TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ – Truyện ngắn DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ

TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW

SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ 

Truyện ngắn

DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Hà Ngọc Bích Cầm – CSTT Kanata NKKN

CHƯƠNG 1

1

  1. Tôi sống độc lập từ thủa bé.

나는 어려서부터 홀로 살아왔다.

  1. Ấy là tục lệ lâu đời trong họ nhà dế chúng tôi.

이는 우리 집안 메뚜기들 사이에 오래전부터 내려오던 관습이었다.

  1. Vả lại, mẹ thường bảo chúng tôi rằng: “Phải như thế để các con biết kiếm ăn một mình cho quen đi. Con cái mà cứ nhong nhong ăn bám vào bố mẹ thì chỉ sinh ra tính ỷ lại, xấu lắm, rồi ra đời không làm nên trò trống gì đâu”.

게다가 어머니께서는 늘 우리에게 이렇게 말씀하셨다.

‘그래야 너희가 스스로 먹이를 구하는 법을 익히게 된다. 자식이 늘 부모에게 매달려 빈둥거리며 얹혀살기만 하면 의지하는 버릇만 생길 뿐이다. 그것은 몹시 좋지 않은 일이어서, 세상에 나가서도 아무 일도 제대로 해내지 못하게 되는 것이다.’

  1. Bởi thế, lứa sinh nào cũng vậy, đẻ xong là bố mẹ thu xếp cho con cái ra ở riêng.

그러므로 어느 세대이든 마찬가지였다. 새끼를 낳고 나면 부모는 이내 살림을 정리하여 자식들을 따로 나가 살게 하였다.

  1. Lứa sinh ấy, chúng tôi có cả thảy ba anh em.

그 세대에 태어난 우리는 모두 셋이었다.

  1. Ba anh em chúng tôi chỉ ở với mẹ ba hôm.

우리 삼 형제는 어머니와 단 사흘을 함께 지냈을 뿐이었다.

 

  1. Tới hôm thứ ba, mẹ đi trước, ba đứa tôi tấp tểnh, khấp khởi, nửa lo nửa vui theo sau.

사흘째 되던 날, 어머니가 앞서 가셨다. 우리 셋은 뒤에서 종종걸음을 치며, 설레는 마음과 두려운 마음이 뒤섞인 채, 반은 걱정스럽고 반은 기쁜 기색으로 따라 나섰다.

  1. Mẹ dẫn chúng tôi đi và mẹ đem đặt mỗi đứa vào một cái hang đất ở bờ ruộng phía bên kia, chỗ trông ra đầm nước mà không biết mẹ đã chịu khó đào bới, be đắp tinh tươm thành hang, thành nhà cho chúng tôi từ bao giờ.

어머니는 우리를 데리고 가시더니, 논둑 건너편 물웅덩이를 바라보는 곳에 마련된 흙구멍에 우리를 하나씩 들여보내셨다. 그 굴이 언제부터 그 자리에 있었는지, 어머니께서 또 언제 그토록 수고로이 파고 다듬어 반듯한 집으로 마련해 두셨는지 우리는 알지 못하였다.

  1. Tôi là em út, bé nhất nên được mẹ tôi sau khi dắt vào hang, lại bỏ theo một ít ngọn cỏ non trước cửa, để tôi nếu có bỡ ngỡ, thì đã có ít thức ăn sẵn trong vài ngày.

나는 막내요, 가장 어린 탓에 어머니께서는 나를 굴 속에 들여보내신 뒤에도 문 앞에 어린 풀잎을 조금 놓아 두셨다. 혹여 내가 낯설어 어찌할 바를 모를까 염려하시어, 며칠은 굶지 않도록 먹을 것을 미리 마련해 주신 것이었다.

  1. Rồi mẹ tôi trở về.

그리고 어머니는 다시 돌아가셨다.

  1. Tôi cũng không buồn.

나 슬퍼하지 않았다.

  1. Trái lại, còn thấy làm khoan khoái vì được ở một mình nơi thoáng đãng, mát mẻ.

오히려 탁 트이고 시원한 그곳에서 혼자 지내게 되었다는 사실이 내 마음을 한결 가볍고 상쾌하게 하였던 것이다.

 

  1. Tôi vừa thầm cảm ơn mẹ, vừa sạo sục thăm tất cả các hang mẹ đưa đến ở.

나는 속으로 어머니께 감사드리면서도, 어머니가 데려다주신 이 굴을 이리저리 샅샅이 더듬으며 살펴보았다.

  1. Khi đã xem xét cẩn thận rồi, tôi ra đứng ở ngoài cửa và ngửng mặt lên trời.

구석구석을 다 살펴본 뒤, 나는 굴 밖으로 나와 문 앞에 서서 고개를 들어 하늘을 우러러보았다.

  1. Qua những ngọn cỏ ấu nhọn và sắc, tôi thấy màu trời trong xanh.

뾰족하고 날카로운 풀잎 사이로, 나는 맑고 푸른 하늘빛을 보았다.

