TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO -NAM CAO-
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
SVTT NGUYỄN VŨ UYÊN THƯ – CƠ SỞ PHÚ MỸ HƯNG
- Hắn vừa đi vừa chửi.
그는 걸어가면서 욕을 했다. - Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi.
늘 그랬다. 술을 마신 뒤에는 꼭 욕을 했다. - Bắt đầu chửi trời, có hề gì?
처음에는 하늘을 욕했다. 그래도 무슨 상관이 있겠는가? - Trời có của riêng nhà nào?
하늘이 누구 한 집의 것이라도 되는가? - Rồi hắn chửi đời.
그리고 그는 세상을 욕했다. - Thế cũng chẳng sao: Đời là tất cả nhưng cũng chẳng là ai.
그래도 상관없다. 세상은 모두의 것이지만 동시에 누구의 것도 아니기 때문이다. - Tức mình hắn chửi ngay tất cả làng Vũ Đại.
화가 난 그는 곧바로 부대 마을 사람들 모두를 욕했다. - Nhưng cả làng Vũ Đại ai cũng nhủ: “Chắc nó trừ mình ra!”.
하지만 부대 마을 사람들은 모두 속으로 이렇게 생각했다. “아마 나만은 빼고 욕하는 거겠지!” - Không ai lên tiếng cả.
아무도 소리를 내어 대답하지 않았다. - Tức thật! Ồ thế này thì tức thật!
정말 화가 났다! 아, 이건 정말 화가 날 만했다! - Tức chết đi được mất!
분해서 죽을 지경이었다! - Đã thế, hắn phải chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn.
그래서 그는 자기와 같이 욕하지 않는 놈의 아버지까지 욕했다. - Nhưng cũng không ai ra điều.
하지만 그래도 아무도 반응하지 않았다. - Mẹ kiếp! Thế thì có phí rượu không?
젠장! 이러면 술이 아깝지 않은가? - Thế thì có khổ hắn không?
이러면 그가 괴롭지 않겠는가? - Không biết đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn cho hắn khổ đến nông nỗi này!
도대체 어떤 놈이 그를 낳아 이렇게까지 괴롭게 만들었단 말인가! - A ha! Phải đấy hắn cứ thế mà chửi, hắn chửi đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo?
아하! 맞다. 그는 계속 욕했다. 자기를 낳은 그 빌어먹을 놈, 이 치페오라는 인간을 낳은 그 놈을 욕했다. - Mà có trời biết!
하지만 그건 하늘만이 알 일이다! - Hắn không biết, cả làng Vũ Đại cũng không ai biết.
그도 모르고, 부대 마을 사람들 역시 아무도 몰랐다. - Một anh đi thả ống lươn, một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và đem cho một người đàn bà góa mù.
어느 날 새벽, 장어 통발을 놓으러 가던 한 남자가 버려진 벽돌 가마 옆에 놓인 큰 치마 속에서 벌거벗은 채 창백하게 누워 있는 그를 발견하였다. 그는 그 아이를 데려다가 한 맹인 과부에게 주었다. - Người đàn bà góa mù này bán hắn cho một bác phó cối không con và khi bác phó cối này chết thì hắn bơ vơ, hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ.
그 맹인 과부는 그를 자식이 없는 방앗간 일꾼에게 팔았고, 그 방앗간 일꾼이 죽자 그는 의지할 곳 없이 이 집 저 집을 떠돌며 머슴살이를 하게 되었다. - Năm hai mươi tuổi, hắn làm canh điền cho ông lý Kiến, bây giờ cụ bá Kiến, ăn tiền chỉ làng.
스무 살이 되자 그는 이젠 마을에서 큰 권세를 가진 바뀌엔(바 끼엔)에게 소작농으로 들어가 일을 했다. - Hình như, có mấy lần bà ba nhà ông lý, trẻ lắm mà lại hay ốm lửng, bắt hắn bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy.
젊지만 늘 몸이 좋지 않던 그의 셋째 부인이 몇 번인가 그에게 다리를 주물러 달라거나 배를 문질러 달라거나 등을 두드려 달라고 시킨 적이 있었던 것 같다. - Người ta bảo ông lý ra đình thì hách dịch, cả làng phải sợ, mà về nhà phải sợ cái bà ba còn trẻ này.
사람들은 바뀌엔이 마을 회관에 나가면 거만하게 굴어 온 마을 사람들이 그를 두려워하지만, 집에 돌아오면 이 젊은 셋째 부인을 무서워한다고 말했다. - Người bà ấy phớp pháp, má bà ấy hay hây, mà ông lý thì hay đau lưng lắm; người có bệnh đau lưng thì hay sợ vợ mà chúa đời là khoẻ ghen.
그 여자는 몸집이 풍만하고 볼이 늘 발그레했으며, 바뀌엔은 허리가 자주 아팠다. 허리가 아픈 사람은 아내를 무서워하기 쉽고 특히 질투가 심하다고 했다. - Có người bảo ông lý ghen anh canh điền khỏe mạnh mà sợ bà ba không dám nói.
어떤 사람은 바뀌엔이 그 건장한 머슴을 질투하면서도 셋째 부인을 무서워해 아무 말도 하지 못한다고 했다. - Có người thì bảo anh canh điền ấy được bà ba quyền thu quyền bó trong nhà tin cẩn nên lấy trộm tiền trộm thóc nhiều.
또 어떤 사람은 그 머슴이 셋째 부인의 신임을 받아 집안 살림을 맡게 되자 돈과 쌀을 많이 훔쳤다고도 말했다. - Mỗi người nói một cách.
사람마다 하는 말이 달랐다. - Chẳng biết đâu mà lần.
어느 말이 맞는지 알 수 없었다. - Chỉ biết một hôm Chí bị giải huyện rồi nghe đâu phải đi tù.
다만 어느 날 치페오가 현청으로 끌려가더니 결국 감옥에 가게 되었다는 것만 알 뿐이었다. - Không biết tù mấy năm, nhưng hắn đi biệt tăm bảy, tám năm, rồi một hôm, hắn lại lù lù ở đâu lần về.
몇 년을 감옥에 있었는지는 모르지만 그는 칠팔 년 동안 소식이 없다가 어느 날 불쑥 다시 돌아왔다. - Hắn về lần này trông khác hẳn, mới đầu chẳng ai biết hắn là ai.
이번에 돌아온 그는 완전히 달라져 처음에는 아무도 그가 누구인지 알아보지 못했다. - Trông đặc như thằng săng đá!
돌덩이 같은 모습이었다! - Cái đầu thì trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết!
머리는 빡빡 깎였고, 이빨은 희게 드러났으며, 얼굴은 새까맣고 사납게 생겼고, 두 눈은 험악하게 노려보아 소름이 끼칠 지경이었다. - Hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng.
그는 검은 바지에 누런 양복 상의를 입고 있었다. - Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế.
가슴에는 용과 봉황, 그리고 철퇴를 든 장군의 문신이 가득 새겨져 있었고 두 팔에도 문신이 빼곡했다. - Trông gớm chết!
정말 보기만 해도 소름이 끼쳤다. - Hắn về hôm trước, hôm sau đã thấy ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều.
그는 전날 돌아오더니 다음 날에는 시장에 앉아 정오부터 해 질 녘까지 개고기 안주에 술을 마시고 있었다. - Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cổng nhà bá Kiến, gọi tên tục ra mà chửi.
그리고 잔뜩 취한 그는 빈 병 하나를 들고 바뀌엔의 집 대문 앞에 가서 그의 속된 이름을 부르며 욕을 퍼부었다. - Cụ bá không có nhà.
바뀌엔은 집에 없었다. - Thấy điệu bộ hung hăng của hắn, bà cả đùn bà hai, bà hai thúc bà ba, bà ba gọi bà tư, nhưng kết cục chẳng bà nào dám ra nói với hắn một vài lời phải chăng.
그의 난폭한 태도를 보고 첫째 부인이 둘째 부인에게 미루고, 둘째는 셋째에게 떠넘기고, 셋째는 넷째를 불렀지만 결국 아무도 나가 그에게 점잖게 말을 걸 용기가 없었다. - Mặc cái phải cái thằng liều lĩnh quá, nó lại say rượu, tay nó lại lăm lăm cầm một cái vỏ chai, mà nhà lúc ấy toàn đàn bà cả…
그가 워낙 무모한 데다 술까지 취했고 손에는 빈 병을 들고 있었으며 그때 집에는 여자들뿐이었기 때문이다. - Thôi thì cứ đóng cái cổng cho thật chặt, rồi mặc thây cha nó, nó chửi thì tai liền miệng đấy, chửi thì lại nghe!
그래서 그저 대문을 꽉 닫아 걸고 그가 욕을 하든 말든 내버려 두자고 했다. 욕하면 귀로 듣고 흘려버리면 그만이었다. - Thành thử chỉ có ba con chó dữ với một thằng say rượu!…
그래서 결국 사나운 개 세 마리와 술 취한 그 한 사람만이 소란을 피우고 있었다! - Thật là ầm ĩ!
정말 시끄러웠다! - Hàng xóm phải một bữa điếc tai, nhưng có lẽ trong bụng thì họ hả: xưa nay họ mới chỉ được nghe bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá chửi người ta, bây giờ họ mới thấy người ta chửi lại cả nhà cụ bá.
이웃들은 귀가 멍멍할 지경이었지만 속으로는 통쾌해했을 것이다. 그동안은 늘 바뀌엔 집의 첫째, 둘째, 셋째, 넷째 부인이 남을 욕하는 것만 들었지, 이제야 누군가가 그 집안을 향해 욕하는 것을 보았기 때문이다. - Mà chửi mới sướng miệng làm sao!
게다가 욕하는 모습이 얼마나 통쾌해 보였던가! - Mới ngoá ngắt làm sao.
얼마나 매섭게 퍼붓던지! - Họ bảo nhau: Phen này cha con thằng bá Kiến đó còn dám vác mặt đi đâu nữa!
사람들은 서로 말했다. 이번에는 바뀌엔 부자가 어디 가서 얼굴을 들고 다니겠느냐고. - Mồ mả tổ tiên đến lộn lên mất.
조상 묘까지 뒤집힐 노릇이라고 했다. - Cũng có người hiền lành hơn bảo: “Phúc đời nhà nó, chắc ông lý không có nhà…”.
좀 더 점잖은 사람은 이렇게 말하기도 했다. “저 집안이 운이 좋지, 아마 리장은 집에 없을 거야…”. - Ông lý đây là ông lý Cường, con giai cụ Bá nổi tiếng là hách dịch, coi người như rơm rác.
여기서 말하는 리장은 바뀌엔의 아들 리끄엉으로, 거만하고 사람을 하찮게 여기는 것으로 유명했다. - Phải ông lý Cường thử có nhà xem nào!
리끄엉이 집에 있었더라면 어찌 되었을지 몰랐다! - Quả nhiên họ nói có sai đâu!
과연 그들의 말이 틀리지 않았다! - Đấy, có tiếng người sang sảng quát: “Mày muốn lôi thôi gì?… Cái thằng không cha không mẹ này! Mày muốn lôi thôi gì?…”.
그때 우렁찬 고함 소리가 들렸다. “이 자식, 무슨 소란을 피우려는 거냐?… 부모도 없는 놈이! 무슨 짓을 하려는 거냐?…” - Đã bảo mà!
거 봐라! - Cái tiếng quát tháo kia là tiếng lý Cường.
그 고함 소리는 바로 리끄엉의 목소리였다. - Lý Cường đã về!
리끄엉이 돌아온 것이다! - Lý Cường đã về!
리끄엉이 돌아왔다! - Phải biết…
이제 보게 될 것이다… - A ha! Một cái tát rất kêu.
아하! 짝 하고 큰 소리가 나는 뺨 때리기였다. - Ôi! Cái gì thế này?
어라! 이게 무슨 일이냐? - Tiếng đấm tiếng đá nhau bình bịch.
주먹질과 발길질 소리가 쿵쿵 울렸다. - Thôi, cứ gọi là tan xương!
그야말로 뼈가 부서질 듯한 싸움이었다! - Bỗng “choang” một cái, thôi phải rồi, hắn đập cái chai vào cột cổng…
갑자기 “쨍” 하는 소리가 났다. 그렇다, 그가 병을 대문 기둥에 내리친 것이다… - Ồ hắn kêu!
어, 그가 소리쳤다! - Hắn vừa chửi vừa kêu làng như bị người ta cắt họng.
그는 욕을 하면서 마치 목이 잘린 사람처럼 마을이 떠나가라 고함을 질렀다. - Ồ hắn kêu!
어, 그가 울부짖었다! - Ối làng nước ơi! Cứu tôi với… Ối làng nước ơi! Bố con thằng bá Kiến nó đâm chết tôi! Thằng lý Cường nó đâm chết tôi rồi, làng nước ơi!…
아이고, 마을 사람들아! 나 좀 살려 줘… 아이고, 마을 사람들아! 바뀌엔 부자가 나를 찔러 죽이려 한다! 리끄엉이 나를 찔러 죽이려 한다, 마을 사람들아!… - Và họ thấy Chí Phèo lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt.
사람들은 치페오가 땅바닥에서 뒹굴며 소리를 지르면서 깨진 병 조각으로 자기 얼굴을 긁는 것을 보았다. - Máu ra loe loét trông gớm quá!
피가 흘러 낭자하여 보기에 몹시 끔찍했다! - Mấy con chó xông vào quanh hắn, sủa rất hăng.
몇 마리 개가 그를 둘러싸고 달려들어 사납게 짖어댔다. - Lý Cường hơi tái mặt, đứng nhìn mà cười nhạt, cười khinh bỉ.
리끄엉은 얼굴이 약간 창백해졌지만 서서 바라보며 냉소적으로 또 경멸하듯 웃었다. - Hừ! Ngỡ là gì, chẳng hoá ra nằm ăn vạ!
흥! 대단한 일인 줄 알았더니 결국 드러누워 떼를 쓰는 것이 아닌가! - Thì ra hắn định đến đây nằm vạ!
결국 그는 여기 와서 드러누워 억지를 부리려 했던 것이다! - Người ta tuôn đến xem.
사람들이 구경하려고 몰려들었다. - Mấy cái ngõ tối xung quanh đùn ra biết bao nhiêu là người!
주변의 어두운 골목마다 수많은 사람들이 쏟아져 나왔다! - Thật ồn ào như chợ.
정말 시장처럼 시끄러웠다. - Bà cả, bà hai, bà ba, bà tư nhà cụ bá cũng vững dạ vì có anh lý, cũng xung xía ra chửi góp.
