까 하고 정류장에서 어정어정하며 내리는 사람 하나하나에게 거의 비는 듯한 눈결을 보내고 있다가 마침내 교원인 듯한 양복쟁이를 동광학교(東光學校)까지 태워다 주기로 되었다.
Bắt đầu từ việc đưa bà chủ nhà bên cạnh ra tận đường xe điện, rồi đứng lảng vảng ở trạm, nhìn từng người xuống xe với ánh mắt gần như van xin có khách, cuối cùng cũng chở được một người mặc âu phục trông như giáo viên đến trường Donggwang.
4.첫 번에 삼십전 , 둘째 번에 오십전 – 아침 댓바람에 그리 흉치 않은 일이었다.
Lần đầu được 30 jeon, lần thứ hai 50 jeon – sáng sớm mà vậy là không tệ.
그야말로 재수가 옴붙어서 근 열흘 동안 돈 구경도 못한 김첨지는 십 전짜리 백동화 서 푼, 또는 다섯 푼이 찰깍 하고 손바닥에 떨어질 제 거의 눈물을 흘릴 만큼 기뻤었다.
Gần mười ngày không kiếm được đồng nào, hôm nay Kim Cheomji như gặp vận may, mỗi khi mấy đồng tiền rơi vào tay là vui đến muốn rơi nước mắt.
더구나 이날 이때에 이 팔십 전이라는 돈이 그에게 얼마나 유용한지 몰랐다.
Đặc biệt lúc này, 80 jeon có ý nghĩa vô cùng lớn đối với anh.
컬컬한 목에 모주 한 잔도 적실 수 있거니와 그보다도 앓는 아내에게 설렁탕 한 그릇도 사다 줄 수 있음이다.
Vừa có thể uống một chén rượu cho đỡ khô cổ, lại còn có thể mua một bát canh cho người vợ đang bệnh.
5.그의 아내가 기침으로 쿨룩거리기는 벌써 달포가 넘었다.
Vợ anh đã ho khù khụ hơn một tháng.
조밥도 굶기를 먹다시피 하는 형편이니 물론 약 한 첩 써본 일이 없다.
Ngay cả cơm thô cũng lúc ăn lúc không nên dĩ nhiên chưa từng mua thuốc.
구태여 쓰려면 못쓸 바도 아니로되 그는 병이란 놈에게 약을 주어 보내면 재미를 붙여서 자꾸 온다는 자기의 신조(信條)에 어디까지 충실하였다.
Dù không phải hoàn toàn không thể mua, nhưng anh tin rằng nếu cho bệnh uống thuốc thì nó sẽ quen rồi quay lại, nên vẫn giữ niềm tin đó.
따라서 의사에게 보인 적이 없으니 무슨 병인지는 알 수 없으되 반듯이 누워 가지고 일어나기는 새로 모로도 못 눕는 걸 보면 중증은 중증인 듯.
Vì chưa từng đi khám nên không biết bệnh gì, chỉ thấy nằm thẳng không thể trở mình, chắc là bệnh nặng.
병이 이대도록 심해지기는 열흘전에 조밥을 먹고 체한 때문이다.
Bệnh nặng lên là do mười ngày trước ăn cơm bị nghẹn.
그때도 김첨지가 오래간만에 돈을 얻어서 좁쌀 한 되와 십 전짜리 나무 한 단을 사다 주었더니 김첨지의 말에 의지하면 그 오라질 년이 천방지축으로 냄비에 대고 끓였다.
Hôm đó anh hiếm khi có tiền nên mua gạo kê và củi, nhưng theo lời anh thì vợ anh nấu một cách hấp tấp.
마음은 급하고 불길은 달지 않아 채 익지도 않은 것을 그 오라질년이 숟가락은 고만두고 손으로 움켜서 두 뺨에 주먹덩이 같은 혹이 불거지도록 누가 빼앗을듯이 처박질하더니만 그날 저녁부터 가슴이 땡긴다, 배가 켕긴다고 눈을 흡뜨고 지랄병을 하였다.
Lửa chưa đủ mà lòng thì vội, cơm chưa chín đã bỏ muỗng, bốc tay ăn như sợ bị giành, rồi tối hôm đó kêu đau ngực, đau bụng và vật vã.
