TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
Truyện ngắn
LÃO HẠC
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
- Lão Hạc thổi cái mồi rơm, châm đó
→ 라오학은 짚으로 만든 부싯깃에 입김을 불어 불을 붙였다. - Tôi đã thông điếu và bỏ thuốc rồ
→ 나는 이미 파이프를 깨끗이 털고 담배를 채워 두었다. - Tôi mời lão hút trướ
→ 나는 먼저 피우시라고 권했다. - Nhưng lão không nghe…
→ 그러나 그는 듣지 않았다… - Ông giáo hút trước đi.
→ “선생님이 먼저 피우십시오.” - Lão đưa đóm cho tô..
→ 그는 타고 있는 불씨를 나에게 건네주었다… - Tôi xin cụ…
→ “그럼, 제가 먼저 하겠습니다…” - Và tôi cầm lấy đóm, vo viên một điế
→ 나는 불씨를 받아 담배를 한 번 고쳐 쥐었다. - Tôi rít một hơi xong, thông điếu rồi mới đặt vào lòng lão.
→ 나는 한 모금 깊이 빨아들인 뒤, 파이프를 털고 나서야 그의 무릎 위에 놓아 드렸다. - Lão bỏ thuốc, nhưng chưa hút vộ
→ 그는 담배를 다시 채웠지만 곧바로 피우지는 않았다. - Lão cầm lấy đóm, gạt tàn, và bảo:
→ 그는 불씨를 들고 재를 털어내며 말했다. - Có lẽ tôi bán con chó đấy, ông giáo ạ!
→ “아마도 저는 그 개를 팔아야 할 것 같습니다, 선생님.” - Lão đặt xe điếu, hút.
→ 그는 파이프를 입에 물고 담배를 피웠다. - Tôi vừa thở khói, vừa gà gà đôi mắt của người say, nhìn lão, nhìn để làm ra vẻ chú ý đến câu nói của lão đó thôi.
→ 나는 연기를 내뿜으며, 술에 취한 사람처럼 눈을 반쯤 감은 채 그를 바라보았다. 다만 그의 말에 관심이 있는 척하기 위해서였을 뿐이다. - Thật ra thì trong lòng tôi rất dửng dư
→ 사실 내 마음은 매우 무덤덤했다. - Tôi nghe câu ấy đã nhàm rồ
→ 나는 그 말을 이미 여러 번 들어서 싫증이 나 있었다. - Tôi lại biết rằng: lão nói là nói để có đấy thôi; chẳng bao giờ lão bán đâu.
→ 나는 또한 알고 있었다. 그는 그저 그렇게 말해 보는 것일 뿐, 결코 그 개를 팔지 않을 것이라는 것을. - Vả lại, có bán thật nữa thì đã sao?
→ 게다가 정말로 판다 한들 무슨 대수란 말인가? - Làm quái gì một con chó mà lão có vẻ băn khoăn quá thế…
→ 고작 개 한 마리 때문에 그토록 고민하는 듯한 그의 태도가 나는 이해되지 않았다… - Lão hút xong, đặt xe điếu cuống, quay ra ngoài, thở khói.
→ 그는 담배를 다 피운 뒤 파이프를 내려놓고 밖을 향해 돌아앉아 연기를 내뿜었다. - Sau một điếu thuốc lào, óc người ta tê dại đi trong một nỗi đê mê nhẹ nhõm.
→ 담배 한 대를 피우고 나면 사람의 머릿속은 가벼운 황홀감 속에서 멍해진다. - Lão Hạc ngồi lặng lẽ, hưởng chút khoái lạc con con ấ
→ 라오학은 조용히 앉아 그 작은 쾌락을 음미하고 있었다. - Tôi cũng ngồi lặng lẽ.
→ 나 또한 말없이 앉아 있었다.
- Tôi nghĩ đến mấy quyển sách quý của tôi.
→ 나는 나의 몇 권 안 되는 소중한 책들을 떠올렸다.
- Hồi bị ốm nặng ở Sài Gòn tôi bán gần hết cả áo quần, nhưng vẫn không chịu bán cho ai một quyể
→ 사이공에서 크게 앓았을 때 나는 옷을 거의 다 팔았지만, 그 책들만은 누구에게도 팔지 않았다. - Ốm dậy, tôi về quê, hành lý chỉ vẻn vẹn có một cái va-ly đựng toàn những sách.
→ 병이 나은 뒤 고향으로 돌아올 때 내 짐은 책만 가득 담긴 작은 여행 가방 하나뿐이었다. - Ôi những quyển sách rất nâng niu!