바뀌엔 집의 첫째, 둘째, 셋째, 넷째 부인도 리끄엉이 있으니 마음이 놓였는지 나와서 함께 욕을 퍼부었다. - Thật ra, các bà muốn xem Chí Phèo ra làm sao?
사실 그녀들은 치페오가 어떻게 되는지 보고 싶었던 것이다. - Không khéo nó có ý gieo vạ cho cụ ông phen này…
자칫하면 이번에 노인에게 화를 입히려는 속셈일지도 모르기 때문이었다… - Nhưng kìa cụ ông đã về.
그런데 마침 노인이 돌아왔다. - Cụ cất tiếng rất sang hỏi: “Cái gì mà đông như thế này?”.
그는 위엄 있는 목소리로 물었다. “무슨 일로 이렇게 사람이 많으냐?” - Chỗ này “lạy cụ”, chỗ kia “lạy cụ”, người ta kính cẩn giãn ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích rên khe khẽ như gần chết.
여기저기서 “어르신!” 하고 인사를 하며 사람들이 공손히 길을 비켜섰고 치페오는 갑자기 몸을 길게 뻗은 채 거의 죽은 사람처럼 꼼짝하지 않고 조용히 신음했다. - Thoáng nhìn qua, đã hiểu cơ sự rồi.
그는 한눈에 상황을 알아차렸다. - Làm lý trưởng rồi chánh tổng, bây giờ lại đến lượt con cụ làm lý trưởng, những việc như thế này cụ không lạ gì.
그는 리장도 하고 총리도 했으며 이제는 아들까지 리장이 되었으니 이런 일에는 이미 익숙했다. - Cụ hãy quát mấy bà vợ đang xung xía chực tấn công với chồng:
그는 남편 곁에서 함께 욕을 퍼부으려는 부인들에게 호통을 쳤다. - Các bà đi vào nhà: đàn bà chỉ lôi thôi, biết gì?
당신들은 집 안으로 들어가시오. 여자들이 뭘 안다고 괜히 나서느냐! - Rồi quay lại bọn người làng, cụ dịu giọng hơn một chút:
그리고 마을 사람들을 돌아보며 그는 조금 부드러운 목소리로 말했다. - Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại như thế này?
여러분도 이제 돌아가시오! 뭐 그렇게 몰려들 일이 있소? - Không ai nói gì, người ta dần dần tản đi.
아무도 말하지 않았고 사람들은 서서히 흩어졌다. - Vì nể cụ bá cũng có, nhưng vì nghĩ đến sự yên ổn của mình cũng có: người nhà quê vốn ghét lôi thôi.
사람들이 물러난 것은 바뀌엔을 체면상 존중한 이유도 있었지만 자기들의 평안을 생각한 이유도 있었다. 시골 사람들은 원래 소란스러운 일을 싫어한다. - Ai dại gì đứng ỳ ra đấy, có làm sao họ triệu mình đi làm chứng.
괜히 거기 남아 있다가 무슨 일이 생기면 증인으로 불려 갈지도 모르기 때문이다. - Sau còn trơ lại Chí Phèo và cha con cụ bá.
결국 그 자리에 남은 것은 치페오와 바뀌엔 부자뿐이었다. - Bây giờ cụ mới lại gần hắn, khẽ lay và gọi:
이제 그는 그에게 다가가 가볍게 흔들며 불렀다. - Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?
치 씨, 왜 이렇게 하는 거요? - Chí Phèo lim dim mắt, rên lên:
치페오는 눈을 반쯤 감고 신음하며 말했다. - Tao chỉ liều chết với bố con nhà mày đấy thôi.
나는 너희 부자와 목숨 걸고 싸우려고 온 거다. - Nhưng tao mà chết thì có thằng sát nghiệp, mà còn rũ tù chưa biết chừng.
하지만 내가 죽으면 살인죄가 될 수도 있고 또 감옥살이를 하게 될지도 모른다. - Cụ bá cười nhạt, nhưng tiếng cười giòn giã lắm: người ta bảo cụ hơn người cũng chỉ bởi cái cười.
바뀌엔은 냉소적으로 웃었지만 웃음소리는 아주 우렁찼다. 사람들은 그가 남보다 뛰어난 것도 바로 그 웃음 때문이라고 말했다. - Cái anh này nói mới hay! Ai làm gì mà anh phải chết? Đời người chứ có phải con ngóe đâu? Lại say rồi phải không?
이 사람 말이 참 이상하군! 누가 뭘 했다고 죽는다는 거요? 사람 인생이지 송아지도 아닌데? 또 술에 취한 거요? - Rồi đổi giọng, cụ thân mật hỏi:
그리고는 목소리를 바꾸어 친근하게 물었다. - Về bao giờ thế? Sao không vào tôi chơi? Đi vào nhà uống nước.
언제 돌아온 거요? 왜 나를 찾아오지 않았소? 집에 들어가서 물이나 한 잔 하시오. - Thấy Chí Phèo không nhúc nhích, cụ tiếp luôn:
치페오가 꼼짝하지 않자 그는 계속 말했다. - Nào đứng lên đi. Cứ vào đây uống nước đã. Có cái gì ta nói chuyện tử tế với nhau, cần gì mà phải làm thanh động lên như thế, người ngoài biết, mang tiếng cả.
자, 일어나시오. 우선 들어와서 물이나 마시오. 무슨 일이든 우리끼리 점잖게 이야기하면 되지 이렇게 소란을 피울 필요가 있겠소? 남들이 알면 체면만 구겨지지 않겠소. - Rồi vừa xốc Chí Phèo, cụ vừa phàn nàn:
그러면서 치페오를 부축해 일으키며 그는 투덜거렸다. - Khổ quá! Giá có tôi ở nhà thì đâu đến nỗi. Ta nói chuyện với nhau, thế nào cũng xong. Người lớn cả, chỉ một câu chuyện với nhau là đủ.
참 딱하군! 내가 집에 있었더라면 이런 지경까지는 오지 않았을 텐데. 우리가 이야기만 하면 다 해결될 일 아닌가. 다 큰 사람들이니 말 한마디면 충분하지. - Chỉ tại thằng lý Cường nóng tính không biết nghĩ trước nghĩ sau.
다 리끄엉 그 녀석이 성질이 급해서 앞뒤 생각을 못 했기 때문이오. - Ai, chứ anh với nó còn có họ kia đấy.
게다가 당신과 그 녀석은 같은 집안이기도 하지 않소. - Chí Phèo chẳng biết họ hàng ra làm sao, nhưng cũng thấy lòng nguôi nguôi.
치페오는 무슨 친척인지도 몰랐지만 마음이 조금 누그러지는 것을 느꼈다. - Hắn cố làm ra vẻ nặng nề, ngồi lên.
그는 일부러 힘든 척하며 몸을 일으켜 앉았다. - Cụ bá biết rằng mình đã thắng, đưa mắt nháy con một cái, cụ quát:
바뀌엔은 이미 자신이 이겼다는 것을 알고 아들에게 눈짓을 한 번 보낸 뒤 호통쳤다. - Lý Cường đâu! Tội mày đáng chết. Không bảo người ta đun nước, mau lên!
리끄엉 어디 있느냐! 이놈, 벌을 받아 마땅하다. 사람 시켜 물이나 끓이지 않고 뭐 하는 거냐, 어서 해라! - Cụ dắt Chí Phèo đứng dậy, giục thêm vài tiếng nữa, và Chí Phèo chịu đi: hắn chỉ có khập khiễng cái chân như bị què.
그는 치페오를 부축해 일으켜 세우고 몇 번 더 재촉하자 치페오는 마침내 따라갔다. 그는 다리가 부러진 사람처럼 절뚝거리며 걸었다. - Là vì lúc ấy trong người hắn rượu đã hơi nhạt rồi, không còn kêu gào chửi bới, hắn thấy hình như không còn hăng hái nữa.
그때는 이미 술기운이 조금 가셔서 더 이상 소리를 지르거나 욕을 할 기운도 없었고, 전처럼 기세도 사라진 듯했다. - Sự ngọt ngào làm mềm nhũn, và lại những người đứng xem về cả rồi, hắn thấy hình như trơ trọi.
상대의 부드러운 태도에 마음이 풀어졌고, 구경하던 사람들까지 모두 돌아가 버리자 그는 갑자기 외톨이가 된 듯한 느낌이 들었다. - Cái sợ cố hữu trong lòng thức dậy, cái sợ xa xôi thuở ngày xưa, hắn thấy quá là táo bạo.
마음 깊은 곳에 잠들어 있던 오래된 두려움이 되살아났고, 예전에 느끼던 그 두려움이 떠오르자 자신이 너무 대담했다는 생각이 들었다. - Không táo bạo mà dám gây sự với cha con bá Kiến, bốn đời làm tổng lý.
생각해 보면, 네 대째 마을의 권력을 잡아 온 바뀌엔 부자에게 시비를 걸다니 대담하기 짝이 없는 일이었다. - Và nghĩ thế, hắn thấy hắn cũng oai.
그렇게 생각하니 또 한편으로는 스스로 대단해 보이기도 했다. - Hắn làm cái ông gì ở làng này?
이 마을에서 그는 대체 어떤 사람인가? - Không váy cánh, không họ hàng thân thích; anh em không có, đến bố mẹ cũng không…
가족도 없고 친척도 없으며 형제도 없고 심지어 부모도 없는 신세였다… - Ở thế mà cũng dám độc lực chọi nhau với lý trưởng, chánh tổng, bá hộ tiên chỉ làng Vũ Đại, Chánh Hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc kỳ nhân dân đại biểu, khét tiếng đến cả trong hàng huyện.
그런 처지이면서도 그는 리장, 총리, 부대 마을의 큰 부자이자 원로, 지방 평의회 의원이며 북부 대표로까지 이름난 바뀌엔에게 맞서 싸운 것이다. - Thử hỏi đã có mặt nào trong cái làng hơn hai nghìn suất đinh này làm được thế?
이 이천 명이 넘는 마을 사람들 가운데 그런 일을 할 수 있는 사람이 과연 또 있겠는가? - Kể làm rồi có chết cũng là cam tâm.
이렇게까지 했으니 죽는다 해도 억울할 것 없다고 느꼈다. - Vậy mà không: cái cụ bá thét ra lửa ấy lại xử nhũn, mời hắn vào nhà xơi nước.
그런데 뜻밖에도 그렇게 무섭던 바뀌엔이 부드럽게 대해 주며 집에 들어와 물을 마시라고 권했다. - Thôi cũng hả, đã xử nhũn thì hắn vào.
그래도 그렇게 대해 주니 그는 집 안으로 들어가기로 했다. - Nhưng bỗng hắn lại hơi ngần ngại; biết đâu cái lão cáo già này nó lại chả lừa hắn vào nhà rồi lôi thôi?
하지만 문득 망설여졌다. 혹시 이 교활한 늙은이가 그를 집 안으로 유인해 또 다른 일을 꾸미는 것은 아닐까 하는 생각이 들었다. - Ồ mà thật có thể như thế lắm!
아, 정말 그럴 수도 있었다! - Này nó hãy lôi ngay mấy cái mâm cái nồi hay đồ vàng đồ bạc ra khoác vào cổ hắn, rồi cho vợ ra kêu làng lên, rồi cột cổ hắn vào, chần cho một trận om xương, rồi vu cho là ăn cướp thì sao?
예를 들어 금이나 은 같은 물건을 그의 목에 걸어 놓고 아내를 시켜 마을 사람들을 부른 뒤 그를 붙잡아 두들겨 패고 강도라고 뒤집어씌우면 어쩌겠는가? - Cái thằng bá Kiến này, già đời đục khoét, còn đòn cái nước gì mà chịu lép như trấu thế?
바뀌엔 같은 노회한 인간이 그렇게 쉽게 물러날 리가 없지 않은가? - Thôi dại gì mà vào miệng cọp, hắn cứ đứng đây này, cứ lăn ra đây này, lại kêu toáng lên xem nào.
괜히 호랑이 굴에 들어갈 필요가 있겠는가. 차라리 여기서 다시 드러눕고 또 크게 소리치면 어떻겠는가. - Nhưng nghĩ ngợi một tí, hắn có lăn ra kêu nữa, liệu có còn ai ra?
하지만 잠깐 생각해 보니 다시 드러누워 소리를 질러도 과연 누가 또 나올까 싶었다. - Và lại bây giờ rượu nhạt rồi, nếu lại phải rạch mặt mấy nhát nữa thì cũng đau.
게다가 이제 술기운도 거의 가셔서 또 얼굴을 몇 번 더 긋는다면 꽤 아플 것 같았다. - Thôi cứ vào!
그래, 그냥 들어가자! - Vào thì vào, cần quái gì.
들어가면 되는 거지, 뭐가 문제란 말인가. - Muốn đập đầu thì vào ngay nhà nó mà đập đầu còn hơn ở ngoài.
머리를 부딪칠 거라면 차라리 집 안에 들어가서 하는 편이 밖에서 하는 것보다 낫다. - Cùng lắm, nó có giở quẻ, hắn cũng chỉ đến đi ở tù.
최악의 경우라도 속임수에 걸리면 감옥에 가는 것뿐이다. - Ở tù thì hắn coi là thường.
감옥살이는 그에게 별일도 아니었다. - Thôi cứ vào.
그래, 그냥 들어가자. - Vào rồi, hắn mới biết những cái hắn sợ là hão cả.
들어가고 나서야 그는 자신이 두려워했던 것들이 모두 쓸데없는 걱정이었다는 것을 알았다. - Bá Kiến quả có ý muốn dàn xếp cùng hắn thật.
바뀌엔은 정말로 그와 일을 좋게 해결하려는 생각이었다. - Không phải cụ đớn, chính thật cụ khôn rốc đời, thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân.
그는 약한 사람이 아니라 세상 물정을 꿰뚫은 노련한 인물이었다. 첫째로 영웅을 두려워하고 둘째로 막다른 데 몰려 목숨을 거는 사람을 두려워했다. - Chí Phèo không là anh hùng, nhưng nó là cái thằng liều lĩnh.
치페오는 영웅은 아니지만 무모한 인간이었다. - Liều lĩnh thì ai thèm chấp!
무모한 자와는 아무도 상대하려 하지 않는다. - Thế nào là mềm nắn rắn buông?
그래서 상황에 따라 부드럽게도 하고 강하게도 해야 하는 법이다. - Cái nghề làm việc quan, nếu nhất nhất cái gì cũng đè đầu ấn cổ thì lại bán nhà đi cho sớm.
벼슬하는 사람이 모든 일을 억지로 눌러 처리하려 한다면 결국 재산을 팔아야 할 처지가 된다. - Cụ vẫn bảo lý Cường như thế đấy.