  1. Tôi dọn giọng, vỗ đôi cánh nhỏ tới nách, rồi cao hứng gáy lên mấy tiếng rõ to.

나는 목을 가다듬고, 겨드랑이까지 닿는 작은 날개를 툭툭 두어 번 쳐 보았다. 그러고는 흥이 치밀어 올라 또렷하고 크게 몇 차례 울어 대었다.

  1. Từ đây, tôi bắt đầu vào cuộc đời của tôi.

이로써 나는 비로소 나 자신의 삶 속으로 발을 들여놓게 되었다.

  1. Cho dù tôi sẽ sung sướng hay khổ sở, cái đó tùy ở tính tình tôi khôn ngoan hay đần độn.

내가 앞으로 행복할지 혹은 고달플지는, 그것이 모두 내 성품이 영리한지 아니면 어리석은지에 달려 있는 일이었다.

  1. Song tôi chưa cần biết đến thế, tính đến thế.

그러나 나는 아직 그토록 멀리까지는 생각해 볼 필요가 없었다.

  1. Mà hãy lấy sự được ung dung độc lập một mình là điều thích lắm rồi…

오히려 홀로 느긋하고도 자유롭게 지낼 수 있다는 것만으로도 나는 이미 무척이나 만족스러웠다.

  1. Ngày nào cũng vậy, suốt buổi, tôi chui vào trong cùng hang, hì hục đào đất để khoét một cái ổ lớn, làm thành cái giường ngủ sang trọng.

날마다 다름없이, 나는 온종일 굴 깊숙이 기어들어가 땀을 뻘뻘 흘리며 흙을 파내어 넓은 보금자리를 팠다. 그것을 제법 그럴듯한 잠자리로 꾸미려는 것이었다.

  1. Rồi cũng biết lo xa như các cụ già trong họ dế, tôi đào hang sâu sang hai ngả làm những con đường tắt, những cửa sau, những ngách thượng, phòng khi gặp nguy hiểm, có thể thoát thân ra lối khác được.

그리고는 우리 메뚜기 집안의 어른들처럼 먼 앞날까지 헤아릴 줄도 알게 되어, 나는 굴을 더 깊이 파서 두 갈래로 뻗게 하였다. 그렇게 하여 지름길도 만들고, 뒷문도 내고, 위로 통하는 작은 통로도 마련해 두었다. 혹시라도 위험을 만나게 되면 다른 길로 빠져나와 몸을 피할 수 있도록 하기 위함이었다.

  1. Chập tối, tôi tạm nghỉ tay và ra đứng ngoài cửa, họp cùng anh chị em hàng xóm quanh bờ ruộng, vừa gảy đàn vừa hát một bài hát hoàng hôn chào tạm biệt ông mặt trời.

해질 무렵이 되면 나는 일을 잠시 멈추고 굴 밖으로 나와, 논둑 둘레에 사는 이웃 형제자매들과 함께 어울렸다. 그러고는 날개를 튕겨 거문고 삼아 연주하며, 저무는 해를 배웅하는 황혼의 노래를 한 곡 불러 올리곤 하였다.

  1. Khi đêm đã xuống hẳn, cả xóm chúng tôi, các bô lão dế lụ khụ già cốc đế cũng bỗng nhiên vui tính, ai nấy ra khỏi hang, đến tụ hội thật đông tận giữa bãi trong đêm tối mát lạnh, cùng uống sương đọng, ăn cỏ ướt và những gã tài hoa thì gảy đàn thổi sáo, cùng nhau ca hát, nhảy múa linh đình đến tận sáng bạch, lúc ông mặt trời quen thuộc lại nghiêm trang ló lên đằng đông mới tan cuộc ai về nhà nấy.

밤이 완전히 내려앉으면 우리 온 동네가 들썩이곤 하였다. 허리가 굽고 기침을 콜록이던 늙은 어른들까지도 문득 흥이 나서, 저마다 굴을 나와 서늘한 밤공기 속 넓은 풀밭 한가운데로 모여들었다. 그곳에서 우리는 맺힌 이슬을 마시고 젖은 풀을 뜯어 먹으며, 재주 많은 이들은 날개를 튕기고 피리를 불어 흥을 돋우었다. 그러면 모두가 어울려 노래하고 춤추며 밤새도록 흥청거리다가, 마침내 새벽이 밝아 우리가 익히 아는 태양이 동쪽 하늘에 엄숙히 얼굴을 내밀 때가 되어서야 흩어져 각자 제 집으로 돌아가곤 하였던 것이다.

  1. Ngày nào, đêm nào, sớm và chiều nào cũng ngần ấy thứ việc, thứ chơi.

날마다, 밤마다, 아침저녁으로 늘 그만한 일과 그만한 놀이가 되풀이되었다.