→ 아, 내가 그토록 아끼던 책들이여! - Tôi đã nguyện giữ chúng suốt đời, để lưu lại cái kỷ niệm một thời chăm chỉ, hăng hái và tin tưởng đầy những say mê đẹp và cao vọng: mỗi lần mở một quyển ra, chưa kịp đọc dòng nào, tôi đã thấy bừng lên trong lòng tôi như một rạng đông, cái hình ảnh tuổi hai mươi trong trẻo, biết yêu và biết ghét…
→ 나는 그 책들을 평생 간직하여, 한때의 근면함과 열정, 그리고 아름다운 열망과 높은 포부로 가득했던 시절의 추억을 남기고자 맹세했었다. 책 한 권을 펼치기만 해도, 한 줄도 읽기 전에 내 마음속에는 마치 새벽빛처럼 맑고 순수하며 사랑할 줄 알고 미워할 줄도 알았던 스무 살의 모습이 환히 떠오르곤 했다… - Nhưng đời người ta không chỉ khổ một lầ
→ 그러나 사람의 삶은 한 번만 고통스러운 것이 아니었다. - Mỗi lần cùng đường đất sinh nhai, và bán hết mọi thứ rồi, tôi lại phải bán đi một ít sách của tôi.
→ 생계가 막다른 길에 이를 때마다, 다른 것을 다 팔고 난 뒤에는 나는 또다시 내 책 몇 권을 팔아야만 했다. - Sau cùng chỉ còn có năm quyển, tôi nhất định, dù có phải chết cũng không chịu bán.
→ 마침내 다섯 권만 남게 되었고, 나는 죽더라도 그것만은 팔지 않겠다고 굳게 다짐했다. - Ấy thế mà tôi cũng bán!
→ 그런데도 나는 결국 그것마저 팔고 말았다! - Mới cách đây có hơn một tháng thôi, đứa con nhỏ của tôi bị chứng lỵ gần kiệt sứ..
→ 불과 한 달여 전, 내 어린아이가 이질에 걸려 거의 기력을 잃을 지경에 이르렀기 때문이다…
- Không! Lão Hạc ơi! Ta có quyền giữ cho ta một tí gì đâu?
→ 아니다! 라오학이여! 우리는 우리 자신을 위해 무엇 하나 지켜 낼 권리조차 없는 것인가?
- Lão quý con chó vàng của lão đã thấm vào đâu với tôi quý năm quyển sách của tôi…
→ 그가 누렁이를 아끼는 마음이, 내가 그 다섯 권의 책을 아끼는 마음에 비하면 무엇이겠는가… - Tôi nghĩ thầm trong bụng thế.
→ 나는 속으로 그렇게 생각했다. - Còn lão Hạc, lão nghĩ gì?
→ 그렇다면 라오학은 무슨 생각을 하고 있었을까? - Đột nhiên lão bảo tôi:
→ 갑자기 그가 나에게 말했다. - – Này! Thằng cháu nhà tôi, đến một năm nay, chẳng có giấy má gì đấy, ông giáo ạ!
→ “이보시오! 우리 집 애가 벌써 일 년째 편지 한 장 없소, 선생님!” - À! Thì ra lão đang nghĩ đến thằng con lão.
→ 아, 그는 아들을 생각하고 있었던 것이다. - Nó đi cao su năm sáu năm rồ
→ 그 아이는 고무 농장으로 떠난 지 벌써 오륙 년이 되었다. - Hồi tôi mới về, nó đã hết một hạn công-ta.
→ 내가 막 돌아왔을 때, 그는 이미 한 차례 계약 기간을 마친 상태였다.
- Lão Hạc, đem thư của nó sang, mượn tôi xem.
→ 라오학은 그의 편지를 들고 와 나에게 읽어 달라고 한 적도 있었다.
- Nhưng nó xin đăng thêm một hạn nữ..
→ 그러나 그는 다시 한 번 계약을 연장하겠다고 했다…
- Lão vội cắt nghĩa cho tôi hiểu tại sao lão đang nói chuyện con chó, lại nhảy vọt sang chuyện thằng con như vậy:
→ 그는 어째서 개 이야기를 하다가 갑자기 아들 이야기로 넘어갔는지 나에게 서둘러 설명했다. - – Con chó là của cháu nó mua đấy chứ!…
→ “그 개는 우리 애가 산 것이오!…”
- – Nó mua về nuôi, định để đến lúc cưới vợ thì giết thị..
→ “장가들 때 잡아먹으려고 사서 기르던 것이었소…” - Ấy! Sự đời lại cứ thường như vậy đấy
→ 아! 세상일이란 늘 그런 법이다.
- Người ta đã định rồi chẳng bao giờ người ta làm được
→ 사람은 계획을 세워도 좀처럼 그대로 이루지 못한다.
- Hai đứa mê nhau lắm
→ 두 사람은 서로 몹시 사랑했다. - Bố mẹ đứa con gái biết vậy, nên cũng bằng lòng gả.
→ 처녀의 부모도 그 사실을 알고 혼인을 허락했다. - Nhưng họ thách nặng quá: nguyên tiền mặt phải một trăm đồng bạc, lại còn cau, còn rượ.. cả cưới nữa thì mất đến cứng hai trăm bạc.
→ 그러나 그들은 신붓값을 지나치게 많이 요구했다. 현금만 해도 백 동이었고, 빈랑과 술값에 혼례 비용까지 합하면 무려 이백 동이나 들 판이었다. - Lão Hạc không lo được
→ 라오학으로서는 그 돈을 마련할 수 없었다.