그때 김첨지는 열화와 같이 성을 내며,
Lúc đó Kim Cheomji nổi giận dữ dội
6.“에이, 오라질년, 조랑복은 할 수가 없어, 못 먹어 병, 먹어서 병! 어쩌란 말이야! 왜 눈을 바루 뜨지 못해!”
“Đồ đàn bà chết tiệt, nghèo thì chịu thôi! Không ăn cũng bệnh, ăn cũng bệnh! Làm sao đây! Sao không mở mắt cho đàng hoàng!”
7.하고 앓는 이의 뺨을 한 번 후려갈겼다.
Rồi tát vào má người bệnh.
흡뜬 눈은 조금 바루어졌건만 이슬이 맺히었다.
Đôi mắt mở ra nhưng rưng rưng nước.
김첨지의 눈시울도 뜨끈뜨끈하였다.
Mắt anh cũng nóng lên.
8.이 환자가 그러고도 먹는 데는 물리지 않았다.
Dù vậy người bệnh vẫn không chán ăn.
사흘 전부터 설렁탕 국물이 마시고 싶다고 남편을 졸랐다.
Ba ngày trước đã nài nỉ muốn uống canh seolleongtang.
9.“이런 오라질 년! 조밥도 못 먹는 년이 설렁탕은. 또 처먹고 지랄병을 하게.”
“Đồ đàn bà chết tiệt! Cơm còn không ăn nổi mà đòi canh, ăn rồi lại bệnh!”
10.라고, 야단을 쳐보았건만, 못 사주는 마음이 시원치는 않았다.
Dù mắng vậy nhưng trong lòng vẫn không thoải mái vì không mua được.
11.인제 설렁탕을 사줄 수도 있다. 앓는 어미 곁에서 배고파 보채는 개똥이 (세살먹이)에게 죽을 사줄 수도 있다 – 팔십 전을 손에 쥔 김 첨지의 마음은 푼푼하였다.
Giờ thì có thể mua canh cho vợ, cũng có thể mua cháo cho đứa con ba tuổi đang đói bên mẹ, cầm 80 jeon trong tay, lòng anh nhẹ nhõm.
12.그러나 그의 행운은 그걸로 그치지 않았다.
Nhưng vận may của anh chưa dừng lại ở đó.
땀과 빗물이 섞여 흐르는 목덜미를 기름주머니가 다된 왜목 수건으로 닦으며, 그 학교 문을 돌아 나올 때였다.
Anh vừa lau cổ ướt mồ hôi và mưa bằng chiếc khăn cũ, vừa bước ra khỏi cổng trường.
뒤에서 “인력거!” 하고 부르는 소리가 난다.
Phía sau có tiếng gọi “Xe kéo!”.
자기를 불러 멈춘 사람이 그 학교 학생인 줄 김첨지는 한번 보고 짐작할 수 있었다.
Nhìn qua, anh đoán người gọi là học sinh của trường.
그 학생은 다짜고짜로,
Người đó liền hỏi ngay
13.“남대문 정거장까지 얼마요.”
“Đến ga Namdaemun bao nhiêu tiền?”
14.라고 물었다.
Hỏi vậy.
아마도 그 학교 기숙사에 있는 이로 동기방학을 이용하여 귀향하려 함이리라.
Có lẽ là học sinh ký túc xá, tranh thủ nghỉ đông về quê.
오늘 가기로 작정은 하였건만 비는 오고, 짐은 있고 해서 어찌할 줄 모르다가 마침 김첨지를 보고 뛰어나왔음이리라.
Đã định đi hôm nay nhưng gặp mưa và mang nhiều đồ nên bối rối, thấy Kim Cheomji liền chạy ra.
그렇지 않으면 왜 구두를 채 신지 못해서 질질 끌고, 비록 고구라 양복일망정 노박이로 비를 맞으며 김첨지를 뒤쫓아 나왔으랴.
Nếu không thì sao lại kéo lê giày chưa kịp mang, mặc đồ ướt mà đuổi theo anh như vậy.
15.
“남대문 정거장까지 말씀입니까.”
“Ý cậu là đến ga Namdaemun phải không?”
16.하고 김첨지는 잠깐 주저하였다.
Kim Cheomji hơi do dự.