그는 늘 이런 말을 아들 리끄엉에게 해 왔다. - Vũ dũng như hắn mà làm lý trưởng là nhờ có cụ.
리끄엉이 그렇게 거칠면서도 리장이 된 것도 바로 그 덕분이었다. - Cụ mà chết đi rồi, “chúng nó” lại không cho ăn bùn.
그가 죽고 나면 사람들은 그를 가만두지 않을 것이다. - Tiếng vậy, làm tổng lý không phải việc dễ.
그래도 총리 노릇을 하는 것은 쉬운 일이 아니었다. - Ở cái làng này, dân quá hai nghìn, xa phủ xa tỉnh, kẻ ăn thì cũng dễ ăn nhưng không phải hễ mà làm lý trưởng thì cứ việc ngồi mà khoét.
이 마을에는 인구가 이천 명이 넘고 부와 도청에서 멀리 떨어져 있어서 이익을 챙기기는 쉽지만 그렇다고 리장이 마음대로 재물을 긁어모을 수 있는 것은 아니었다. - Hồi năm nọ, một thầy địa lý qua đây có bảo đất làng này vào cái thế “quần ngư tranh thực”, vì thế mà bọn đàn anh chỉ là một đàn cá tranh mồi.
몇 해 전 이곳을 지나던 한 풍수쟁이가 이 마을의 형세를 “물고기들이 먹이를 다투는 형국”이라고 말한 적이 있었다. - Mồi thì ngon đấy, nhưng mà năm bè bảy mối, bè nào cũng muốn ăn.
먹이는 좋지만 사방에서 모두 차지하려고 달려드는 형국이었다. - Ngoài mặt tử tế với nhau, nhưng thật ra trong bụng lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ.
겉으로는 서로 점잖게 대하지만 속으로는 언제나 상대를 무너뜨리고 그 위에 올라서려는 마음을 품고 있었다. - Ngay thằng Chí Phèo này đến đây sinh sự biết đâu lại không có thằng nào ấy đến?
치페오가 여기 와서 소란을 피운 것도 어쩌면 누군가의 사주를 받은 것일지 모른다. - Nếu cụ không chịu nhịn, làm cho to chuyện có khi tốn tiền.
그가 참고 넘기지 않았다면 일이 커져 돈이 들었을지도 모른다. - Cái nghề quan bám thằng có tóc ai bám thằng trọc đầu?
벼슬하는 사람은 머리 있는 사람을 붙잡지 대머리를 붙잡지는 않는다. - Bỏ tù nó thì dễ rồi, nhưng bỏ tù nó cũng có ngày nó được ra, liệu lúc ấy nó có để mình yên không chứ?
그를 감옥에 보내는 것은 쉬운 일이지만 언젠가는 나오게 될 텐데 그때 가만히 있을 리가 없지 않은가. - Cụ phải cái vụ thằng năm Thọ, mãi đến giờ vẫn chưa quên.
그는 예전에 있었던 남토 사건을 지금까지도 잊지 못하고 있었다. - Năm Thọ vốn là một thằng đầu bò đầu bướu.
남토는 원래 아주 거칠고 난폭한 사람이었다. - Hồi ấy, bá Kiến mới ra làm lý trưởng, nó hình như kình nhau với lão ra mặt; lý Kiến muốn trị nhưng chưa có dịp.
그때 바뀌엔이 막 리장이 되었는데 남토는 그와 공개적으로 맞서는 듯했다. 바뀌엔은 그를 혼내 주고 싶었지만 기회가 없었다. - Được ít lâu, hắn can dự vào một vụ cướp bị bắt giam; lý Kiến ngấm ngầm vận động cho vào tù.
얼마 지나지 않아 그는 강도 사건에 연루되어 체포되었고 바뀌엔은 몰래 손을 써서 그를 감옥에 보내 버렸다. - Vẫn tưởng một người vai vế như năm Thọ mà thất cơ lỡ vận đến nỗi tội tù làm gì còn dám vác mặt mo về làng?
그는 남토 같은 사람이 감옥살이까지 하게 되었으니 다시는 뻔뻔하게 마을로 돌아올 엄두를 내지 못할 것이라고 생각했다. - Lý Kiến mừng thầm rằng đã nhổ được cái đinh trước mắt.
바뀌엔은 눈엣가시를 뽑아 낸 듯 속으로 기뻐했다. - Nào ngờ một buổi tối lý Kiến đang ngồi một mình soạn giấy má thì năm Thọ vác dao xộc vào.
그런데 어느 날 밤 바뀌엔이 혼자 문서를 정리하고 있을 때 남토가 칼을 들고 들이닥쳤다. - Nó đứng chặn lấy cửa và bảo: nếu kêu lên một tiếng thì đâm chết liền.
그는 문을 막아 서서 소리라도 지르면 바로 찔러 죽이겠다고 말했다. - Thì ra nó vượt ngục và về đây nhờ ông lý một cái thẻ mang tên một người lương thiện và một trăm đồng bạc để trốn đi.
알고 보니 그는 탈옥을 해서 돌아온 것이었고 바뀌엔에게 착한 사람 이름이 적힌 통행증 하나와 은화 백 냥을 요구하며 도망칠 준비를 하고 있었다. - Nó lại bảo: nghe nó thì nó đi biệt, mà không nghe thì nó đâm chết, rồi muốn ra sao thì ra; còn muốn sống với vợ con thì nghe nó.
그리고 자기 말을 들으면 영영 떠나겠지만 듣지 않으면 찔러 죽이겠다고 협박했다. 아내와 자식과 함께 살고 싶다면 자신의 말을 따르라는 것이었다. - Lẽ tất nhiên là lý Kiến nghe, năm Thọ đi phen ấy là mất tăm, cũng không bao giờ về nữa thật.
물론 바뀌엔은 그 말을 따랐고 그 뒤로 남토는 사라져 다시는 돌아오지 않았다. - Nhưng thói đời, tre già măng mọc, có bao giờ hết những thằng du côn?
하지만 세상일이란 늙은 대나무가 쓰러지면 새 죽순이 돋아나듯이 불량배가 끊이지 않는 법이었다. - Năm Thọ vừa đi, lại có binh Chức ở đâu lăn về.
남토가 떠나자 이번에는 빈득이라는 사람이 나타났다. - Mà thằng này lúc nó còn ở nhà, nào nó có ngao ngược gì cho cam!
그가 마을에 살 때만 해도 그다지 건방진 사람이 아니었다. - Người ta đã phải gọi hắn là cục đất.
사람들은 그를 “흙덩이 같은 사람”이라고 부르곤 했다. - Ai bảo làm sao thì ừ hử làm vậy, mới quát một tiếng thì đã đái cả ra quần, thuế bỏ một đồng thì đóng quá hai, đến nỗi có con vợ hay hay mất, bị người ta ghẹo cũng chỉ im im rồi về nhà hành vợ chứ chẳng dám ho he gì.
누가 시키는 대로 고분고분 따르고 한 번 호통만 쳐도 겁을 먹는 사람이었다. 세금도 남보다 더 많이 내고 아내가 다른 사람에게 놀림을 받아도 아무 말 못 하고 집에 돌아와 아내에게 화풀이만 할 정도였다. - Thế đấy: cái nghề đời hiền quá cũng hóa ngu, ở đâu chứ ở đất này đã ngu, đã nhịn thì chúng nó ăn cho đến không còn ngóc đầu lên được.
이처럼 세상에서는 너무 착해도 바보가 된다. 특히 이 마을에서는 어리석게 참고만 있으면 사람들에게 완전히 짓눌려 버린다. - Hắn làm thì làm cật lực mà quanh năm vẫn nghèo rớt mồng tơi; chỉ vì một miếng cũng không giữ được mà ăn; đứa nào nó vớ nó cũng xoay, mà đứa nào xoay thì cũng chịu.
그는 죽도록 일했지만 늘 가난했다. 먹을 것 하나 제대로 지키지 못했고 누구든지 그를 이용하면 그대로 당할 뿐이었다. - Sau cùng bực quá, hắn ra đi lính.
결국 그는 너무 답답해 군대에 들어갔다. - Lại càng thêm tội!
하지만 그것은 오히려 더 큰 불행이 되었다. - Không bực còn được vợ, tuy rằng thỉnh thoảng có bị sảy sớt ra ngoài, nhưng vẫn là vợ mình.
만약 그렇게 화가 나지 않았다면 아내는 그래도 자기 곁에 있었을 것이다. 가끔 바람이 나더라도 여전히 자기 아내였을 테니까. - Bực thì hóa ra mất vợ.
하지만 화를 참지 못한 탓에 결국 아내를 잃었다. - Bởi vì chị vợ ở nhà còn trẻ, mới hai con, cái mắt sắc như dao lại hồng hồng đôi má, bỗng nhiên sinh ra vắng chồng, của ngon trơ trơ ngay trước mắt, ai mà chịu được?
집에 남겨진 아내는 아직 젊었고 아이도 둘뿐이었으며 눈빛은 칼처럼 날카롭고 뺨은 붉게 물들어 있었다. 갑자기 남편이 없는 상황이 되자 눈앞에 놓인 좋은 기회를 누가 그냥 지나칠 수 있었겠는가? - Nhà chị Binh ở gần đường.
빈득의 아내 집은 길가 가까이에 있었다. - Ông phó đi đánh bạc ban đêm về cũng tạt vào, anh trương tuần đi tuần cũng tạt vào; anh hàng xóm cũng mò sang, thậm chí đến cái thằng hương Điền, đầu hai thứ tóc, già đời làm đầy tớ cho các ông lý trưởng, cũng mon men vào gạ gẫm.
밤에 도박을 하다 돌아오던 부역 관리도 들렀고 순찰을 돌던 향리도 들렀다. 이웃 남자들도 슬금슬금 찾아왔고, 심지어 머리가 반쯤 센 향 디엔이라는 늙은 하인까지도 슬쩍 다가와 수작을 걸었다. - Vợ binh Chức đã nghiễm nhiên thành một con nhà thổ không phải trả tiền để bọn lý dịch trong làng chuyền đổi.
빈득의 아내는 어느새 마을 관리들이 돈도 내지 않고 서로 차례로 드나드는 여자 신세가 되어 버렸다. - Chính ngay lý Kiến, tuy hồi ấy đã có đến ba vợ, cũng không nỡ bỏ hoài cái của không dưng được trời cho; và không bỏ hoài, ông còn được lợi.
바뀌엔도 그때 이미 아내가 셋이나 있었지만 하늘이 공짜로 내려 준 것 같은 기회를 마다하지 않았다. 게다가 그는 거기서 이익까지 얻었다. - Mỗi lần chị Binh đi lĩnh lương hay lĩnh măng đa của chồng, phải mượn ông lý đi nhận thực.
빈득의 아내가 남편의 봉급이나 군량을 받으러 갈 때마다 리장의 이름을 빌려야 했다. - Không ông lý nào vác của nhà đi ăn mà nhận thực cho người ta, điều ấy là cố nhiên.
어느 리장도 남의 일을 공짜로 해 주지는 않는 법이었다. - Nhưng với lý Kiến thì không những cơm rượu tiền túi, còn phải cho ngồi xe chung và còn ở lại tỉnh nữa.
하지만 바뀌엔에게는 밥과 술값, 돈까지 들었고, 함께 수레를 타야 했으며 심지어 지방에 머물기도 해야 했다. - Thế là mấy đồng bạc lương đi đời; mấy đứa con của chị ngày mai chỉ được mấy cái kẹo đạn mút, hay hậu hĩnh ra thì được mấy cặp bánh giầy giò ăn.
그래서 그 돈은 거의 다 없어져 버렸고 아이들은 겨우 사탕 몇 개나 많아야 떡 몇 쌍 정도를 얻어먹을 뿐이었다. - Thành thử công lao anh Binh, rút lại chỉ cho chị Binh mỗi tháng một lần hưởng những cuộc vui với ông lý nhà.
결국 빈득이 고생해 번 돈은 한 달에 한 번씩 그의 아내가 리장과 즐거운 시간을 보내는 데 쓰일 뿐이었다. - Chẳng hiểu anh ta cũng biết thế mà chán cảnh nhà hay sao mà mằn hạn ba năm cũng không thấy trở về.
그가 이런 사정을 알고 집안 사정이 싫어졌는지 어쨌는지 삼 년이 지나도록 돌아오지 않았다. - Rồi ít lâu sau, có trát về làng tróc nã và áp giải tên Trần Văn Chức.
얼마 지나지 않아 마을로 트란반축을 체포하여 압송하라는 영장이 내려왔다. - Lý Kiến khai tên ấy thuộc hạng dân lưu tán không về làng.
바뀌엔은 그 사람이 떠돌이 신세라 마을로 돌아오지 않았다고 보고했다. - Nhưng khai hôm trước thì hôm sau hắn về.
그러나 그렇게 보고한 다음 날 바로 그가 돌아왔다. - Lý Kiến sai đầy tớ đem trát đến nhà đòi hắn.
바뀌엔은 하인을 보내 영장을 가지고 그를 불러오게 했다. - Hắn đến ngay, nhưng lại dẫn theo cả vợ và hai con.
그는 곧바로 왔지만 아내와 두 아이까지 데리고 왔다. - Không đợi ông lý nói một câu, hắn rút con dao chọc tiết lợn ra, nhăm nhăm cầm ở tay mà bảo rằng:
리장이 말을 꺼내기도 전에 그는 돼지 잡는 칼을 꺼내 들고 단단히 쥔 채 말했다. - Chẳng nói giấu gì ông, tôi can án giết người.
숨기지 않고 말하겠습니다. 저는 사람을 죽인 죄가 있습니다. - Nếu ông không thương, mà bắt giải thì vợ con tôi chết đói.
만약 저를 봐주지 않고 잡아가면 제 아내와 아이들은 굶어 죽습니다. - Thôi thì đằng nào chúng nó cũng chết, tôi đâm chúng nó chết ở đây rồi ông bắt đi ở tù luôn thể.
어차피 죽을 거라면 여기서 제가 먼저 찔러 죽이고 그다음에 감옥에 가겠습니다. - Mắt hắn đỏ ngầu; lưỡi dao hắn hoa lên loang loáng, chỉ trông cũng lạnh gáy.
그의 눈은 벌겋게 충혈되어 있었고 칼날은 번쩍번쩍 빛나 보기만 해도 등골이 서늘했다. - Hắn có thể giết người được lắm, mà không chỉ giết có vợ và con thôi, khi hắn có gan đâm chết vợ con thì hắn có kiêng gì cái cổ của người khác nữa?