- Ý thằng con lão, thì nó muốn bán vườn, cố lo cho bằng được
→ 아들의 생각은 밭을 팔아서라도 어떻게든 혼례를 치르고 싶다는 것이었다.
- Nhưng lão không cho bá
→ 그러나 그는 밭을 팔지 못하게 했다. - Ai lại bán vườn đi mà lấy vợ?
→ 어찌 아내를 맞이하려고 밭을 판단 말인가? - Vả lại bán vườn đi, thì cưới vợ về, ở đâu?
→ 게다가 밭을 팔아 버리면 아내를 맞아 어디에서 살 것인가? - Với lại, nói cho cùng nữa, nếu đằng nhà gái họ cứ khăng khăng đòi như vậy, thì dẫu có bán vườn đi cũng không đủ cướ
→ 더구나 신붓집에서 그렇게 고집을 부린다면, 설령 밭을 판다 해도 혼례 비용을 감당하기에는 부족했을 것이다. - Lão Hạc biết vậy đấy, nhưng cũng không dám xẵng
→ 라오학도 그 사실을 알고 있었지만 차마 강하게 나서지는 못했다. - Lão tìm lời lẽ giảng giải cho con trai hiểu
→ 그는 아들을 타일러 이해시키려 애썼다. - Lão khuyên nó hãy dằn lòng bỏ đám này, để rồi gắng lại ít lâu, xem có đám nào khác mà nhẹ tiền hơn sẽ liệu; chẳng lấy đứa này thì lấy đứa khác; làng này đã chết hết con gái đâu mà sợ?…
→ 그는 이번 혼사를 단념하고 조금 더 참고 기다려 보라고 권했다. 돈이 덜 드는 다른 혼처를 찾으면 되지 않겠느냐고, 이 처녀가 아니면 다른 처녀도 있을 것이며, 이 마을에 처녀가 다 없어지기라도 했느냐고 타일렀다. - Lạy trời lạy đất! Nó cũng là thằng khá, nó thấy bố nói thế thì nó thôi ngay, nó không đả động đến việc cưới xin nữ
→ 하늘에 맹세코, 그는 속 깊은 아들이었다. 아버지의 말을 듣고는 곧 체념하며 다시는 혼인 이야기를 꺼내지 않았다. - Nhưng nó có vẻ buồn
→ 그러나 그는 몹시 낙담한 기색이었다.
- Và lão biết nó vẫn theo đuổi con kia mãi.
→ 그리고 라오학은 아들이 여전히 그 처녀를 잊지 못하고 있음을 알고 있었다.
- Lão thương con lắm
→ 그는 아들을 몹시 사랑했다.
- Nhưng biết làm sao được?…
→ 그러나 어찌할 도리가 있었겠는가…
- Tháng mười năm ấy, con kia đi lấy chồng; nó lấy con trai một ông phó lý, nhà có củ
→ 그해 시월, 그 처녀는 결국 시집을 갔다. 그녀는 재산이 있는 부리의 아들과 혼인했다. - Thằng con lão sinh phẫn chí.
→ 그의 아들은 분을 이기지 못했다.
- Ngay mấy hôm sau, nó ra tỉnh đến sở mộ phu, đưa thẻ, ký giấy xin đi làm đồn điền cao su…
→ 며칠 뒤 그는 곧바로 도청이 있는 고을로 가서 모집소에 신분증을 내고 고무 농장으로 일하러 가겠다는 계약서에 서명했다…
- Lão rân rấn nước mắt, bảo tôi:
→ 그는 눈시울을 붉히며 나에게 말했다. - Trước khi đi, nó còn cho tôi ba đồng bạc, ông giáo ạ!
→ “떠나기 전에 그 아이가 나에게 은전 세 동을 주었소, 선생님!” - Chả biết nó gửi thẻ xong, vay trước được mấy đồng, mà đưa về cho tôi ba đồ
→ 신분증을 맡긴 뒤 얼마를 미리 빌렸는지는 모르겠으나, 그 가운데 세 동을 내게 가져다주었소. - Nó đưa cho tôi ba đồng mà bảo:
→ 그 아이는 세 동을 건네며 이렇게 말했소. - “Con biếu thầy ba đồng để thỉnh thoảng thầy ăn quà; xưa nay con ở nhà mãi cũng không nuôi được bữa nào, thì con đi cũng chẳng phải lo; thầy bòn vườn đất với làm thuê làm mướn thêm cho người ta thế nào cũng đủ ăn; con đi chuyến này cố chí làm ăn, bao giờ có bạc trăm con mới về, không có tiền, sống khổ sống sở ở cái làng này, nhục lắm!…”.
→ “이 돈은 아버지께서 가끔 군것질이라도 하시라고 드리는 것입니다. 그동안 집에 있으면서도 한 끼 제대로 봉양하지 못했으니, 제가 떠난다고 해서 너무 걱정하지 마십시오. 아버지께서 밭을 돌보시고 품팔이도 조금 하시면 어떻게든 끼니는 이으실 수 있을 것입니다. 저는 이번에 가서 이를 악물고 돈을 벌어 백 동을 모으기 전에는 돌아오지 않겠습니다. 돈도 없이 이 마을에서 궁하게 사는 것은 너무도 부끄러운 일입니다…” - Tôi chỉ còn biết khóc, chứ còn biết làm sao được nữa?