그는 이 우중에 우장도 없이 그 먼 곳을 철벅거리고 가기가 싫었음일까? 처음 것 둘째 것으로 고만 만족하였음일까? 아니다 결코 아니다.
Có phải vì không muốn đi xa dưới mưa? Hay đã hài lòng với số tiền kiếm được? Không, hoàn toàn không phải.
이상하게도 꼬리를 맞물고 덤비는 이 행운 앞에 조금 겁이 났음이다.
Kỳ lạ là trước vận may liên tiếp, anh lại thấy sợ.
그리고 집을 나올 제 아내의 부탁이 마음이 켕기었다
Và lời dặn của vợ trước khi ra khỏi nhà khiến anh áy náy
17.“오늘은 나가지 말아요. 제발 덕분에 집에 붙어 있어요. 내가 이렇게 아픈데……”
“Hôm nay đừng đi, làm ơn ở nhà với em, em đang đau thế này…”
18.라고, 모기 소리같이 중얼거리고 숨을 걸그렁걸그렁하였다.
Nói bằng giọng yếu ớt như muỗi kêu, thở khó nhọc.
19.“아따, 젠장맞을 년, 별 빌어먹을 소리를 다 하네. 맞붙들고 앉았으면 누가 먹여 살릴 줄 알아.”
“Ôi trời, nói linh tinh gì vậy, nếu cứ ngồi đó thì ai nuôi đây!”
20.하고 훌쩍 뛰어나오려니까 환자는 붙잡을 듯이 팔을 내저으며,
Anh vùng chạy ra thì người bệnh vung tay như muốn giữ lại
21.“나가지 말라도 그래, 그러면 일찍이 들어와요.”
“Không đi thì thôi, nếu đi thì về sớm nhé.”
22.하고, 목메인 소리가 뒤를 따랐다.
Giọng nghẹn ngào vang lên phía sau.
23.정거장까지 가잔 말을 들은 순간에 경련적으로 떠는 손 유달리 큼직한 눈울 듯한 아내의 얼굴이 김첨지의 눈앞에 어른어른하였다.
Nghe đến việc đi ga, hình ảnh vợ với đôi mắt to, tay run rẩy hiện lên trước mắt anh.
24.“그래 남대문 정거장까지 얼마란 말이요?”
“Vậy đến ga Namdaemun bao nhiêu tiền?”
25.하고 학생은 초조한 듯이 인력거꾼의 얼굴을 바라보며 혼자말같이,
Người học sinh nhìn anh sốt ruột rồi lẩm bẩm
26.“인천 차가 열한 점에 있고 그 다음에는 새로 두 점이든가.”
“Chuyến tàu Incheon lúc 11 giờ, rồi chuyến sau là 2 giờ gì đó.”
27.라고 중얼거린다.
Cậu ta lẩm bẩm vậy.
28.“일 원 오십 전만 줍시요.”
“Cho tôi 1 won 50 jeon.”
29.이 말이 저도 모를 사이에 불쑥 김첨지의 입에서 떨어졌다.
Câu đó bất giác bật ra khỏi miệng Kim Cheomji.
제 입으로 부르고도 스스로 그 엄청난 돈 액수에 놀랐다.
Ngay cả anh cũng ngạc nhiên vì số tiền lớn đó.
한꺼번에 이런 금액을 불러라도 본 지가 그 얼마 만인가!
Lâu lắm rồi anh mới dám nói giá như vậy.
그러자 그 돈벌 용기가 병자에 대한 염려를 사르고 말았다.
Lòng ham kiếm tiền đã lấn át nỗi lo cho vợ.
설마 오늘 내로 어떠랴 싶었다.
Anh nghĩ chắc hôm nay chưa sao đâu.
무슨 일이 있더라도 제일 제이의 행운을 곱친 것보다고 오히려 갑절이 많은 이 행운을 놓칠 수 없다 하였다.
Dù sao cũng không thể bỏ lỡ vận may lớn hơn gấp đôi này.
30.“일 원 오십 전은 너무 과한데.”
“1 won 50 jeon thì đắt quá.”
31.이런 말을 하며 학생은 고개를 기웃하였다.
Cậu học sinh nghiêng đầu nói vậy.