그는 정말 사람을 죽일 수도 있는 사람이었고, 아내와 아이뿐 아니라 다른 사람도 얼마든지 해칠 수 있을 것 같았다. - Lý Kiến nghĩ ngợi một lúc rồi bảo cứ về rồi ông liệu.
바뀌엔은 잠시 생각하더니 우선 집에 돌아가 있으라고 말했다. - Ông liệu nghĩa là ông che đậy cái án của hắn cho không ai biết và mỗi lần có trát về nhắc, ông lại khai rằng: vẫn chưa có tên Chức về.
그 말은 그의 사건을 덮어 주고, 다시 영장이 내려오면 아직 축이 돌아오지 않았다고 보고하겠다는 뜻이었다. - Thế là hắn nghiễm nhiên sống ở ngay chính giữa quê hương hắn.
그래서 그는 아무 일도 없다는 듯 자기 고향 한가운데에서 살게 되었다. - Và bây giờ người ta thấy vợ hắn rất chăm chuyên mà lại trung thành, chỉ chăm chỉ làm ăn để nuôi hắn.
이제 사람들은 그의 아내가 성실하고 정숙하게 그를 먹여 살리기 위해 열심히 일하는 모습을 보았다. - Nhưng ông trưởng, ông phó tự nhiên nghĩ bụng rằng: người ta có chồng rồi mà còn chẳng màng thì phải tội; ai cũng sinh ra tử tế cả chỉ trừ anh Binh, bởi vì Chức bây giờ lại rất mực ngang ngược.
하지만 마을 관리들은 마음속으로 이렇게 생각했다. 남편이 있는데도 남편을 신경 쓰지 않는다면 죄가 아니겠는가. 사람은 원래 다 착하게 태어나지만 빈득만은 예외라고, 왜냐하면 지금의 축은 매우 거칠고 난폭했기 때문이다. - Hắn ăn vườn đấy, nhưng chẳng nộp thuế cho ai.
그는 남의 밭을 차지해 경작하면서도 세금을 내지 않았다. - Thúc hắn thì hắn chửi, cấm vườn hắn thì hắn chém, sinh chuyện với hắn thì chính lý trưởng làng có lỗi bởi vì cố ý ẩn lậu hắn là một tên can phạm.
그에게 뭐라고 하면 욕을 했고 경작을 막으면 칼을 휘둘렀다. 그와 시비가 생기면 오히려 리장이 죄인이 되는 셈이었는데, 그가 범죄자를 숨겨 주고 있었기 때문이었다. - Ấy thế mà hắn cũng chưa vừa lòng đâu.
그런데도 그는 여전히 만족하지 못했다. - Một hôm, không hiểu nghĩ ngợi thế nào, hắn vác dao đến bảo thẳng vào mặt lý Kiến rằng:
어느 날 그는 무슨 생각이 들었는지 칼을 들고 바뀌엔 앞에 와서 이렇게 말했다. - Hồi tôi còn tại ngũ, tôi gửi về nhà có trăm.
제가 아직 군대에 있을 때 집에 백 냥을 보냈습니다. - Không biết vợ tôi nó tiêu pha gì hay cho trai mà không còn một đồng nào cả.
아내가 어디에 써 버렸는지, 아니면 다른 남자에게 줬는지 한 푼도 남아 있지 않습니다. - Tôi hỏi nó thì nó bảo: ở nhà đàn bà con gái một mình, không dám giữ tiền, được đồng nào mang gửi ông lý cả.
제가 물어보니 여자가 혼자 집에 있어 돈을 보관하기가 무서워서 번 돈은 전부 리장에게 맡겼다고 합니다. - Tôi sợ nó bịa ra nên đã trói sẵn nó ở nhà.
저는 그 말이 거짓일까 봐 집에 아내를 묶어 두고 왔습니다. - Bây giờ tôi đến thưa với ông, tính toán xem được bao nhiêu cho đem về nuôi cháu.
그래서 지금 와서 여쭙는 것이니 얼마나 맡겼는지 계산해 주십시오. 그 돈을 가져가 아이들을 먹여 살려야 합니다. - Thiếu một đồng thì tôi không để yên cho chúng nó.
한 푼이라도 모자라면 가만두지 않겠습니다. - Lý Kiến hiểu rằng: “chúng nó” đây có thể gồm cả ông.
바뀌엔은 여기서 말하는 “그들” 속에 자기 자신도 포함될 수 있다는 것을 알아차렸다. - Ông cười nhạt bảo rằng:
그는 냉소적으로 웃으며 말했다. - Thế này này, anh Binh ạ: chị ấy gửi tôi thì quả là không có…
이보시오, 빈득 씨. 당신 아내가 내게 돈을 맡겼다는 것은 사실이 아니오… - Hắn trợn mắt lên quát:
그는 눈을 부릅뜨고 소리쳤다. - Thế thì thằng nào ăn đi?
그럼 도대체 누가 그 돈을 먹어 치웠단 말이오? - Lý Kiến vội nói lấp ngay:
바뀌엔은 급히 말을 가로채며 말했다. - Thế nhưng mà anh có thiếu tiền thì cứ bảo tôi một tiếng.
하지만 돈이 부족하면 나에게 말하면 되지 않소. - Chị ấy trót tiêu đi rồi thì có giết cũng chẳng ra.
아내가 이미 써 버렸다면 죽인다 해도 돈이 나오지는 않을 것이오. - Lôi thôi làm gì sinh tội.
괜히 소란을 피워 죄를 만들 필요가 없지 않소. - Ông mở tráp ra quăng hắn 5 đồng bạc.
그는 상자를 열어 은화 다섯 냥을 그에게 던져 주었다. - Hắn cầm lấy, “lạy ông” tử tế, rồi xách dao ra về.
그는 돈을 받아 들고 공손히 인사를 한 뒤 칼을 들고 돌아갔다. - Từ hôm ấy hắn thành tử tế với lý Kiến, nhận là chỗ đầy tớ chân tay, nhưng lý Kiến thỉnh thoảng vẫn phải cho hắn tiền.
그날 이후 그는 바뀌엔에게 얌전하게 굴며 그의 심부름꾼 노릇을 했지만 바뀌엔은 가끔씩 여전히 그에게 돈을 주어야 했다. - Cho mãi đến năm ngoái đây, hắn chết…
그러다가 바로 작년에 그가 죽었다… - Thì năm nay lại nảy ra Chí Phèo, một thằng hiền lành như đất – tội nghiệp cho hắn, có lần lý Kiến thấy hắn vừa bóp đùi cho bà ba, vừa run run!
그래서 올해는 또 치페오라는 자가 나타났다. 흙처럼 순한 사람이었는데—참 딱한 사람이다. 한 번은 바뀌엔이 그가 셋째 부인의 허벅지를 주무르면서도 몸을 떨고 있는 것을 본 적이 있었다. - Bỗng nhiên vùng dậy giở toàn những giọng uống máu người không tan.
그런 그가 갑자기 돌변하여 피에 굶주린 사람처럼 사납게 행동하기 시작했다. - Thì ra già néo đứt dây.
결국 너무 억눌리면 끈이 끊어지는 법이었다. - Cụ tiên chỉ làng Vũ Đại nhận ra rằng: đè nén con em đến nỗi nó không chịu được phải bỏ làng đi là dại.
부대 마을의 원로인 바뀌엔은 젊은 사람들을 지나치게 억누르다가 결국 마을을 떠나게 만드는 것은 어리석은 일이라는 것을 깨달았다. - Mười thằng đã đi ra thì chín thằng trở về với cái vẻ hung đồ, cái tính ương ngạnh học được từ phương xa.
열 명이 마을을 떠나면 아홉 명은 밖에서 배운 난폭한 기질과 완고한 성격을 가지고 돌아오기 마련이었다. - Một người khôn ngoan chỉ bóp đến nửa chừng.
현명한 사람은 상대를 절반까지만 누른다. - Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn.
몰래 사람을 강물에 밀어 넣되 다시 끌어 올려 은혜를 갚게 해야 한다. - Hãy đập bàn đập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vất trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”!
책상과 의자를 두드리며 다섯 냥을 요구하되 막상 받으면 다시 오 할을 돌려주며 “형편이 너무 어려워 보여서”라고 말하는 것이다. - Và cũng phải tùy mặt nữa: những thằng có máu mặt, vợ đẹp, con đàn chính là những thằng dễ bóp; trái lại những thằng tứ cố vô thân, giết chúng thì dễ, nhưng giết được, chỉ còn có xương, mà gây với chúng là mở một dịp tốt để cho các phe nghịch xoay lại mình.
또 사람을 가려야 한다. 체면도 있고 아내와 자식이 있는 사람은 다루기 쉽지만, 아무도 없는 사람은 죽이기는 쉽지만 남는 것이 없고 오히려 다른 세력에게 빌미를 줄 뿐이다. - Làng nào cũng có nhiều cánh, mỗi cánh kết bè kết đảng chung quanh một người: cánh cụ bá Kiến, cánh ông đội Tảo, cánh ông Tư Đạm, cánh ông Bát Tùng…
어느 마을이든 여러 파벌이 있고 각각 한 사람을 중심으로 모인다. 바뀌엔 편, 도이 타오 편, 뜨담 편, 밧뚱 편 같은 식이다. - Bằng ấy cánh dù lại với nhau để bóc lột con em, nhưng ngấm ngầm chia rẽ, nhè từng chỗ hở để mà trị nhau.
그들은 겉으로는 힘을 합쳐 사람들을 착취하지만 속으로는 서로 틈을 노리며 견제한다. - Cụ lại nhận ra rằng: ở cái đất nhà quê, bọn dân hiền lành chỉ e cổ làm nuôi bọn hào lý, nhưng chính bọn hào lý, nhiều khi lại phải ngậm miệng cung cấp cho những thằng cùng hơn cả dân cùng liều lĩnh, lúc nào cũng có thể cầm dao đâm người hay đâm mình.
그는 또 깨달았다. 시골에서는 순한 사람들이 권력자들을 먹여 살리지만, 때로는 그 권력자들조차도 더 가난하고 더 막나가는 사람들에게 입을 다문 채 돈을 내줄 수밖에 없다는 것을. 그런 자들은 언제든 칼을 들고 남을 찌르거나 자기 자신을 찌를 수도 있기 때문이다. - Nhưng cụ không phải là một người ưa than thở.
그러나 그는 불평을 늘어놓는 사람이 아니었다. - Than thở chẳng ích gì cho ai, cái bọn dân đinh suốt đời bị đè nén sở dĩ bị đè nén suốt đời chỉ vì khi bị đè nén chúng chỉ biết than thở chứ không biết làm gì khác.
불평은 아무에게도 도움이 되지 않는다. 평생 억눌려 사는 백성들이 계속 억눌려 사는 이유는 억압을 당할 때 불평만 할 줄 알고 다른 방법을 모르기 때문이다. - Cụ bá Kiến không cần than thở: trị không lợi thì cụ dùng.
바뀌엔은 불평할 필요가 없었다. 통치에 이익이 되지 않으면 다른 방법을 쓰면 되었기 때문이다. - Cụ nghĩ bụng cũng phải có những thằng đầu bò chứ?
그는 속으로 생각했다. 이런 세상에는 난폭한 인간들도 필요하다고. - Không có những thằng đầu bò thì lấy ai mà trị những thằng đầu bò?
난폭한 자가 없다면 다른 난폭한 자들을 어떻게 다스리겠는가? - Thế lực của cụ sở dĩ lấn át được những vây cánh khác, một phần lớn cũng bởi cụ biết mềm biết cứng, biết thu dụng những thằng bạt mạng không sợ chết và không sợ đi tù.
그의 세력이 다른 파벌보다 강했던 이유는 상황에 따라 부드럽게도 하고 강하게도 하며 목숨도 감옥도 두려워하지 않는 사람들을 잘 이용했기 때문이었다. - Những thằng ấy chính là những thằng được việc.
그런 사람들이야말로 일을 처리하는 데 쓸모가 있었다. - Khi cần đến, chỉ cho nó dăm hào uống rượu, là có thể sai nó tác hại bất cứ anh nào không nghe mình.
필요할 때 술값 몇 푼만 쥐여 주면 자기 말을 듣지 않는 사람에게 얼마든지 해를 끼치게 할 수 있었다. - Gặp người bướng bỉnh, danh thép thì nó lửa đốt nhà hay cho mấy lát dao, gặp người non mặt, thì nó quăng vào chai rượu lậu, hay gây sự rồi lăn ra kêu làng.
완고한 사람을 만나면 집에 불을 지르거나 칼을 휘둘렀고, 겁 많은 사람을 만나면 밀주병을 던지거나 일부러 시비를 걸고 드러누워 고함을 질렀다. - Có chúng nó sinh chuyện thì mới có dịp mà ăn, nếu không thì giữa đám dân hiền lành và yên phận này, khéo lắm chỉ bóp nặn được vào vụ thuế.
그들이 문제를 일으켜야만 돈을 뜯어낼 기회가 생겼다. 그렇지 않으면 이 순하고 체념한 사람들 사이에서는 세금 때에나 겨우 돈을 짜낼 수 있을 뿐이었다. - Thuế một năm có một lần nếu chỉ trông vào đấy thì bán cha đi cũng không đủ để bù vào chỗ ba, bốn nghìn bạc chạy chọt để tranh triện đồng.
세금은 일 년에 한 번뿐이니 그것만 바라본다면 관직을 얻기 위해 쓴 수천 냥의 뇌물을 메우기에도 턱없이 부족했다. - Vì thế, đêm hôm ấy, ở nhà bá Kiến ra về, Chí Phèo vô cùng hả hê!
그래서 그날 밤 바뀌엔의 집에서 나올 때 치페오는 매우 흡족한 기분이었다. - Bá Kiến đã không vu vạ gì cho hắn, lại còn giết gà mua rượu cho hắn uống, xong lại đãi thêm đồng bạc để về uống thuốc.
바뀌엔은 그에게 죄를 뒤집어씌우지도 않았을 뿐 아니라 닭을 잡고 술을 사 주었고 약을 사 먹으라고 돈까지 주었다. - Đồng bạc, làm gì đến thế?
그 많은 돈이 웬 말인가? - Hắn loạng choạng vừa đi vừa cười; hắn chẳng cần đến ba xu.
그는 비틀거리며 걸어가면서 웃었다. 사실 그에게는 돈 몇 푼이면 충분했다. - Lúc ngồi tù hắn có học mót được mấy bài thuốc giấu: chỉ vài nắm lá, là mặt hắn lại đâu vào đấy ngay.