→ 나는 그저 울 수밖에 없었지, 달리 무엇을 할 수 있었겠는가? - Thẻ của nó, người ta giữ.
→ 그의 신분증은 이미 그들이 보관하고 있었다. - Hình của nó, người ta chụp rồi
→ 그의 사진도 이미 찍혀 있었다. - Nó lại đã lấy tiền của người ta.
→ 그는 또한 그들에게서 돈을 받아 쓴 상태였다. - Nó là người của người ta rồi, chứ đâu còn là con tôi?…
→ 이제 그는 그들의 사람이 되었지, 더 이상 내 아들이 아니지 않겠는가?… - Lão Hạc ơi! Bây giờ thì tôi hiểu tại sao lão không muốn bán con chó vàng của lão.
→ 라오학이여! 이제야 나는 그가 왜 그 누렁이를 팔고 싶어 하지 않았는지 알 것 같다. - Lão chỉ còn một mình nó để làm khuây.
→ 그에게는 외로움을 달랠 존재가 그 개 한 마리뿐이었다. - Vợ lão chết rồ
→ 그의 아내는 이미 세상을 떠났다. - Con lão đi bằn bặ
→ 아들은 소식이 끊긴 채 돌아오지 않았다. - Già rồi mà ngày cũng như đêm, chỉ thui thủi một mình thì ai mà chả phải buồn?
→ 나이 들어 밤낮으로 홀로 지내야 한다면, 어찌 슬프지 않을 수 있겠는가? - Những lúc buồn, có con chó làm bạn thì cũng đỡ buồn một chút.
→ 울적할 때 그 개가 벗이 되어 주면 그나마 조금은 덜 외로웠을 것이다. - Lão gọi nó là cậu Vàng như một bà hiếm hoi gọi đứa con cầu tự.
→ 그는 그 개를 마치 어렵게 얻은 자식을 부르듯 ‘노랑이 도련님’이라 불렀다. - Thỉnh thoảng không có việc gì làm, lão lại bắt rận cho nó hay đem nó ra ao tắ
→ 가끔 일이 없을 때면 그는 그 개의 이를 잡아 주거나 연못으로 데려가 목욕을 시켰다. - Lão cho nó ăn cơm trong một cái bát như một nhà giàu.
→ 그는 마치 부잣집 사람처럼 그 개에게 따로 그릇을 내어 밥을 먹였다. - Lão ăn gì lão cũng chia cho nó cùng ăn.
→ 그가 무엇을 먹든지 늘 그것을 나누어 함께 먹였다. - Những buổi tối, khi lão uống rượu, thì nó ngồi ở dưới chân.
→ 저녁에 그가 술을 마실 때면 그 개는 그의 발치에 앉아 있었다. - Lão cứ nhắm vài miếng lại gắp cho nó một miếng như người ta gắp thức ăn cho con trẻ.
→ 그는 몇 점 집어 먹다가도 어린아이에게 먹이듯 한 점을 집어 그 개에게 건네주곤 했다. - Rồi lão chửi yêu nó, lão nói với nó như nói với một đứa cháu bé về bố nó.
→ 그리고는 사랑스럽게 나무라며, 마치 어린 손자에게 아버지 이야기를 들려주듯 그 개에게 말을 걸었다. - Lão bảo nó thế này:
→ 그는 그 개에게 이렇게 말하곤 했다. - Cậu có nhớ bố cậu không? Hả cậu Vàng?
→ 너는 네 아버지를 기억하느냐? 노랑이야? - Bố cậu lâu lắm không có thư về.
→ 네 아버지는 오랫동안 편지를 보내오지 않았다. - Bố cậu đi có lẽ được đến ba năm rồi đấy
→ 네 아버지가 떠난 지도 아마 삼 년은 되었을 것이다… - Hơn ba năm
→ 삼 년이 넘었지… - Có đến ngót bốn năm…
→ 거의 사 년이 다 되어 간다… - Không biết cuối năm nay bố cậu có về không?
→ 올해 연말에는 돌아올지 모르겠구나. - Nó mà về, nó cưới vợ, thì nó giết cậu
→ 그가 돌아와 장가를 들면, 너를 잡아먹을 것이다. - Liệu hồn cậu đấy!
→ 정신 바짝 차려라! - Con chó vẫn hếch mõm lên nhìn, chẳng lộ một vẻ gì;
→ 개는 여전히 주둥이를 치켜들고 바라볼 뿐 아무 표정도 드러내지 않았다. - lão lừ mắt nhìn trừng trừng vào mắt nó, to tiếng dọa:
→ 그는 눈을 부릅뜨고 그 개를 노려보며 큰소리로 으름장을 놓았다. - Nó giết mày đấy!