32.“아니올시다. 잇수로 치면 여기서 거기가 시오 리가 넘는답니다. 또 이런 진날은 좀 더 주셔야지요.”
“Không đâu, tính ra hơn 15 dặm, lại còn ngày mưa nữa, phải trả thêm chứ.”
33.하고 빙글빙글 웃는 차부의 얼굴에는 숨길 수 없는 기쁨이 넘쳐흘렀다.
Vừa nói vừa cười, niềm vui hiện rõ trên mặt anh.
34.“그러면 달라는 대로 줄 터이니 빨리 가요.”
“Vậy cứ trả như anh nói, đi nhanh đi.”
35.관대한 어린 손님은 이런 말을 남기고 총총히 옷도 입고 짐도 챙기러 갈 데로 갔다.
Cậu khách trẻ hào phóng nói vậy rồi vội đi chuẩn bị đồ.
36.그 학생을 태우고 나선 김첨지의 다리는 이상하게 거뿐하였다. 달음질을 한다느니보다 거의 나는 듯하였다. 바퀴도 어떻게 속히 도는지 구른다느니보다 마치 얼음을 지쳐 나가는 스케이트 모양으로 미끄러져 가는 듯하였다. 언 땅에 비가 내려 미끄럽기도 하였지만.
Chở cậu học sinh, chân Kim Cheomji nhẹ bẫng như bay, bánh xe lăn nhanh như trượt trên băng, dù mặt đất trơn vì mưa.
37.이윽고 끄는 이의 다리는 무거워졌다. 자기 집 가까이 다다른 까닭이다. 새삼스러운 염려가 그의 가슴을 눌렀다. “오늘은 나가지 말아요, 내가 이렇게 아픈데” 이런 말이 잉잉 그의 귀에 울렸다. 그리고 병자의 움쑥 들어간 눈이 원망하는 듯이 자기를 노리는 듯하였다. 그러자 엉엉 하고 우는 개똥이의 곡성을 들은 듯싶다. 딸국딸국 하고 숨 모으는 소리도 나는 듯싶다.
Nhưng khi gần nhà, chân anh trở nên nặng nề, nỗi lo lại dâng lên, lời vợ vang bên tai, hình ảnh đôi mắt trũng sâu như oán trách, rồi tiếng con khóc và thở nấc như hiện ra.
38.“왜 이리우, 기차 놓치겠구먼.”
“Sao thế, lỡ tàu bây giờ.”
39.하고 탄 이의 초조한 부르짖음이 간신히 그의 귀에 들어왔다.
Tiếng khách giục giã vang lên.
언뜻 깨달으니 김첨지는 인력거를 쥔 채 길 한복판에 엉거주춤 멈춰 있지 않은가.
Anh giật mình thấy mình đứng giữa đường.
40.“예, 예.”
“Dạ, dạ.”
41.하고, 김첨지는 또다시 달음질하였다. 집이 차차 멀어 갈수록 김첨지의 걸음에는 다시금 신이 나기 시작하였다. 다리를 재게 놀려야만 쉴새없이 자기의 머리에 떠오르는 모든 근심과 걱정을 잊을 듯이.
Anh lại chạy, càng xa nhà càng chạy nhanh hơn như để quên hết lo lắng.
42.정거장까지 끌어다 주고 그 깜짝 놀란 일 원 오십 전을 정말 제 손에 쥠에 제 말마따나 십리나 되는 길을 비를 맞아 가며 질퍽거리고 온 생각은 아니하고 거저나 얻은 듯이 고마웠다. 졸부나 된 듯이 기뻤다. 제 자식뻘밖에 안 되는 어린 손님에게 몇 번 허리를 굽히며,
Đến ga, cầm 1 won 50 jeon trong tay, anh vui như trúng số, cúi đầu cảm ơn cậu khách trẻ.
43.“안녕히 다녀옵시요.”
“Đi mạnh giỏi nhé.”
44.라고 깍듯이 재우쳤다.
Anh lễ phép chào.
45.그러나 빈 인력거를 털털거리며 이 우중에 돌아갈 일이 꿈밖이었다. 노동으로 하여 흐른 땀이 식어지자 굶주린 창자에서, 물 흐르는 옷에서 어슬어슬 한기가 솟아나기 비롯하매 일 원 오십 전이란 돈이 얼마나 괜찮고 괴로운 것인 줄 절절히 느끼었다. 정거장을 떠나는 그의 발길은 힘 하나 없었다. 온몸이 옹송그려지며 당장 그 자리에 엎어져 못 일어날 것 같았다.