감옥에 있을 때 배워 둔 약초 비법이 있어서 잎 몇 줌만 있으면 얼굴 상처도 곧 나았다. - Còn đồng bạc lại để đi uống rượu…
그리고 남은 돈은 술을 마시는 데 쓰면 되었다… - Hắn uống được có ba hôm, hôm thứ tư thì hắn trợn mắt lên, bảo con mẹ hàng rượu rằng:
그는 사흘 동안 술을 마셨다. 넷째 날이 되자 그는 눈을 부릅뜨고 술집 여자에게 말했다. - Hôm nay ông không có tiền; nhà mày bán chịu cho ông một chai. Tối ông mang tiền đến trả.
오늘은 내가 돈이 없다. 한 병 외상으로 주어라. 저녁에 돈을 가져와 갚겠다. - Mụ bán hàng rượu hơi ngần ngừ.
술 파는 여자는 조금 망설였다. - Thế là hắn rút bao diêm đánh cái xoè, châm diêm lên mái nhà mụ.
그러자 그는 성냥을 꺼내 불을 켜서 그 여자의 집 지붕에 불을 붙이려 했다. - Mụ hoảng hốt kêu la om xòm vội đập tắt ngọn lửa vừa mới cháy.
그 여자는 놀라서 소리를 지르며 막 타오르기 시작한 불을 급히 껐다. - Rồi khóc khóc mếu mếu, mụ đưa chai rượu.
그리고 울먹이며 결국 술병을 내주었다. - Hắn hầm hầm, chìa vào mặt mụ bảo rằng:
그는 화가 난 얼굴로 그녀를 노려보며 말했다. - Cái giống nhà mày không ưa nhẹ!
너희 같은 것들은 좋게 말해서는 안 된다! - Ông mua chứ ông có xin nhà mày đâu!
나는 사는 거지 구걸하는 게 아니다! - Mày tưởng ông quỵt hở?
내가 떼먹을 사람으로 보이느냐? - Mày thử hỏi cả làng xem ông có quỵt của đứa nào bao giờ không?
마을 사람들에게 물어봐라. 내가 누구 돈을 떼먹은 적이 있나. - Ông không thiếu tiền!
나는 돈이 없는 사람이 아니다! - Ông còn gửi đằng cụ bá, chiều nay ông đi lấy về ông trả.
바뀌엔 집에 맡겨 둔 돈도 있다. 오늘 저녁에 가져와 갚겠다. - Mụ vừa kéo áo lên quệt nước mũi, vừa bảo:
여자는 옷소매로 콧물을 닦으며 말했다. - Chúng cháu không dám chắc lép nhưng quả là ít vốn.
저희도 떼일까 봐 겁나는 건 아니지만 자본이 적어서 그렇습니다. - Hắn quát lên:
그는 소리를 질렀다. - Ít vốn thì tối nay ông trả.
자본이 적으면 오늘 밤에 갚아 주겠다. - Nhà mày đã chết ngay bây giờ hay sao?
지금 당장 망할 일이라도 생겼느냐? - Rồi hắn xách chai ra về.
그는 술병을 들고 돌아갔다. - Hắn về cái miếu con ở bờ sông, vì vốn từ trước đến nay không có nhà.
그는 원래 집이 없었기 때문에 강가의 작은 사당으로 돌아갔다. - Lúc đi đường, hắn đã vặn được ở nhà nào đó bốn quả chuối xanh, và bốc của cô hàng xén một dúm con muối trắng.
가는 길에 그는 어느 집에서 푸른 바나나 네 개를 슬쩍했고, 잡화점 여자에게서 흰 소금 한 줌도 집어 왔다. - Bây giờ hắn uống rượu với chuối xanh chấm muối trắng và thấy rằng cũng ngon.
그는 이제 푸른 바나나를 흰 소금에 찍어 술과 함께 먹으며 그것도 꽤 맛있다고 느꼈다. - Hắn uống rượu với cái gì cũng ngon.
그에게는 무엇과 함께 마셔도 술이 맛있었다. - Uống xong hắn chùi miệng, rồi ngật ngà ngật ngưỡng đến nhà bá Kiến.
술을 다 마신 뒤 그는 입을 닦고 비틀거리며 바뀌엔의 집으로 갔다. - Gặp ai hắn cũng bảo: hắn đến nhà cụ bá Kiến đòi nợ đấy!
누구를 만나든 그는 바뀌엔 집에 빚을 받으러 간다고 떠들어댔다. - Mới trông thấy hắn vào đến sân, bá Kiến đã biết hắn đến sinh sự rồi.
그가 마당에 들어오는 것을 보자마자 바뀌엔은 그가 소란을 일으키러 왔다는 것을 알았다. - Cái mắt thì ngầu lên, hai chân thì đi lảo đảo, cái môi bầm lại mà run bần bật.
눈은 부릅뜨고 두 다리는 비틀거리며 입술은 퍼렇게 질려 덜덜 떨고 있었다. - Cũng may, hắn không cầm vỏ chai, bá Kiến cũng đon đả hỏi:
다행히 그는 빈 병을 들고 있지 않았고 바뀌엔은 태연하게 물었다. - Anh Chí đi đâu đấy?
치 씨, 어디 가는 길인가? - Hắn chào to:
그는 크게 인사했다. - Lạy cụ ạ.
어르신께 절합니다. - Bẩm cụ…
말씀드리겠습니다… - Con đến cửa cụ để kêu cụ một việc ạ.
어르신께 한 가지 말씀드리려고 왔습니다. - Giọng hắn lè nhè và tiếng đã gần như méo mó.
그의 말투는 혀가 꼬여 거의 알아듣기 어려웠다. - Nhưng bộ điệu thì lại như hiền lành; hắn vừa gãi đầu gãi tai, vừa lải nhải:
그러나 태도는 오히려 순해 보였고 그는 머리와 귀를 긁적이며 중얼거렸다. - Bẩm cụ, từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích đi ở tù, bẩm có thế.
어르신, 어르신께서 저를 감옥에 보내신 뒤로 저는 감옥에 가는 것이 오히려 좋아졌습니다. - Con có nói gian thì trời tru đất diệt, bẩm quả là đi tù sướng quá.
제가 거짓말을 한다면 하늘과 땅이 벌을 내리겠지만 감옥이 참 편했습니다. - Đi ở tù còn có cơm để mà ăn, bây giờ về làng về nước, một thước đất cắm dùi không có, chả làm gì nên ăn.
감옥에 있으면 밥이라도 먹을 수 있었지만 지금은 고향에 돌아와도 발붙일 땅 하나 없어 먹고살 길이 없습니다. - Bẩm cụ, con lại đến kêu cụ, cụ lại cho con đi tù…
그래서 어르신께 부탁드리러 왔습니다. 저를 다시 감옥에 보내 주십시오… - Cụ bá quát, bắt đầu bao giờ cụ cũng quát để thử dây thần kinh của người.
바뀌엔은 호통을 쳤다. 그는 언제나 먼저 호통을 쳐서 상대의 기세를 시험하곤 했다. - Anh này lại say khướt rồi!
이 사람 또 잔뜩 취했군! - Hắn xông lại gần, đảo ngược mắt, giơ tay lên nửa chừng:
그는 가까이 다가오며 눈을 치켜뜨고 손을 반쯤 들어 올렸다. - Bẩm không ạ, bẩm thật là không say.
아닙니다, 정말로 취하지 않았습니다. - Con đến xin cụ cho con đi tù mà nếu không được thì… thì… thưa cụ…
저를 감옥에 보내 달라고 부탁드리러 왔습니다만, 만약 안 된다면… 그러면… 어르신… - Hắn móc đủ mọi túi, để tìm một cái gì, hắn giơ ra: đó là một con dao nhỏ, nhưng rất sắc.
그는 주머니를 뒤져 무엇인가를 찾다가 꺼냈다. 그것은 작지만 매우 날카로운 칼이었다. - Hắn nghiến răng nói tiếp:
그는 이를 악물고 계속 말했다. - Vâng, bẩm cụ không được thì con phải đâm chết dăm ba thằng, rồi cụ bắt con giải huyện.
그렇다면 몇 놈을 찔러 죽이고 어르신께서 저를 잡아 관아로 보내시면 됩니다. - Rồi hắn cúi xuống, tẩn mẩn gọt cạnh cái bàn lim.
그리고 그는 몸을 숙여 느긋하게 단단한 나무 책상의 가장자리를 깎기 시작했다. - Cụ bá cười khanh khách.
바뀌엔은 껄껄 웃었다. - Cụ vẫn tự phụ hơn đời cái cười Tào Tháo ấy.
그는 자신의 그 조조 같은 웃음을 늘 자랑스러워했다. - Cụ đứng lên vỗ vai hắn mà bảo rằng:
그는 일어나 그의 어깨를 두드리며 말했다. - Anh bướng lắm.
자네 참 고집이 세군. - Nhưng này, anh Chí ạ, anh muốn đâm người cũng không khó gì.
하지만 말이야, 치 씨. 사람을 찌르는 일쯤은 그리 어려운 것도 아니지. - Đội Tảo nó còn nợ tôi năm mươi đồng đấy, anh chịu khó đến đòi cho tôi, đòi được tự nhiên có vườn.
따오 대장이 나에게 오십 동을 빚지고 있는데, 자네가 가서 대신 받아 오게. 받아 오면 자연히 자네 몫도 생길 거야. - Đội Tảo là một tay vai vế trong làng.
따오 대장은 마을에서 꽤 세력이 있는 사람이었다. - Vây cánh ông ta mạnh, vẫn kình nhau với nhà cụ bá mà cụ bá thường phải chịu bởi hắn là cựu binh, lương hưu trí nhiều, quen thuộc nhiều, lại ăn nói giỏi.
그의 세력도 강해서 바뀌엔 집안과 늘 맞섰지만, 그는 퇴역 군인으로 연금도 받고 인맥도 넓고 말도 잘해 바뀌엔이 종종 그에게 밀리곤 했다. - Hắn vay cụ bá năm mươi đồng đã từ lâu, bây giờ đột nhiên trở mặt vô tuốt, lấy cớ rằng số tiền ấy tính vào món tiền chè lý Cường ra làm lý trưởng chưa tạ hắn.
그는 오래전에 바뀌엔에게 오십 동을 빌렸는데, 이제 와서는 그 돈을 리끄엉이 이장으로 올라간 뒤 자신에게 인사비를 하지 않은 것에 대한 값으로 치겠다고 하며 갑자기 발뺌했다. - Cụ bá tức như chọc họng, nhưng chưa biết làm thế nào, bởi vì thằng binh Chức, đầy tớ chân tay của cụ, khá đi đường đầu với hắn được, chết năm ngoái rồi.
바뀌엔은 속이 뒤집힐 만큼 화가 났지만 어쩔 방법이 없었다. 그에게 맞설 수 있었던 심복 빈득이 작년에 죽어 버렸기 때문이다. - Bây giờ cụ mới lại gặp được Chí Phèo, có thể thay cho binh Chức.
이제 바뀌엔은 빈득 대신 쓸 수 있는 치페오를 만나게 된 것이다. - Cụ thử nói khích xem sao.
그래서 그는 한번 부추겨 보기로 했다. - Nếu nó trị được đội Tảo thì tốt lắm.
그가 따오 대장을 제압한다면 더없이 좋은 일이었다. - Nếu nó bị đội Tảo trị thì cụ cũng chẳng thiệt gì, đằng nào cũng có lợi cho cụ cả.
만약 따오에게 당한다 해도 바뀌엔에게 손해는 없었다. 어느 쪽이든 그에게는 이득이었다. - Chí Phèo nhận ngay!
치페오는 곧바로 받아들였다. - Hắn tức khắc đến nhà đội Tảo, và cất tiếng chửi ngay từ đầu ngõ.
그는 즉시 따오의 집으로 가서 골목 어귀부터 욕을 퍼부었다. - Giá gặp phải hôm khác, thì có án mạng lắm: đội Tảo cũng có thể đâm chém được, chưa bao giờ chịu hàng trước cuộc giao tranh.
다른 날이었더라면 분명 피를 보았을 것이다. 따오 역시 칼을 쓰는 사람이었고 싸움에서 물러난 적이 없었기 때문이다. - Nhưng phúc đời cho hắn, hay là cho Chí Phèo, hôm ấy hắn ốm liệt giường, không sao nhấc mình dậy được, có lẽ hắn cũng không biết Chí Phèo chửi hắn.
그러나 그날은 운이 따랐다. 그날 따오는 병으로 누워 일어나지도 못했고 아마 치페오가 욕하는 것도 몰랐을 것이다. - Vợ hắn, thấy Chí Phèo thở ra mùi rượu, và biết rõ đầu đuôi món nợ, lấy năm mươi đồng giấu chồng đưa cho người nhà đi theo Chí Phèo.
그의 아내는 치페오에게서 술 냄새가 나는 것을 보고 사정을 알았기에 남편 몰래 오십 동을 꺼내 사람을 시켜 치페오에게 건네주었다. - Đàn bà vốn chuộng hòa bình, họ muốn yên chuyện thì thôi, gai ngạnh làm gì cho sinh sự.
여자란 본래 평화를 좋아해 괜히 일을 키우기보다 조용히 넘어가길 원한다. - Và lại, bà đội cũng nghĩ rằng: chồng mình đang ốm… chồng mình có nợ người ta hẳn hoi…
게다가 그녀는 남편이 병들어 있고 빚도 있는 것이 사실이라고 생각했다. - Và năm chục đồng bạc đối với nhà mình là mấy, lôi thôi lại chả tốn đến ba lần năm chục đồng!
그리고 오십 동쯤은 그 집에 큰돈도 아니었고 괜히 일을 벌이면 그 몇 배가 들 수도 있었다. - Vì thế, Chí Phèo mới được vênh vênh ra về; hắn thấy hắn oai thêm bậc nữa.
그래서 치페오는 의기양양하게 돌아갔고 자신이 더 대단해진 것처럼 느꼈다. - Hắn tự đắc: “anh hùng làng này cóc có thằng nào bằng ta!”.
그는 스스로 뽐냈다. “이 마을에서 나만큼 대단한 놈은 없다!” - Cụ bá thấy mình thắng bên địch mà không cần đến hội đồng làm biên bản xem chừng thích chí.
바뀌엔은 마을 회의까지 열 필요도 없이 상대를 이긴 것 같아 매우 흡족했다. - Cụ đưa luôn cho anh đầy tớ chân tay mới luôn năm đồng.
그래서 그는 새로 얻은 심복에게 곧바로 오 동을 주었다. - Anh Chí ạ, cả năm chục đồng này phần anh.