→ 그가 너를 죽일 것이다! - Mày có biết không?
→ 알고 있느냐? - Ông cho thì bỏ bố!
→ 내가 허락하면 그만이야! - Con chó tưởng chủ mắng, vẫy đuôi mừng, để lấy lại lòng chủ.
→ 개는 주인이 꾸짖는 줄 알고 꼬리를 흔들며 환심을 사려 했다. - Lão Hạc nạt to hơn nữa:
→ 라오학은 더 크게 호통쳤다. - Mừng à?
→ 기쁘냐? - Vẫy đuôi à?
→ 꼬리를 흔드느냐? - Vẫy đuôi thì cũng giết!
→ 꼬리를 흔들어도 죽일 것이다! - Cho cậu chết!
→ 너를 죽게 할 것이다! - Thấy lão sừng sộ quá, con chó vừa vẫy đuôi, vừa chực lả
→ 그가 몹시 험상궂게 굴자, 개는 꼬리를 흔들면서도 슬그머니 물러서려 했다. - Nhưng lão vội nắm lấy nó, ôm đầu nó, đập nhè nhẹ vào lưng nó và dỗ dành:
→ 그러나 그는 얼른 그것을 붙잡아 머리를 끌어안고 등을 가볍게 두드리며 달랬다. - À không! À không! Không giết cậu Vàng đâu nhỉ!…
→ 아, 아니다! 아니다! 우리 노랑이를 죽이지 않을 게다!… - Cậu Vàng của ông ngoan lắm!
→ 우리 노랑이는 참으로 착하지! - Ông không cho giế..
→ 내가 죽이지 못하게 할 것이다… - Ông để cậu Vàng ông nuôi…
→ 내가 노랑이를 계속 기를 것이다… - Lão buông nó ra để nhấc chén, ghé lên môi uố
→ 그는 그것을 놓고 잔을 들어 입에 대고 마셨다. - Lão ngẩn mặt ra một chút, rồi bỗng nhiên thở dài.
→ 그는 잠시 멍하니 있다가 문득 한숨을 내쉬었다. - Rồi lão lẩm bẩm tính.
→ 그리고는 중얼거리며 계산을 했다. - Đấy là lão tính tiền bòn vườn của con…
→ 그것은 아들의 밭에서 나오는 돈을 따져 보는 것이었다… - Sau khi thằng con đi, lão tự hỏi rằng:
→ 아들이 떠난 뒤 그는 스스로 이렇게 생각했다. - Cái vườn là của con ta.
→ 이 밭은 내 아들의 것이다. - Hồi còn mồ ma mẹ nó, mẹ nó cố thắt lưng buộc bụng, dè sẻn mãi, mới để ra được năm mươi đồng bạc tậ
→ 그의 어머니가 살아 있을 때 허리띠를 졸라매고 아껴서 오십 동을 모아 산 것이었다. - Hồi ấy, mọi thức còn rẻ cả…
→ 그때는 모든 것이 지금보다 훨씬 쌌다… - Của mẹ nó tậu, thì nó hưởng
→ 어머니가 산 것이니 아들이 물려받는 것이 마땅하다. - Lớp trước nó đòi bán, ta không cho bán là ta có ý giữ cho nó, chứ có phải giữ để ta ăn đâu?
→ 전에 그가 팔겠다고 했을 때 내가 막은 것은 그를 위해서였지, 내가 쓰려고 한 것이 아니었다. - Nó không có tiền cưới vợ, phẫn chí bước ra đi, thì đến lúc có tiền để lấy vợ, mới chịu về.
→ 돈이 없어 장가를 들지 못하고 분을 품고 떠났으니, 돈을 모아야만 돌아올 것이다. - Ta bòn vườn của nó, cũng nên để ra cho nó;
→ 내가 그 밭에서 나오는 것을 모아 두는 것도 결국 그를 위한 것이다. - đến lúc nó về, nếu nó không đủ tiền cưới vợ thì ta thêm vào với nó,
→ 그가 돌아왔을 때 혼례 비용이 모자라면 내가 보태 줄 것이고, - nếu nó có đủ tiền cưới vợ, thì ta cho vợ chồng nó để có chút vốn mà làm ăn…
→ 돈이 충분하다면 새살림 밑천으로 내어 줄 것이다… - Lão tự bảo lão như thế, và lão làm đúng như thế.
→ 그는 스스로 그렇게 다짐했고, 실제로도 그대로 했다. - Lão làm thuê kiếm ăn.
→ 그는 품팔이를 하며 생계를 이었다. - Hoa lợi của khu vườn được bao nhiêu, lão để riêng ra.
→ 밭에서 나는 수익은 모두 따로 모아 두었다. - Lão chắc mẩm thế nào đến lúc con lão về, lão cũng có được một trăm đồng bạ..
→ 아들이 돌아올 때쯤이면 백 동쯤은 마련해 둘 수 있으리라 믿었다… - Hôm sau lão Hạc sang nhà tôi.