Nhưng quay về trong mưa với chiếc xe trống thật khổ, mồ hôi nguội đi, cái đói và cái lạnh khiến anh kiệt sức, bước chân rời ga nặng nề như sắp gục xuống.
46.“젠장맞을 것, 이 비를 맞으며 빈 인력거를 털털거리고 돌아를 간담. 이런 빌어먹을 제 할미를 붙을 비가 왜 남의 상판을 딱딱 때려!”
“Chết tiệt, phải kéo xe trống dưới mưa thế này, cái mưa đáng ghét cứ tạt vào mặt người ta!”
47.그는 몹시 화증을 내며 누구에게 반항이나 하는 듯이 게걸거렸다. 그럴 즈음에 그의 머리엔 또 새로운 광명이 비쳤나니 그것은 ‘이러구 갈 게 아니라 이 근처를 빙빙 돌며 차 오기를 기다리면 또 손님을 태우게 될는지도 몰라’란 생각이었다. 오늘 운수가 괴상하게도 좋으니까 그런 요행이 또 한번 없으리라고 누가 보증하랴. 꼬리를 굴리는 행운이 꼭 자기를 기다리고 있다고 내기를 해도 좋을 만한 믿음을 얻게 되었다. 그렇다고 정거장 인력거꾼의 등쌀이 무서우니 정거장 앞에 섰을 수는 없었다. 그래 그는 이전에도 여러 번 해본 일이라 바로 정거장 앞 전차 정류장에서 조금 떨어지게 사람 다니는 길과 전찻길 틈에 인력거를 세워 놓고 자기는 그 근처를 빙빙 돌며 형세를 관망하기로 하였다. 얼마 만에 기차는 왔고 수십 명이나 되는 손이 정류장으로 쏟아져 나왔다. 그 중에서 손님을 물색하는 김첨지의 눈엔 양머리에 뒤축 높은 구두를 신고 망토까지 두른 기생 퇴물인 듯 난봉 여학생인 듯한 여편네의 모양이 띄었다. 그는 슬근슬근 그 여자의 곁으로 다가들었다.
Anh vừa tức giận vừa lẩm bẩm như đang chống đối ai đó, rồi bỗng nảy ra ý nghĩ mới: không nên về ngay mà cứ quanh quẩn ở đây chờ tàu đến biết đâu lại có khách. Hôm nay vận may lạ lùng như vậy, ai dám chắc sẽ không có thêm lần nữa. Anh tin rằng may mắn vẫn còn đang chờ mình. Nhưng sợ bị những người kéo xe khác ở ga chèn ép nên anh không đứng ngay trước ga, mà đỗ xe cách đó một đoạn rồi đi lòng vòng quan sát. Một lúc sau tàu đến, hàng chục người đổ ra. Trong số đó, anh thấy một người phụ nữ ăn mặc như gái làng chơi hay nữ sinh hư hỏng, đội tóc kiểu Tây, đi giày cao gót và khoác áo choàng, nên tiến lại gần.
48.“아씨, 인력거 아니 타시랍시요.”
“Cô ơi, đi xe kéo không ạ?”
49.그 여학생인지 만지가 한참은 매우 때깔을 빼며 입술을 꼭 다문 채 김첨지를 거들떠보지도 않았다. 김첨지는 구걸하는 거지나 무엇같이 연해연방 그의 기색을 살피며,
Người phụ nữ ấy không thèm nhìn anh, cứ mím môi tỏ vẻ khó chịu. Kim Cheomji như kẻ ăn xin, cứ dò xét sắc mặt cô ta.
50.“아씨, 정거장 애들보담 아주 싸게 모셔다 드리겠습니다. 댁이 어디신가요.”
“Cô ơi, tôi chở rẻ hơn đám ở ga, cô đi đâu vậy ạ?”
51.하고 추근추근하게도 그 여자의 들고 있는 일본식 버들고리짝에 제 손을 대었다.
Anh còn nài nỉ và chạm vào chiếc giỏ cô ta đang cầm.