치 씨, 이 오십 동은 전부 자네 몫이네. - Nhưng nếu anh lấy cả thì chỉ ba hôm là tan hết.
하지만 전부 가져가면 사흘도 못 가 다 써 버릴 걸세. - Vậy anh cầm lấy chỗ này uống rượu còn để tôi bán cho anh mảnh vườn; không có vườn đất thì làm ăn gì?
그러니 이만큼만 술값으로 쓰고, 나머지는 자네에게 밭 한 조각을 팔아 주겠네. 땅이 없으면 어떻게 먹고살겠나? - Chí Phèo “vâng dạ” ra về.
치페오는 “예, 알겠습니다” 하며 돌아갔다. - Mấy hôm sau, cụ bá bảo lý Cường cho hắn năm sào vườn ở bãi sông cắm thuế của một người làng hôm nọ.
며칠 뒤 바뀌엔은 리끄엉에게 명하여 강가의 밭 다섯 사오를 치페오에게 주게 했다. 그것은 얼마 전 어떤 마을 사람이 세금을 내지 못해 압류된 땅이었다. - Chí Phèo bỗng thành ra có nhà.
그리하여 치페오는 갑자기 집이 있는 사람이 되었다. - Hồi ấy hắn mới độ hăm bảy hay hăm tám…
그때 그의 나이는 스물일곱쯤, 혹은 스물여덟쯤이었다… - Bây giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi.
이제 그는 나이를 알 수 없는 사람이 되어 버렸다. - Ba mươi tám hay ba mươi chín?
서른여덟인가 서른아홉인가? - Bốn mươi hay ngoài bốn mươi?
마흔인가 아니면 마흔이 넘었는가? - Cái mặt hắn không trẻ cũng không già, nó không còn phải là mặt người, nó là mặt của con vật lạ, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?
그의 얼굴은 젊지도 늙지도 않았다. 그것은 더 이상 사람의 얼굴이 아니라 어떤 기이한 짐승의 얼굴 같았다. 짐승의 얼굴을 보고 나이를 알 수 있는가? - Cái mặt hắn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gio; nó vằn dọc vằn ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo.
그의 얼굴은 누렇게 뜨면서도 재빛처럼 거무스름했고 세로로 가로로 뒤엉킨 흉터들로 가득했다. - Vết những mảnh chai của bao nhiêu lần ăn vạ kêu làng, bao nhiêu lần, hắn nhớ làm sao nổi?
그 흉터들은 그가 술병 조각으로 얼굴을 긋고 마을에 소란을 피우던 수많은 날들의 흔적이었지만 그 자신도 몇 번이었는지 기억할 수 없었다. - Bao nhiêu việc ức hiếp, phá phách, đâm chém, mưu hại, người ta giao cho hắn làm!
사람들은 그에게 얼마나 많은 협박과 난동, 칼부림과 음모를 맡겼던가! - Những việc ấy chính là cuộc đời của hắn; cuộc đời mà hắn cũng chả biết đã dài bao nhiêu năm rồi.
그런 일들이 바로 그의 인생이었고, 그 인생이 얼마나 오래되었는지 그는 알지도 못했다. - Bởi vì ngay đến cái thẻ có biên tuổi hắn cũng không có, trong sổ làng người ta vẫn khai hắn là dân lưu tán, lâu năm không về làng.
그에게는 나이를 적어 놓은 문서조차 없었고, 마을 장부에는 여전히 오래 돌아오지 않은 유랑민으로 기록되어 있었다. - Hắn nhớ mang máng rằng có lần hắn hai mươi tuổi, rồi hắn đi ở tù, rồi hình như hắn hăm hăm không biết có đúng không?
어렴풋이 기억하기로는 스무 살쯤 되었을 때 감옥에 갔던 것 같은데 그것도 확실하지 않았다. - Bởi từ đấy thì đối với hắn không còn ngày tháng nữa.
그때 이후로는 그에게 날짜와 세월이란 것이 사라져 버렸다. - Bởi vì từ đấy hắn bao giờ cũng say.
왜냐하면 그때부터 그는 언제나 술에 취해 있었기 때문이다. - Nhưng cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông.
그의 취기는 한 번에서 끝나는 것이 아니라 끝없이 이어지는 하나의 긴 취기였다. - Hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say.
그는 취한 채 먹고, 취한 채 자고, 깨어나도 여전히 취해 있었다. - Đập đầu rạch mặt chửi bới, dọa nạt trong lúc say, uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận.
취한 채로 머리를 박고 얼굴을 긋고 욕을 퍼붓고 위협하고 또 술을 마셔 다시 취했다. 끝없이 취해 있었다. - Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo, để nhớ rằng có hắn ở đời.
그는 한 번도 맨정신이었던 적이 없었고 아마 자신이 이 세상에 존재한다는 것조차 제대로 의식해 본 적이 없었을 것이다. - Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, để tác quái cho bao nhiêu dân làng.
아마 그는 자신이 부다이 마을 사람들에게 공포가 되는 악마 같은 존재라는 것도 몰랐을 것이다. - Hắn biết đâu hắn đã phá bao nhiêu cơ nghiệp, đạp nát bao nhiêu cảnh yên vui, đập đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện.
그는 자신이 얼마나 많은 가정을 망치고 평화를 깨뜨리고 행복을 짓밟았으며 얼마나 많은 선량한 사람들의 피와 눈물을 흘리게 했는지 알지 못했다. - Hắn đâu biết vì hắn làm tất cả những việc ấy trong khi người hắn say; hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm.
그가 그런 일을 한 것은 모두 술에 취했을 때였기 때문이었다. 취해 있으면 그는 사람들이 시키는 일을 무엇이든 했다. - Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi khi hắn qua.
그래서 마을 사람들은 모두 그를 두려워했고 그가 지나갈 때마다 얼굴을 피했다. - Vì thế cho nên hắn chửi hay là chẳng vì cái gì hắn cũng chửi, cứ rượu xong là hắn chửi.
그래서 그는 욕을 잘했다. 이유가 없어도 욕했고 술만 마시면 욕을 퍼부었다. - Hắn chửi như những người say rượu hát.
그는 마치 술 취한 사람이 노래하듯 욕을 했다. - Giá hắn biết hát thì có lẽ hắn không cần chửi.
만약 그가 노래를 할 줄 알았다면 아마 욕할 필요도 없었을 것이다. - Khổ cho hắn và khổ cho người hắn lại không biết hát.
그가 노래를 모른다는 것은 그에게도, 사람들에게도 불행한 일이었다. - Thì hắn chửi, cũng như chiều nay hắn chửi…
그래서 그는 욕을 했다. 오늘 오후처럼 계속 욕을 했다… - Hắn chửi trời và đời.
그는 하늘과 세상을 욕했다. - Hắn chửi cả làng Vũ Đại.
그는 부다이 마을 전체를 욕했다. - Hắn chửi tất cả những đứa nào không chửi nhau với hắn.
그는 자기와 욕을 주고받지 않는 모든 사람을 욕했다. - Nhưng cũng mặc, ai mà hoài hơi, tức mình hắn chửi đứa nào để ra chính hắn, lại càng không ai cần!
하지만 아무도 상대해 주지 않았다. 누가 괜히 화를 내며 그와 욕을 주고받겠는가. - Và hắn lấy thế làm tức lắm; bởi vì người ta không thể chửi nhau một mình; chửi nhau một mình thì còn văn vẻ gì!
그래서 그는 더욱 화가 났다. 혼자서는 욕을 주고받을 수 없기 때문이다. 혼자 욕하는 것은 아무 의미도 없었다. - Thế là chắc chắn đã có một cớ để tức tối, một cớ rất chính đáng để hắn có thể hùng hổ đi báo thù.
그래서 그는 분노할 이유를 찾았다. 당당하게 복수할 수 있는 명분이 생긴 것이다. - Phải, hắn phải báo thù, báo thù vào bất cứ ai.
그래, 그는 복수해야 했다. 누구에게든 복수해야 했다. - Hắn phải vào nhà nào mới được, bất cứ nhà nào.
그는 어떤 집이든 들어가야 했다. - Hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp để đập phá đốt nhà hay lăn ra kêu làng nước.
눈에 띄는 아무 골목이나 들어가 집을 부수거나 불을 지르거나 드러누워 마을 사람들을 불러낼 생각이었다. - Phải đấy, hắn sẽ rẽ vào bất cứ ngõ nào hắn gặp…
그래, 그는 눈에 보이는 아무 골목이나 들어갈 것이다… - Á, đâu kia rồi mau mau…
아, 저기 있다. 어서… - Nhưng mà mặt trăng lên, mặt trăng rằm vành vạnh.
그러나 달이 떠올랐다. 둥근 보름달이었다. - Và ánh trăng chảy trên đường trắng tinh.
달빛이 새하얀 길 위에 흘러내리고 있었다. - Ồ, cái gì đây, đen và méo mó trên đường trắng nhỉ?
어라, 저 흰 길 위에 저 검고 뒤틀린 것은 무엇일까? - Nó xệch xạc về bên trái, thu gọn vào rồi lại dài loang ra, xé rách vài chỗ.
그것은 왼쪽으로 비스듬히 누워 있다가 오그라들고 다시 길게 퍼지며 여기저기 찢어진 것처럼 보였다. - Nó cứ quấn quýt dưới chân Chí Phèo.
그것은 치페오의 발밑에서 계속 어른거렸다. - Chí Phèo đứng lại và nhìn nó và hắn bỗng nghiêng ngả cười.
치페오는 걸음을 멈추고 그것을 바라보다가 갑자기 비틀거리며 웃었다. - Hắn cười ngặt nghẽo, cười rũ rượi.
그는 숨이 넘어갈 듯 웃고 또 웃었다. - Giá hắn cứ chửi lại còn dễ nghe!
차라리 욕을 했다면 더 듣기 쉬웠을 것이다! - Cái vật xệch xạc trên đường chính là bóng hắn.
길 위에서 흔들리던 그 물체는 바로 그의 그림자였다. - Thế là hắn cười, và hắn quên báo thù: hắn đi qua cái ngõ đầu tiên kia rồi.
그래서 그는 웃으며 복수할 생각도 잊고 첫 번째 골목을 지나쳐 버렸다. - Bây giờ thì đến ngõ nhà tự Lãng, một anh thầy cúng có một bộ râu lở phở.
이제 그는 수렁이라는 제사장의 집 골목에 이르렀다. 그 제사장은 듬성듬성한 수염을 기르고 있었다. - Chí Phèo bỗng nảy ra một ý: tạt vào đây và đập cái bàn chầu văn của lão tự nửa mùa này ra.
치페오는 갑자기 생각이 떠올랐다. 이 집에 들어가 이 어설픈 제사장의 제사상을 부숴 버리자는 것이었다. - Bởi vì lão tự này vừa làm thầy cúng lại vừa làm nghề hoạn lợn.
그 제사장은 제사도 지내지만 돼지 거세하는 일도 하고 있었다. - Cái đàn của lão lừng phừng nghe còn chói tai hơn là lợn kêu.
그가 켜는 악기 소리는 돼지 울음보다 더 귀에 거슬렸다. - Nhưng lúc vào thì lão tự lại đang uống rượu.
하지만 들어가 보니 그 제사장은 술을 마시고 있었다. - Lão uống rượu ngay ở sân, vừa uống vừa vuốt râu, vừa rung rung cái đầu.
그는 마당에서 술을 마시며 수염을 쓰다듬고 고개를 흔들고 있었다. - Chí Phèo đứng lại nhìn, thấy lão cũng hay hay.
치페오는 멈춰 서서 바라보다가 그 모습이 꽤 괜찮다고 느꼈다. - Hắn thấy tất cả những người uống rượu đều hay hay.
그에게는 술을 마시는 사람은 모두 괜찮아 보였다. - Rồi đột nhiên hắn khát, trời ơi sao mà khát!
그리고 갑자기 그는 갈증을 느꼈다. 하늘이여, 얼마나 목이 마른지! - Khát đến cháy cổ họng…
목이 타들어 갈 만큼 갈증이 났다… - Không do dự, hắn lại bên lão tự, nhắc lấy chai rượu ngửa cổ dốc vào mồm tu.
그는 망설이지 않고 제사장 곁으로 가서 술병을 들어 목을 젖히고 들이켰다. - Lão tự đuổi cái cò gà vặt lông ra, trố mắt lên, nhưng không nói gì.
제사장은 닭털을 뽑던 손을 멈추고 눈을 크게 떴지만 아무 말도 하지 않았다. - Lưỡi lão rụt lại rồi, còn nói làm sao được?
그의 혀는 이미 굳어 버린 듯 더 말할 수도 없었다. - Lão đã uống hết hai phần chai.
그는 이미 병의 3분의 2를 마셔 버린 상태였다. - Còn một phần thì Chí Phèo tu nốt.
남은 것은 치페오가 마저 들이켰다. - Hắn tu có một hơi, rồi khà một cái, chép cái miệng như còn thèm.
그는 한 번에 들이키고는 “캬” 하고 소리를 내며 아직도 아쉬운 듯 입맛을 다셨다. - Rồi hắn nắm lấy mấy cái râu lở phở của lão tự, nâng soi lên trăng mà cười.
그리고 그는 제사장의 듬성한 수염을 잡아 올려 달빛에 비추며 웃었다. - Lão tự cũng cười.
제사장도 웃었다. - Hai thằng say rượu ngả vào nhau mà cười, như một đôi tri kỷ cuồng.
두 술 취한 사람은 서로 기대며 웃었다. 마치 미친 친구 둘 같았다. - Rồi tự Lãng vào nhà xách hai chai rượu nữa.
이윽고 수렁은 집 안으로 들어가 술병 두 개를 더 가져왔다. - Lão còn dùng hai chai nữa, lão mời Chí Phèo uống nữa, uống thật say, không cần gì.
그는 또 두 병을 더 꺼내 치페오에게 권하며 마음껏 취하도록 마시라고 했다. - Cứ việc uống, đừng có lo ngại gì đấy!
그냥 마셔! 아무 걱정 말고! - Vợ lão chết đến bảy tám năm nay rồi, con gái lão chưa hoang bỏ lão đi, lão chỉ có một mình, không còn vợ con nào mè nheo cả.
그의 아내는 7~8년 전에 죽었고 딸도 아직 떠나지 않아 그는 혼자였다. 더는 잔소리할 아내도 없었다. - Lão muốn uống đến bao giờ thì uống.
그는 마시고 싶을 때까지 마음껏 마실 수 있었다. - Cứ uống!
마셔라! - Cứ uống, cứ uống đi ông bạn lạc đường từ cung trăng xuống ạ!