다음 날 하크 노인이 우리 집에 왔다. - Vừa thấy tôi, lão báo ngay:
나를 보자마자 노인은 곧바로 말했다. - Cậu Vàng đi đời rồi, ông giáo ạ!
- →선생님, 노란이가 죽어 버렸습니다!
- Cụ bán rồi?
- →어르신, 그 개를 파셨습니까?
- Bán rồi? Họ vừa bắt xong.
- →팔았지요. 방금 잡아 갔습니다.
- Lão cố làm ra vẻ vui vẻ.
→ 노인은 애써 태연한 척했다. - Nhưng trông lão cười như mếu và đôi mắt lão ầng ậng nước, tôi muốn ôm choàng lấy lão mà òa lên khóc.
→ 하지만 노인의 웃음은 금방이라도 울 것 같았고 두 눈에는 눈물이 그렁그렁 맺혀 있어, 나는 그를 껴안고 함께 울고 싶었다. - Bây giờ thì tôi không xót năm quyển sách của tôi quá như trước nữ
→ 이제 나는 예전처럼 내 책 다섯 권이 그렇게 아깝지 않았다. - Tôi chỉ ái ngại cho lão Hạ
→ 나는 그저 하크 노인이 안쓰러울 뿐이었다. - Tôi hỏi cho có chuyện:
→ 나는 그저 말을 이어 가려고 물었다. - Thế nó cho bắt à?
→ – 그 개가 순순히 잡히던가요? - Mặt lão đột nhiên co dúm lạ
→ 노인의 얼굴이 갑자기 일그러졌다. - Những vết nhăn xô lại với nhau, ép cho nước mắt chảy ra.
→ 주름이 한데 몰리며 눈물이 흘러내렸다. - Cái đầu lão ngoẹo về một bên và cái miệng móm mém của lão mếu như con ní
→ 노인의 머리는 한쪽으로 기울었고, 이가 빠진 입은 어린아이처럼 울상을 지었다. - Lão hu hu khóc…
→ 노인은 흐느끼며 울었다… - Khốn nạ.. Ông giáo ơi! Nó có biết gì đâu!
→ – 몹쓸 놈들… 선생님! 그 개는 아무것도 몰랐습니다! - Nó thấy tôi gọi về thì chạy ngay về, vẫy đuôi mừ
→ 내가 부르자 곧장 달려와 꼬리를 흔들며 반겼습니다. - Tôi cho nó ăn cơ
→ 나는 그 개에게 밥을 주었습니다. - Nó đang ăn thì thằng Mục nấp trong nhà, ngay đằng sau nó, tóm lấy hai cẳng sau nó dốc ngược nó lên.
→ 그 개가 밥을 먹고 있을 때, 묵이라는 놈이 집 안에 숨어 있다가 뒤에서 두 뒷다리를 붙잡아 거꾸로 들어 올렸습니다. - Cứ thế là thằng Mục với thằng Xiên, hai thằng chúng nó chỉ loay hoay một lúc đã trói chặt cả bốn chân nó lạ
→ 그렇게 해서 묵과 시엔 두 놈이 잠시 실랑이를 벌이더니 네 다리를 꽁꽁 묶어 버렸습니다. - Bấy giờ cu cậu mới biết là cu cậu chết!
→ 그제야 그 녀석은 자기가 죽는다는 것을 알아차렸습니다! - Này! Ông giáo ạ! Cái giống nó cũng khôn!
→ 선생님! 그 짐승도 참으로 영리합니다! - Nó cứ làm in như nó trách tôi; nó kêu ư ử, nhìn tôi như muốn bảo tôi rằng:
→ 마치 나를 원망하는 것처럼 낑낑거리며 나를 바라보았습니다. 마치 이렇게 말하는 듯했습니다. - “A! Lão già tệ lắm! Tôi ăn ở với lão như thế mà lão xử với tôi như thế này?”
→ “아! 이 못된 늙은이! 내가 그렇게 따랐는데 나를 이렇게 대하다니요?” - Thì ra tôi già bằng này tuổi đầu rồi còn đánh lừa một con chó, nó không ngờ tôi nỡ tâm lừa nó!
→ 이 나이 먹도록 나는 개 한 마리까지 속였으니, 그 녀석은 내가 차마 자기를 속일 줄은 꿈에도 몰랐을 것입니다. - Tôi an ủi lão:
→ 나는 노인을 위로했다. - Cụ cứ tưởng thế đấy chứ nó chả hiểu đâu!
→ – 어르신은 그렇게 생각하시겠지만, 그 개는 아무것도 모릅니다!
Vả lại ai nuôi chó mà chả bán hay giết thịt?
→ 게다가 개를 키우는 사람치고 팔거나 잡지 않는 사람이 어디 있습니까? - Ta giết nó chính là hóa kiếp cho nó đấy, hóa kiếp để cho nó làm kiếp khác.
→ 우리가 그 개를 죽이는 것은 오히려 환생하게 해 주는 것이지요, 다음 생을 살게 해 주는 것입니다. - Lão chua chát bảo:
→ 노인은 씁쓸하게 말했다. - Ông giáo nói phải!