52.“왜 이래, 남 귀치않게.”
“Làm gì vậy, phiền người khác quá!”
53.소리를 벽력같이 지르고는 돌아선다. 김첨지는 어랍시요 하고 물러섰다.
Cô ta quát lớn rồi quay đi, Kim Cheomji giật mình lùi lại.
54.전차는 왔다. 김첨지는 원망스럽게 전차 타는 이를 노리고 있었다. 그러나 그의 예감은 틀리지 않았다. 전차가 가득 사람을 싣고 움직이자 타지 못한 한 사람이 남았다. 큰 가방을 들고 있는 걸 보니 짐 때문에 bị đẩy xuống. 김첨지는 다가섰다.
Xe điện đến, anh nhìn những người lên xe đầy tiếc nuối. Nhưng linh cảm của anh không sai, xe chạy đi để lại một người mang hành lý lớn bị đẩy xuống, anh liền tiến lại.
55.“인력거를 타시랍시요.”
“Đi xe kéo nhé.”
56.한동안 값으로 승강이를 하다가 육십 전에 인사동까지 태워다 주기로 하였다. 인력거가 무거워지매 그의 몸은 이상하게도 가벼워졌고 그리고 또 인력거가 가벼워지니 몸은 다시금 무거워졌건만 이번에는 마음조차 초조해 온다. 집의 광경이 자꾸 눈앞에 어른거리어 인제 요행을 바랄 여유도 없었다. 나무 등걸이나 무엇 같고 제 것 같지도 않은 다리를 연해 꾸짖으며 질팡갈팡 뛰는 수밖에 없었다.
Sau một hồi mặc cả, anh chở khách đến Insadong với giá 60 jeon. Xe nặng thì người nhẹ, xe nhẹ thì người nặng, nhưng lần này lòng anh lại đầy lo lắng. Hình ảnh trong nhà cứ hiện lên khiến anh không còn tâm trí mong vận may nữa, chỉ biết chạy như người mất hồn.
57.그럴 즈음에 마침 길가 선술집에서 그의 친구 치삼이가 나온다.
Đúng lúc đó, người bạn Chisam bước ra từ quán rượu ven đường.
58.“여보게 김첨지, 자네 돈 많이 벌었을 테니 한잔 하세.”
“Này Kim Cheomji, chắc hôm nay kiếm được nhiều, vào làm chén đi.”
59.김첨지는 이 친구를 만난 게 어떻게 반가운지 몰랐다.
Kim Cheomji vui mừng khi gặp bạn.
60.“자네도 오늘 재미가 좋아 보이.”
“Cậu hôm nay trông cũng vui vẻ đấy.”
61.하고 웃었다.
Anh cười.
62.“어서 들어와 몸 좀 말리게.”
“Vào đây hong khô người đi.”
63.선술집은 훈훈하고 따뜻하였다…
Quán rượu ấm áp… anh ăn uống ngấu nghiến vì quá đói, uống rượu liên tục.
64.김첨지의 눈은 벌써 풀리기 시작하였다.
Mắt anh bắt đầu lờ đờ vì say.
65.치삼은 의아한 듯이 김첨지를 보며,
Chisam nhìn anh ngạc nhiên
66.“벌써 우리가 넉 잔씩 먹었네.”
“Chúng ta uống bốn chén rồi đấy.”
67.라고 말했다.
Anh ta nói.
68.“오늘 운수가 좋았느니.”
“Hôm nay tôi may mắn lắm.”
69.“얼마를 벌었단 말인가.”
“Kiếm được bao nhiêu?”
70.“삼십 원을 벌었어!”
“Tôi kiếm được 30 won!”
71.“이 사람 취했군.”
“Anh say rồi.”
72.“더 먹어!”
“Uống nữa đi!”
73.김첨지는 술을 더 달라고 소리쳤다.
Anh hét đòi rượu thêm.
74.“왜 술을 붓지 않어!”
“Sao không rót rượu!”
75.하고 화를 냈다.
Anh nổi giận.
76.“내가 돈이 없을 줄 알고!”
“Tưởng tôi không có tiền à!”
77.하며 돈을 던졌다.
Anh ném tiền xuống.
78.“돈 떨어졌네.”
“Tiền rơi kìa.”