마셔라, 마셔라! 달에서 길을 잃고 내려온 친구여! - Uống thật tợn, uống đến đã ra rượu thì mới thích.
아주 독하게 마셔야 술맛이 나는 법이다. - Nhịn uống để làm gì?
참아서 무엇 하겠는가? - Có giàu có sang, có làm nên ông cả bà lớn nữa, chết cũng không ai gọi là “cụ lớn mã”!
아무리 부자가 되고 큰 사람이 되어도 죽으면 누구도 큰 무덤이라 부르지 않는다! - Lão sống có đến hơn năm mươi rồi mà chưa thấy một cụ lớn mã nào sống sót!
그는 오십이 넘도록 살았지만 큰 무덤에서 살아 돌아온 사람은 본 적이 없었다! - Chỉ có cái mã, cái mã đất.
남는 것은 무덤, 흙무덤뿐이다. - Ai chết cũng thành cái mã, say sưa chết cũng thành cái mã, lo gì?
누가 죽어도 무덤이 된다. 술에 취해 죽어도 무덤이 될 뿐이다. 무엇을 걱정하겠는가? - Cứ say.
그러니 취해 버려라. - Chưa bao giờ Chí Phèo được thỏa thuê đến thế!
치페오는 이렇게 마음껏 마셔 본 적이 없었다. - Hắn lấy làm lạ sao mãi đến hôm nay mới ngồi uống rượu với thằng cha tự này.
그는 왜 이제야 이 제사장과 함께 술을 마시게 되었는지 이상하게 생각했다. - Chúng uống với nhau rất là nhiều.
그들은 술을 아주 많이 마셨다. - Và rất là nhiều.
정말 많이 마셨다. - Người ta tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống để đủ rượu cho chúng uống.
마치 부다이 마을 사람들이 모두 술을 참고 그들에게 술을 양보한 것처럼 보였다. - Đến lúc hết cả hai chai thì tự Lãng đã bò ra sân.
두 병의 술이 다 비었을 때 수렁은 마당으로 기어 나왔다. - Lão bò như cua và hỏi Chí Phèo rằng: người ta đứng lên bằng cái gì?
그는 게처럼 기어가며 치페오에게 물었다. 사람은 무엇으로 일어서는가? - Chí Phèo vẫn ngửa lão ra, vuốt cái râu lở phở của lão mấy cái, rồi để mặc lão thế, hắn lăn lão đảo ra về.
치페오는 그를 뒤로 젖히고 그의 듬성한 수염을 몇 번 쓰다듬은 뒤 그대로 두고 비틀거리며 돌아갔다. - Hắn vừa đi vừa phanh ngực ra mà gãi.
그는 걸어가며 가슴을 드러내고 긁었다. - Hắn gãi ngực rồi gãi lên cổ, gãi mang tai và gãi lên cả đầu.
가슴을 긁다가 목을 긁고 귀 뒤를 긁고 머리까지 긁었다. - Có lúc hắn phải đứng lại giữa đường mà gãi, ghếch chân lên mà gãi, hắn bứt rứt quá, ngứa ngáy quá.
어떤 때는 길 한가운데 서서 다리를 들어 올리고 긁어야 했다. 그는 몹시 초조하고 가려웠다. - Và chợt nghĩ ngay đến cái bờ sông gần nhà.
그러다 문득 집 근처 강가가 떠올랐다. - Bởi vì cái vườn của hắn ở gần một con sông con, nước lặng và trong.
그의 밭은 잔잔하고 맑은 작은 강 가까이에 있었다. - Khắp bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn.
강가에는 뽕나무가 가득했고 바람이 불면 부드러운 줄기들이 물결처럼 흔들렸다. - Duy có vườn nhà hắn trồng toàn chuối, ở một góc vườn có túp lều con.
그의 밭에는 온통 바나나가 심어져 있었고 한쪽 구석에는 작은 오두막이 있었다. - Những đêm trăng như đêm nay, cái vườn phẳng ngổn ngang những bóng chuối đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi.
오늘 같은 달밤이면 밭 위에는 검은 바나나 그림자들이 마치 널어 놓은 옷처럼 어지럽게 드리워졌다. - Và những tàu chuối nằm ngửa, uốn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi như là ướt nước.
바나나 잎들은 뒤집혀 구부러지며 푸른 달빛을 받아 마치 젖은 것처럼 반짝였다. - Thỉnh thoảng bị gió lay lại giẫy lên đành đạch như là hứng tình.
가끔 바람에 흔들리면 마치 몸부림치는 것처럼 펄럭였다. - Chí Phèo vừa tò mò nhìn những tàu lá chuối vừa đi xuống vườn.
치페오는 호기심 어린 눈으로 바나나 잎을 바라보며 밭으로 내려갔다. - Nhưng hắn không vào cái túp lều úp xúp mà ra thẳng bờ sông.
그러나 그는 오두막으로 가지 않고 곧장 강가로 향했다. - Hắn định sẽ nhảy xuống tắm cho khỏi ngứa ngáy rồi lăn ngay ra vườn mà ngủ.
그는 가려움을 없애기 위해 강에 뛰어들어 씻은 뒤 밭에서 바로 잠들 생각이었다. - Tội gì chui vào lều, bức đến không còn thở được.
숨 막히는 오두막에 들어갈 이유가 없었다. - Một thằng như hắn, đập đầu không chết, huống hồ là gió sương…
그 같은 놈이 머리를 부딪혀도 죽지 않는데 바람과 이슬쯤이야 무엇이겠는가. - Đến bờ sông hắn dừng lại, vì hình như có người.
강가에 이르자 그는 멈춰 섰다. 누군가 있는 것 같았기 때문이다. - Có người thật, và hắn ngây ra nhìn.
정말 사람이 있었고 그는 멍하니 바라보았다. - Hắn nhìn giữa hai lờ nước và tựa lưng vào gốc chuối, một người đàn bà ngồi tềnh hềnh.
그는 두 물동이 사이를 바라보다가 바나나 나무에 등을 기대고 앉아 있는 한 여자를 보았다. - Chính là người đàn bà, hắn biết vậy là nhờ mái tóc dài buông xõa xuống vai trần và ngực…
그것이 여자라는 것은 맨 어깨와 가슴 위로 늘어뜨린 긴 머리카락 때문에 알 수 있었다. - Hai tay trần của mụ buông xuôi, cái mồm của mụ há hốc lên trăng mà ngủ, hay là chết.
그녀의 맨팔은 힘없이 늘어져 있었고 입은 달빛을 향해 벌어진 채 잠든 것인지 죽은 것인지 알 수 없었다. - Đôi chân thì duỗi thẳng ra trước mặt, cái váy đen xộc xệch…
두 다리는 앞쪽으로 쭉 뻗어 있었고 검은 치마는 흐트러져 있었다. - Bên kia, có lẽ vì mụ gãy cái yếm xẹo xọ để trật ra cái sườn nây nẩy.
아마 그녀의 속옷이 헐거워져 갈비뼈가 드러나 있었던 모양이었다. - Tất cả những cái ấy phơi ra trắng, rười rượi những trăng làm trắng những cái đó có lẽ ban ngày không trắng; trăng làm đẹp lên.
그 모든 것이 달빛 아래 드러나 있었고 낮에는 그렇게 희지 않았을 것들이 달빛 때문에 더욱 희고 아름답게 보였다. - Chí Phèo tự nhiên thấy ở đầy miệng bao nhiêu là nước dãi, mà cổ thì lại khô, hắn nuốt ừng ực, hắn thấy cái gì rộn rạo ran khắp người.
치페오는 갑자기 입에 침이 고이는 것을 느꼈지만 목은 바짝 말라 있었다. 그는 꿀꺽 침을 삼키며 온몸이 이상하게 술렁거리는 것을 느꼈다. - Bỗng nhiên hắn run run.
갑자기 그는 몸이 떨렸다. - Ồ tại sao như thế được?
어째서 이런 느낌이 드는 걸까? - Đáng nhẽ chính người đàn bà khốn nạn kia phải run mới phải, cái người đàn bà dại dột đã nằm ềnh ệch mà ngủ ngay gần nhà hắn này.
떨려야 할 사람은 오히려 저 불쌍한 여자일 텐데, 그의 집 가까이에서 이렇게 대담하게 누워 잠든 그 여자 말이다. - Nhưng người đàn bà ấy lại chính là thị Nở, một người ngẩn ngơ như những người đàn trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn.
그러나 그 여자는 바로 티노였다. 동화 속 바보 같은 사람처럼 멍하고, 귀신도 놀랄 만큼 못생긴 여자였다. - Cái mặt của thị đích thực là một sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang lớn hơn bề dài, thế mà hai má nó lại hóp vào mới thật là tai hại.
그녀의 얼굴은 마치 조물주의 조롱 같았다. 너무 짧아서 가로가 세로보다 더 길어 보일 정도인데, 두 뺨마저 움푹 들어가 있어 더 우스꽝스러웠다. - Nếu má nó phính phính thì mặt thị lại còn được hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng, trên cổ người.
만약 볼이 통통했다면 돼지 얼굴처럼 보였을지도 모르지만, 그런 얼굴은 생각보다 사람들에게 흔한 편이었다. - Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành.
그녀의 코는 짧고 크며 붉고 울퉁불퉁해 마치 거친 귤 껍질 같았다. - Bành bạnh muốn chen lấn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi.
코와 경쟁이라도 하듯 입술도 두툼하게 부풀어 있었다. - Có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nẻ như rạn ra.
아마 너무 부풀어 있어 갈라진 듯 보였다. - Đã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày thêm, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trầu xám ngoách.
게다가 그녀는 빈랑을 씹어 두꺼운 입술이 더 두꺼워졌지만 붉은 빈랑 즙이 그 회색빛을 조금 가려 주었다. - Đã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được vài phần cho sự xấu.
거기에다 큰 이빨들이 튀어나와 있었는데, 아마 그것들이 얼굴의 균형을 맞추려는 듯했다. - Đã thế thị lại dở hơi; đó là một ân huệ đặc biệt của Thượng đế chí công.
게다가 그녀는 약간 모자란 사람이었는데, 그것은 어쩌면 신이 준 특별한 자비였을지도 모른다. - Nếu sáng suốt thì người đàn bà ấy sẽ khổ sở ngay từ khi mua cái gương thứ nhất.
만약 그녀가 제정신이었다면 처음 거울을 샀을 때부터 큰 고통을 겪었을 것이다. - Và thị lại nghèo nữa; trái lại, ít nhất đã có một đàn ông khổ sở.
게다가 그녀는 가난했다. 그렇지 않았다면 적어도 한 남자는 그녀 때문에 괴로웠을 것이다. - Và thị lại là dòng giống của một nhà có ma hủi; cái này khiến không một chàng trai nào phải phân vân.
그리고 그녀는 나병 집안의 혈통이었다. 그래서 어떤 남자도 그녀에게 관심을 갖지 않았다. - Người ta tránh thị như tránh một con vật rất tởm.
사람들은 그녀를 매우 혐오스러운 짐승처럼 피했다. - Ngoài ba mươi tuổi, thị vẫn chưa có chồng.
서른이 넘도록 그녀는 아직 남편이 없었다. - Ở cái làng Vũ Đại này người ta kết bạn từ khi lên tám, và có khi có con từ lúc mười lăm; không ai đợi đến năm hai mươi để đứa con thứ nhất.
부다이 마을에서는 여덟 살부터 짝을 정하고 열다섯에 아이를 낳는 일도 흔했으며, 스무 살까지 첫 아이를 기다리는 사람은 거의 없었다. - Cứ nhìn tình hình ấy thì ta nói quách: thị Nở không có chồng.
이런 상황을 보면 티노가 남편이 없는 것도 당연했다. - Mà thị cũng không còn ai thân thích, trừ một người cô đã có thể gọi được là già, và đã không chồng như thị.
게다가 그녀에게는 늙은 고모 한 사람밖에 친척이 없었고 그 고모 역시 미혼이었다. - Số trời định thế, để không ai phải trông cậy trên đời này.
아마 운명이 그렇게 정해져 누구에게도 의지하지 못하게 된 모양이었다. - Người cô làm thuê cho người đàn bà buôn chuối và trầu không xếp tàu đi Hải Phòng, có khi đi tận Hòn Gai, Cẩm Phả.
그 고모는 바나나와 빈랑을 배에 실어 하이퐁이나 혼가이, 캄파까지 보내는 장사를 하는 여자 밑에서 일을 했다. - Còn thị sống bằng những nghề lặt vặt ở làng.
티노는 마을에서 이런저런 허드렛일로 살았다. - Hai cô cháu sống trong một cái nhà tre cách vườn của Chí Phèo bởi một con đê; hắn ở ngoài bãi, hai người ở trong xóm.
두 사람은 치페오의 밭과 둑 하나를 사이에 둔 대나무 집에서 살았다. - Có lẽ chính vì thế mà thị Nở không sợ cái thằng mà cả làng sợ.
그래서인지 티노는 마을 사람들이 모두 두려워하는 그 남자를 무서워하지 않았다. - Gần gũi lâu cũng sinh quen, mà quen thì ít khi còn sợ.
가까이 오래 살다 보면 익숙해지고 익숙해지면 두려움도 줄어든다. - Những người trông coi vườn bách thú thường bảo rằng hổ báo hiền y như mèo.
동물원 관리인들이 호랑이나 표범도 고양이처럼 순하다고 말하듯이 말이다. - Và lại có lý nào để thị sợ hắn đâu?
게다가 그녀가 그를 무서워할 이유도 없었다. - Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo, cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy…
사람은 자신의 못생김과 가난함과 어리석음을 건드리는 사람을 두려워하지 않는데, 티노에게는 바로 그 세 가지밖에 없었기 때문이다. - Một phần nữa cũng bởi Chí Phèo ít khi ở nhà, mà ở nhà thì hắn lại hiền lành, ai có thể ác trong khi ngủ?
또 한편으로는 치페오가 집에 거의 없고 집에 있을 때는 얌전했기 때문이다. 잠자는 사람에게 누가 악할 수 있겠는가? - Hắn chỉ về nhà để ngủ.
그는 집에 와서 그저 잠만 잤다. - Ngày nào thì Nở cũng phải qua vườn nhà hắn hai ba lần, là vì qua vườn nhà hắn có một lối nhỏ đi ra sông.
노는 매일 두세 번씩 그의 밭을 지나가야 했다. 그의 밭에는 강으로 나가는 작은 길이 있었기 때문이다. - Trước kia, cả xóm vẫn dùng cái ngõ ấy để ra sông tắm giặt hay kín nước.