→ – 선생님 말씀이 맞습니다! - Kiếp con chó là kiếp khổ thì ta hóa kiếp cho nó để nó làm kiếp người, may ra có sung sướng hơn một chút…
→ 개로 사는 삶이 고된 것이라면, 환생시켜 사람으로 태어나게 해 주어야지요. 그러면 혹시라도 조금은 더 행복할지도 모르지요… - kiếp người như kiếp tôi chẳng hạn!…
→ 예를 들어 나 같은 인생 말입니다!… - Tôi bùi ngùi nhìn lão bảo:
→ 나는 착잡한 마음으로 노인을 바라보며 말했다. - Kiếp ai cũng thế thôi, cụ ạ!
→ – 누구의 인생인들 다 그렇지 않겠습니까, 어르신! - Cụ tưởng tôi sung sướng hơn chăng?
→ 제가 더 행복하다고 생각하십니까? - Thế thì không biết nếu kiếp người cũng khổ nốt thì ta nên làm gì cho thật sướng?
→ – 그렇다면 사람으로 사는 것도 고통이라면, 우리는 어떻게 해야 정말 행복해질 수 있겠습니까? - Lão cười và ho sòng sọ
→ 노인은 웃다가 심하게 기침을 했다. - Tôi nắm lấy cái vai gầy của lão, ôn tồn bảo:
→ 나는 노인의 마른 어깨를 잡고 부드럽게 말했다. - Chẳng kiếp gì sung sướng thật, nhưng có cái này là sung sướng:
→ – 어떤 삶도 완전히 행복할 수는 없지만, 이런 즐거움은 있습니다. - Bây giờ cụ ngồi xuống phản này chơi, tôi đi luộc mấy củ khoai lang, nấu một ấm nước chè tươi thật đặc;
→ 지금 여기 평상에 앉아 계세요. 저는 고구마 몇 개를 삶고 진하게 녹차 한 주전자를 끓이겠습니다. - ông con mình ăn khoai, uống nước chè, rồi hút thuốc lào…
→ 우리 둘이 고구마를 먹고 차를 마시며 물담배도 피우면… - Thế là sướ
→ 그것이 바로 즐거움이지요. - Vâng! Ông giáo dạy phải!
→ – 네! 선생님 말씀이 옳습니다! - Đối với chúng mình thì thế là sung sướng
→ 우리 같은 사람들에게는 그것이 행복입니다. - Lão nói xong lại cười đưa đà.
→ 노인은 말을 마치고 또 억지웃음을 지었다. - Tiếng cười gượng nhưng nghe đã hiền hậu lạ
→ 그 웃음은 어색했지만 한결 온화하게 들렸다. - Tôi vui vẻ bảo:
→ 나는 밝게 말했다. - Thế là được, chứ gì?
→ – 그러면 된 것 아닙니까? - Vậy cụ ngồi xuống đây, tôi đi luộc khoai, nấu nướng
→ 그러니 여기 앉아 계세요. 저는 고구마를 삶고 물을 끓이겠습니다. - Nói đùa thế, chứ ông giáo cho để khi khác?…
→ – 농담이었습니다만, 다음에 하시면 안 되겠습니까? - Việc gì còn phải chờ khi khác?…
→ – 왜 다음으로 미뤄야 합니까? - Không bao giờ nên hoãn sự sung sướng lạ
→ 즐거움은 절대 미루어서는 안 됩니다. - Cụ cứ ngồi xuống đây! Tôi làm nhanh lắm
→ 여기 앉아 계세요! 금방 하겠습니다… - Đã biết, nhưng tôi còn muốn nhờ ông một việc
→ – 알고 있습니다만, 한 가지 부탁이 더 있습니다… - Mặt lão nghiêm trang lạ..
→ 노인의 얼굴이 다시 엄숙해졌다… - Việc gì thế, cụ?
→ – 무슨 일입니까, 어르신? - Ông giáo để tôi nói… Nó hơi dài dòng một tí.
→ – 말씀드리겠습니다… 조금 길어질지도 모릅니다. - Vâng, cụ nói.
→ – 네, 말씀하십시오. - Nó thế này, ông giáo ạ!
→ – 이렇습니다, 선생님! - Và lão kể.
→ 그리고 노인은 이야기를 시작했다. - Lão kể nhỏ nhẹ và dài dòng thật
→ 노인은 조용하고 길게 이야기했다. - Nhưng đại khái có thể rút vào hai việc
→ 그러나 요지는 두 가지였다. - Việc thứ nhất: Lão thì già, con đi vắng
→ 첫째, 노인은 늙었고 아들은 집을 떠나 있으며… - … để thế để tôi trông coi cho nó…
→ … 그렇게 하여 내가 대신 관리해 주기를 바란다는 것이었다. - Việc thứ hai: Lão già yếu lắm rồi, không biết sống chết lúc nào…
→ 둘째, 노인은 몹시 늙고 약해 언제 죽을지 모르니… - … còn bao nhiêu đành nhờ hàng xóm cả…
→ … 나머지는 이웃들에게 부탁할 수밖에 없다는 것이었다. - Tôi bật cười bảo lão:
→ 나는 웃으며 말했다. - Sao cụ lo xa quá thế?