79.치삼은 주워 주었다.
Chisam nhặt lên.
80.“내가 돈이 없나!”
“Tôi không có tiền sao!”
81.하고 소리쳤다.
Anh hét lên.
82.“이 원수엣돈!”
“Đồng tiền đáng ghét này!”
83.돈을 내던졌다.
Anh ném tiền đi.
84.술은 계속 이어졌다.
Rượu tiếp tục được rót.
85.“또 부어!”
“Rót nữa!”
86.라고 외쳤다.
Anh hét lên.
87.김첨지는 갑자기 웃었다.
Kim Cheomji đột nhiên cười lớn.
88.“오늘 우스운 이야기 하나 할까.”
“Hôm nay kể chuyện vui nhé.”
89.“그래서?”
“Rồi sao?”
90.그는 여자를 만난 이야기를 했다.
Anh kể chuyện bị người phụ nữ mắng.
91.사람들이 웃었다.
Mọi người cười.
92.그도 같이 웃었다.
Anh cũng cười theo.
93.그러나 곧 울기 시작했다.
Nhưng ngay sau đó lại bật khóc.
94.치삼은 놀라서,
Chisam ngạc nhiên
95.“왜 또 우는 건가.”
“Sao lại khóc?”
96.김첨지는 코를 훌쩍이며,
Kim Cheomji sụt sịt
97.“우리 마누라가 죽었다네.”
“Vợ tôi chết rồi.”
98.“언제?”
“Khi nào?”
99.“오늘이지.”
“Hôm nay.”
100.“거짓말 말아.”
“Đừng nói dối.”
101.“참말이야…”
“Là thật…”
102.김첨지는 엉엉 울었다.
Anh khóc nức nở.
103.치삼은 당황하며,
Chisam bối rối
104.“집에 가세.”
“Về nhà thôi.”
105.라고 했다.
Anh nói.
106.그러나 김첨지는 웃으며,
Nhưng Kim Cheomji lại cười
107.“안 죽었어.”
“Chưa chết.”
108.라고 했다.
Anh nói.
109.“속았다.”
“Bị lừa rồi.”
110.하고 웃었다.
Anh cười.
111.치삼은 불안해하며,
Chisam lo lắng
112.다시 집에 가자고 했다.
Lại bảo về nhà.
113.“안 죽었어!”
“Chưa chết!”
114.김첨지는 끝까지 부정했다.
Anh vẫn phủ nhận.
115.김첨지는 설렁탕을 사서 집에 돌아왔다.
Anh mua canh rồi về nhà.
집 안은 너무나 조용했다.
Trong nhà yên lặng đáng sợ.
아이의 젖 빠는 소리만 들렸다.
Chỉ nghe tiếng đứa bé bú sữa.
116.김첨지는 이상함을 느꼈다.
Anh cảm thấy bất thường.
117.“왜 안 나와!”
“Sao không ra!”
118.라고 소리쳤다.
Anh hét lên.
119.방 안에는 악취가 가득했다.
Trong phòng đầy mùi hôi.
120.그는 소리치며 들어갔다.
Anh vừa hét vừa bước vào.
121.“왜 누워만 있어!”
“Sao cứ nằm đó!”
122.발로 찼지만 이상한 느낌이 들었다.
Anh đá nhưng cảm giác như đá vào khúc gỗ.
아이는 울기 시작했다.
Đứa bé bắt đầu khóc.
123.그는 아내를 흔들며,
Anh lắc vợ
124.“말해!”
“Nói đi!”
125.“……”
…
126.“왜 말이 없어!”
“Sao không nói!”
127.“……”
…
128.“죽었단 말이냐!”
“Chết rồi sao!”
129.“……”
…
130.“정말 죽었나…”
“Thật sự chết rồi…”
131.그는 아내의 눈을 보았다.
Anh nhìn vào mắt vợ.
132.“왜 나를 안 봐!”
“Sao không nhìn tôi!”
133.눈물이 떨어졌다.
Nước mắt anh rơi xuống mặt vợ.
134.“설렁탕을 사 왔는데 왜 못 먹어… 오늘은 운수가 좋았는데…”
“Tôi mua canh về rồi mà sao không ăn… hôm nay tôi đã may mắn như vậy…”
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823