예전에는 마을 사람들이 그 길로 강에 가서 목욕하거나 빨래하거나 물을 길어 왔다. - Nhưng từ khi hắn đến người ta thôi dần, tìm một lối khác đi xa hơn.
하지만 그가 이곳에 온 뒤로 사람들은 점점 그 길을 피하고 더 먼 다른 길을 찾았다. - Trừ thị Nở: thị đã bảo thị là người dở hơi, thị không thích làm như kẻ khác.
하지만 노는 달랐다. 그녀는 스스로 좀 모자란 사람이라며 남들과 같은 행동을 하는 것을 좋아하지 않았다. - Quá tin ở người, quá tin ở mình liều lĩnh, bướng bỉnh hay có lẽ chỉ không chịu rời thói quen.
사람을 지나치게 믿었거나 자신의 대담함을 믿었거나, 아니면 단지 오랜 습관을 버리지 못했기 때문일지도 몰랐다. - Nhưng hãy biết thị cứ đi ngõ ấy và vẫn chẳng làm sao cả.
어쨌든 그녀는 계속 그 길을 다녔고 아무 일도 없었다. - Thế rồi quen đi.
그러다 보니 점점 익숙해졌다. - Có lần trong lúc Chí Phèo ngủ, thị vào cả nhà hắn để rọi nhờ lửa nữa.
어떤 때는 치페오가 잠든 사이 그의 집에 들어가 불씨를 얻어 가기도 했다. - Có lần thị xin của hắn một ít rượu về để bóp chân.
또 어떤 때는 다리를 주무르려고 그의 술을 조금 얻어 가기도 했다. - Hắn mãi ngủ càu nhàu bảo thị rằng: ở xó nhà ấy, muốn rót bao nhiêu thì rót, để yên cho hắn ngủ.
그는 잠결에 투덜거리며 집 구석에 있으니 마음대로 따라 가고 자신은 자게 놔두라고 말했다. - Và lắm lúc thị ngạc nhiên: sao người ta ghê hắn thế?
그래서 노는 종종 궁금해했다. 사람들이 왜 그를 그렇게 무서워하는지 말이다. - Chiều hôm ấy thị Nở cũng ra sông kín nước như mọi chiều.
그날 저녁에도 티 노는 늘 그렇듯 강에 물을 길으러 나갔다. - Nhưng chiều hôm ấy, trăng lại sáng hơn mọi chiều, trăng tỏa trên sông và sóng gợn biết bao nhiêu gợn vàng.
그날 저녁에는 달빛이 유난히 밝아 강 위에 비치고 물결마다 금빛 물결이 반짝였다. - Những vàng ấy rung rinh mới trông thì đẹp, nhưng trông lâu mới mệt.
그 금빛 물결은 처음에는 아름답게 보였지만 오래 바라보니 눈이 피곤해졌다. - Gió lại mát như quạt hầu.
바람도 부채질하듯 시원했다. - Thị Nở thấy muốn ngáp mà mí mắt thì nặng dần, toan díp lại.
티 노는 하품이 나고 눈꺼풀이 점점 무거워져 감길 것 같았다. - Thị vốn có một tật không sao chữa được: có lúc đột nhiên muốn ngủ, bất cứ ở đâu hay đang làm gì.
그녀에게는 고칠 수 없는 버릇이 있었는데, 때때로 어디서든 무엇을 하든 갑자기 잠이 쏟아지는 것이었다. - Bà cô thị bảo thị là một người vô tâm.
그녀의 고모는 그녀가 무심한 사람이라고 말했다. - Ngáp một cái, thị nghĩ bụng: khoan hãy kín nước, hãy để lo xuống ngồi nghỉ đây.
하품을 하며 그녀는 ‘먼저 물 길은 것은 미루고 여기 앉아 좀 쉬자’고 생각했다. - Bởi vì thị đã luồn quạt đập đất từ trưa tới giờ.
왜냐하면 그녀는 낮부터 계속 일을 하느라 지쳐 있었기 때문이다. - Mà mấy khi được một nơi mát thế, mát rợn da rợn thịt, sung sướng quá!
이렇게 시원한 곳은 드물었고 피부까지 서늘할 만큼 시원해 정말 좋았다. - Mát y như quạt hầu.
마치 부채질을 받는 것처럼 시원했다. - Thị cởi áo ra ngồi tựa vào gốc chuối, dáng ngồi không kín đáo, nhưng không bao giờ thị biết thế nào là lơi.
그녀는 옷을 벗고 바나나 나무에 기대어 앉았는데 자세가 단정하지는 않았지만 그런 것을 신경 쓸 줄도 몰랐다. - Con người vô tâm, không hay nghĩ xa xôi mà.
원래 그녀는 깊이 생각하는 사람이 아니었다. - Và lại ở đây chẳng có ai.
게다가 이곳에는 아무도 없었다. - Chí Phèo đã về đâu, mà hắn có về thì cũng say khướt đã ngủ từ nửa đường và tới nhà tức khắc chui đầu vào ngủ nốt.
치페오가 돌아왔다 해도 술에 취해 길에서 이미 잠들었다가 집에 오면 곧바로 다시 잠들 것이다. - Hắn ra làm gì đây, cho có ra nữa thì đã sao?
그가 나온다 해도 무슨 일이 있겠는가? - Thị không thể sợ hắn có thể phạm đến thị bởi lẽ rất giản dị là thị chưa thấy ai phạm đến thị bao giờ.
그녀는 그가 자신을 해칠까 두려워하지 않았다. 왜냐하면 지금까지 누구도 그녀에게 그런 짓을 한 적이 없었기 때문이다. - Thật ra thì thị cũng chẳng nghĩ ngợi nhiều đến thế.
사실 그녀는 그렇게까지 깊이 생각하지도 않았다. - Trong óc thị đã có một bóng đen lan rồi.
이미 그녀의 머릿속에는 졸음이 번지고 있었다. - Thị không ngồi thì không chịu được.
그녀는 더 이상 서 있을 수 없어 앉아 있을 수밖에 없었다. - Ngồi một lúc thì thị thấy rằng: nếu cứ ngồi mãi thì ngủ mất.
잠시 앉아 있다 보니 그대로 있으면 잠이 들 것 같았다. - Nhưng thị đã ngủ đến hai phần rồi.
하지만 이미 거의 잠이 든 상태였다. - Và thị nghĩ: thì ngủ, ngủ thì đã làm sao!
그래서 그녀는 ‘잠들면 어때!’ 하고 생각했다. - Về nhà thì cũng chỉ ngủ, ngủ ngay đây cũng vậy.
집에 가도 결국 잠잘 텐데 여기서 자도 마찬가지였다. - Bà cô đi theo hàng ít ra cũng đẫm hôm mới về.
고모는 장사를 따라 나갔으니 오늘 밤 늦게야 돌아올 것이다. - Thị cứ ngồi đây cho mát.
그래서 그녀는 여기 앉아 시원한 바람을 쐬기로 했다. - Và thị ngủ.
그리고 그녀는 잠이 들었다. - Thị ngủ ngon lành và say sưa.
그녀는 깊고 편안하게 잠들었다. - Chí Phèo vẫn say say nhìn và run run.
치페오는 술에 취한 채 그녀를 바라보며 몸을 떨었다. - Bỗng nhiên hắn rón rén lại gần thị Nở: lần đầu tiên hắn rón rén, từ khi về làng.
갑자기 그는 살금살금 티노에게 다가갔다. 마을로 돌아온 이후 처음으로 조심스러운 행동이었다. - Thoạt tiên, hắn xách cái lọ để ra xa, rồi hắn lặng lặng ngồi xuống bên sườn thị.
먼저 술병을 멀리 치워 놓고 조용히 그녀 옆에 앉았다. - Và thị Nở giật mình.
티노는 깜짝 놀라 깨어났다. - Thị Nở mới kịp giật mình thì thằng đàn ông đã bám víu lấy thị…
그녀가 놀라기도 전에 남자는 이미 그녀를 붙잡았다. - Thị vùng vẫy đẩy ra, thị mở mắt, thị tỉnh hẳn, thị nhận ra Chí Phèo.
그녀는 몸부림치며 밀어내고 눈을 뜨자 완전히 깨어 치페오임을 알아보았다. - Thị vừa thở, vừa vật nhau với hắn vừa hổn hển:
그녀는 숨을 헐떡이며 몸부림치며 말했다. - “Ô hay… Buông ra… Tôi kêu… Tôi kêu làng… Buông ra. Tôi kêu làng lên bây giờ!”
“이봐요… 놔요… 소리칠 거예요… 마을 사람 부를 거예요… 놔요. 지금 당장 소리칠 거예요!” - Thằng đàn ông phì cười.
그 남자는 피식 웃었다. - Sao thị lại kêu làng nhỉ?
왜 그녀가 마을 사람을 부르겠다는 걸까? - Hắn vẫn tưởng chỉ có hắn mới kêu làng thôi; người ta lại kêu tranh của hắn, bỗng nhiên hắn la lên kêu làng.
그는 늘 자신만이 마을 사람을 부르는 줄 알았는데, 갑자기 자신이 먼저 소리를 질렀다. - Hắn kêu như một kẻ bị đâm, vừa kêu vừa dằn người đàn bà xuống.
그는 칼에 찔린 사람처럼 소리 지르며 그녀를 눌렀다. - Thị Nở trợn mắt ngây ra nhìn.
티노는 눈을 크게 뜨고 멍하니 바라보았다. - Thị Nở kinh ngạc: sao hắn lại kêu làng nhỉ?
그녀는 놀랐다. 왜 그가 마을을 부르며 소리칠까? - Mà hắn vẫn chưa chịu thôi kêu làng.
그는 계속 소리를 질렀다. - Cũng may người quanh đây không có ai lạ gì tiếng hắn, mà khi hắn kêu làng thì không ai cần động dạng.
다행히 주변 사람들은 그의 고함에 익숙해 아무도 신경 쓰지 않았다. - Họ lầu bầu chửi rồi lại ngủ; hắn kêu làng cũng như người khác buồn, hát ngao.
사람들은 투덜거리다 다시 잠들었고, 그의 고함은 다른 사람의 노래 같은 것이었다. - Đáp lại hắn chỉ có lũ chó cắn xao lên trong xóm.
그에게 반응한 것은 마을의 개들뿐이었다. - Thị Nở bỗng nhiên bật cười.
티노는 갑자기 웃음을 터뜨렸다. - Thị Nở vừa rũa vừa đập tay lên lưng hắn.
그녀는 욕을 하면서 그의 등을 쳤다. - Nhưng đó là cái đập yêu, bởi vì đập xong, cái tay ấy lại giữ lưng hắn xuống.
하지만 그것은 애정 어린 타격이었다. 치고 나서 그녀의 손은 그의 등을 감싸 안았다. - Và chúng cười với nhau…
그리고 둘은 함께 웃었다… - Bây giờ thì chúng ngủ bên nhau…
이제 그들은 서로 옆에서 잠들어 있었다… - Đứa bé bú no thì ngủ.
배불리 젖을 먹은 아기가 잠들 듯이. - Người ta ngủ say sau khi làm việc yêu.
사람은 사랑을 나눈 뒤 깊이 잠든다. - Chúng ngủ như chưa bao giờ được ngủ…
그들은 마치 평생 잠을 못 잔 사람처럼 잠들었다… - Trăng vẫn thức, vẫn trong treo…
달은 여전히 떠 있고 맑게 빛나고 있었다. - Trăng rắc bụi trên sông, và sóng gợn biết bao nhiêu vàng.
달빛이 강 위에 뿌려지고 물결마다 금빛이 반짝였다. - Nhưng đến gần sáng, bỗng nhiên Chí Phèo chống một tay xuống đất, ngồi lên một nửa.
그러나 새벽이 가까워지자 치페오는 갑자기 한 손으로 땅을 짚고 몸을 일으켰다. - Hắn thấy nôn nao, chân tay bủn rủn, như đến hai ba ngày nhịn đói.
속이 메스껍고 팔다리에 힘이 빠져 마치 이틀 삼일 굶은 사람 같았다. - Thế mà bụng lại phình phĩnh đầy, hình như bụng hơi đau.
그런데 배는 불룩하고 약간 아픈 것 같았다. - Còn hình như gì nữa, thôi đúng đau bụng rồi.
더 생각할 것도 없이 배가 아픈 것이었다. - Đau thật, đau mỗi lúc một dữ!
정말 아팠다. 점점 더 심해졌다! - Nó cứ cuồn cuộn lên.
고통이 계속 밀려왔다. - À mà trời lạnh lạnh.
게다가 공기가 차가웠다. - Hễ có gió thì kinh kinh.
바람이 불 때마다 몸이 떨렸다. - Mỗi lần gió, hắn rướn rướn người.
바람이 불 때마다 그는 몸을 움찔거렸다. - Hắn muốn đứng lên.
그는 일어서려고 했다. - Sao đầu nặng quá mà chân thì bẫy rẫy.
그런데 머리는 무겁고 다리는 휘청거렸다. - Mắt hắn hoa lên.
눈앞이 어지러웠다. - Bụng quặn lại, đau gò người.
배가 뒤틀리며 몸을 구부리게 했다. - Hắn oẹ.
그는 구역질했다. - Hắn oẹ ba bốn cái.
세 네 번이나 구역질했다. - Oẹ mãi.
계속 토하려 했다. - Giá mửa ra được thì dễ chịu.
토해낼 수만 있다면 좀 나을 것 같았다. - Hắn cho một ngón tay vào móc họng.
그는 손가락을 목구멍에 넣어 토하려 했다. - Hắn oẹ ra một cái to hơn, ruột hình như lộn lên.
더 크게 토하려 했고 속이 뒤집히는 것 같았다. - Nhưng cũng chỉ nhổ ra toàn nước dãi.
하지만 나온 것은 침뿐이었다. - Hắn nghĩ một tí rồi lại cho tay vào mồm.
잠시 생각하다 다시 손을 입에 넣었다. - Lần này thì mửa được.
이번에는 토해냈다. - Trời ơi! Mửa thốc mửa tháo, mửa ông ốc, mửa đến cả ruột.
세상에! 속을 다 쏟아낼 듯 토했다. - Đến nỗi người đàn bà phải dậy.
그 바람에 여자가 잠에서 깼다. - Thị ngồi nhổm dậy và ngơ ngác nhìn.
그녀는 몸을 일으켜 앉아 멍하니 바라보았다. - Cái óc nặng nề ấy phải lâu mới nhớ ra và lâu mới hiểu.
둔한 그녀의 머리는 한참 지나서야 상황을 기억하고 이해했다.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823