→ – 왜 그렇게까지 미리 걱정하십니까? - Cụ còn khỏe lắm, chưa chết đâu mà sợ!
→ 아직 건강하신데 죽을 걱정을 하실 필요가 없습니다! - Cụ cứ để tiền ấy mà ăn, lúc chết hãy hay!
→ 그 돈으로 생활하시고, 죽을 때를 생각해도 늦지 않습니다! - Tội gì bây giờ nhịn đói mà tiền để lại?
→ 왜 지금 굶으면서까지 돈을 남기려 하십니까? - Không, ông giáo ạ!…
→ – 아닙니다, 선생님! … - Ông giáo có nghĩ cái tình tôi già nua tuổi tác mà thương thì ông giáo cứ cho tôi gử
→ 제 늙은 사정을 생각해 주신다면, 부디 제 돈을 맡아 주십시오. - Thấy lão nằn nì mãi, tôi đành nhận vậ
→ 노인이 계속 간청하자 나는 마침내 받아들였다. - Lúc lão ra về, tôi còn hỏi:
→ 노인이 돌아갈 때 나는 다시 물었다. - Có đồng nào, cụ nhặt nhạnh đưa cho tôi cả thì cụ lấy gì mà ăn?
→ – 가진 돈을 모두 저에게 맡기시면 무엇으로 생활하시겠습니까? - Lão cười nhạt bảo:
→ 노인은 씁쓸하게 웃으며 말했다. - Được ạ! Tôi đã liệu đâu vào đấ.. Thế nào rồi cũng xong.
→ – 괜찮습니다. 다 생각해 두었습니다… 어떻게든 될 것입니다. - Luôn mấy hôm, tôi thấy lão Hạc chỉ ăn khoai.
→ 며칠 동안 나는 노인이 고구마만 먹는 것을 보았다. - Rồi thì khoai cũng hết
→ 그러다가 고구마도 떨어졌다. - Bắt đầu từ đấy, lão chế tạo được món gì, ăn món ấ
→ 그때부터 노인은 구할 수 있는 것은 무엇이든 먹었다. - Hôm thì lão ăn củ chuối, hôm thì lão ăn sung luộ..
→ 어떤 날은 바나나 줄기를, 어떤 날은 삶은 무화과를 먹었고… - Tôi nói chuyện lão với vợ tôi.
→ 나는 그 이야기를 아내에게 했다. - Thị gạt phắt đi:
→ 아내는 단호하게 말했다. - Cho lão chết!…
→ – 그냥 죽게 두세요!… - Nhà mình sung sướng gì mà giúp lão? Chính con mình cũng đói…
→ 우리도 넉넉하지 않은데 왜 도와야 합니까? 우리 아이도 배고픈데… - Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta…
→ 아! 우리 주변 사람들을 이해하려 애쓰지 않으면… - … không bao giờ ta thươ..
→ … 우리는 결코 그들을 불쌍히 여기지 못한다. - Vợ tôi không ác, nhưng thị khổ quá rồi
→ 아내가 악한 것은 아니다. 다만 너무 고달플 뿐이다. - Khi người ta khổ quá thì người ta chẳng còn nghĩ gì đến ai được nữ
→ 사람이 너무 힘들면 남을 생각할 여유가 없다. - Tôi biết vậy, nên tôi chỉ buồn chứ không nỡ giậ
→ 나는 그것을 알기에 화내지 않고 슬퍼할 뿐이었다. - Tôi giấu giếm vợ tôi, thỉnh thoảng giúp ngấm ngầm lão Hạ
→ 나는 아내 몰래 가끔 노인을 도왔다. - Nhưng hình như lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lã
→ 그러나 노인도 아내가 자신을 달가워하지 않는다는 것을 아는 듯했다. - Lão từ chối tất cả những cái gì tôi cho lão.
→ 노인은 내가 주는 것을 모두 거절했다. - Và lão cứ xa tôi dần dần
→ 그리고 점점 나와 멀어졌다… - Một hôm, tôi phàn nàn về việc ấy với binh Tư.
→ 어느 날 나는 그 일을 빈뜨에게 하소연했다. - Binh Tư là một người láng giềng khác của tôi…
→ 빈뜨는 또 다른 이웃이었다… - Lão vừa xin tôi một ít bả chó…
→ – 노인이 나에게 개 독약을 조금 달라고 했소… - Hắn thì thầm:
→ 그는 속삭였다. - Lão định cho nó xơi một bữ Nếu trúng, lão với tôi uống rượu.
→ – 그 개를 죽이려는 모양이오. 성공하면 나와 술을 마시자고 했소. - Hỡi ơi lão Hạc!
→ 아, 하크 노인이여! - Cuộc đời quả thật cứ một ngày một thêm đáng buồn
→ 인생은 참으로 날이 갈수록 더 슬퍼지는 것만 같다…
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823