  1. Kể đời mà được như thế cũng khá an nhàn, nhưng mới đầu còn thấy hay hay, về sau cũng nhàm dần.

이렇듯 살아간다면 제법 한가롭다 할 만하였으나, 처음에는 제법 재미있게 느껴지던 것도 차츰 싫증이 나기 시작하였던 것이다.

  1. Bởi tôi ăn uống điều độ và làm việc có chừng mực nên tôi chóng lớn lắm.

나는 먹고 마시는 일을 절도 있게 하고, 일 또한 분수에 맞게 하였으므로 몸이 매우 빨리 자라났다.

  1. Chẳng bao lâu tôi đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng.

얼마 지나지 않아 나는 어느덧 기골이 장대한 젊은 메뚜기로 자라나 있었던 것이다.

  1. Ðôi càng tôi mẫm bóng.

내 집게는 살이 오르고 윤기가 자르르 흘렀다.

  1. Những cái vuốt ở chân, ở khoeo cứ cứng dần và nhọn hoắt.

다리와 마디마다 돋은 발톱은 차츰 단단해지며 더욱 뾰족해졌다.

  1. Thỉnh thoảng, muốn thử sự lợi hại của những chiếc vuốt, tôi co cẳng lên, đạp phanh phách vào các ngọn cỏ.

이따금 그 발톱의 위력을 시험해 보고 싶어지면, 나는 다리를 움츠렸다가 힘껏 뻗어 풀잎을 팡팡 걷어차 보곤 하였다.

  1. Những ngọn cỏ gãy rạp, y như có nhát dao vừa lia qua.

내가 걷어찬 풀잎들은 마치 날 선 칼이 한 번 스쳐 지나간 듯, 힘없이 쓰러져 나자빠졌다.

  1. Ðôi cánh tôi, trước kia ngắn hủn hoẳn bây giờ thành cái áo dài kín xuống tận chấm đuôi.

예전에는 몹시 짧기만 하던 내 날개가 이제는 꼬리 끝까지 덮는 긴 옷자락처럼 자라 있었다.

  1. Mỗi khi tôi vũ lên, đã nghe tiếng phành phạch giòn giã.

내가 그것을 한 번 퍼덕일 때마다, 귀에 시원하게 울리는 ‘파드득’ 소리가 경쾌하게 터져 나왔다.

  1. Lúc tôi đi bách bộ thì cả người tôi rung rinh một màu nâu bóng mỡ soi gương được và rất ưa nhìn.

내가 거닐기라도 하면 온몸이 기름기 어린 갈색으로 반질반질 빛나, 거울에 비추어도 좋을 만큼 제법 볼 만하였다.

  1. Hai cái răng đen nhánh lúc nào cũng nhai ngoàm ngoạp như hai lưỡi liềm máy làm việc.

검디검은 두 이빨은 언제나 쉼 없이 우걱우걱 씹어 대니, 마치 일하는 기계의 두 낫날과도 같았다.

  1. Sợi râu tôi dài và uốn cong một vẻ rất đỗi hùng dũng.

내 더듬이는 길게 뻗어 우아하게 휘어 있었는데, 그 모습이 사뭇 늠름하였다.

  1. Tôi lấy làm hãnh diện với bà con vì cặp râu ấy lắm.

나는 그 한 쌍의 더듬이를 두고 이웃들 앞에서 몹시도 자랑스럽게 여겼다.

 

  1. Cứ chốc chốc tôi lại trịnh trọng và khoan thai đưa cả hai chân lên vuốt râu.

그래서 이따금 나는 일부러 점잖고 느긋한 태를 지으며, 두 다리를 들어 올려 더듬이를 쓸어내리곤 하였다.

  1. Tôi đi đứng oai vệ.

나는 걸음걸이부터가 위풍당당하였다.

  1. Mỗi bước đi, tôi làm điệu dún dẩy cá khoeo chân, rung lên rung xuống hai chiếc râu.

한 걸음 내디딜 때마다 나는 일부러 다리 마디를 으쓱거리며 흔들고, 두 더듬이를 위아래로 흔들어 대었다.

  1. Cho ra kiểu cách con nhà võ.

마치 무가의 자식인 양 그럴듯한 체를 내기 위함이었다.

  1. Tôi tợn lắm.

나는 몹시도 사나웠다.

  1. Dám cà khịa với tất cả mọi bà con trong xóm.

동네의 이웃 누구에게나 서슴없이 시비를 걸었다.

  1. Khi tôi to tiếng thì ai cũng nhịn, không ai đáp lại.

내가 목소리를 높이면 모두들 참고 물러설 뿐, 감히 맞서 대꾸하는 이는 없었다.

  1. Bởi vì quanh quẩn ai cũng quen mình cả.

이 근처에서는 누구나 나를 잘 알고 있었기 때문이었다.

  1. Không nói, có lẽ họ nể hơn là sợ.

말은 하지 않았으나, 아마도 그들은 두려워서라기보다 체면상 나를 봐주었을지도 모른다.

  1. Nhưng tôi lại tưởng thế là không ai dám ho he.

그러나 나는 그것을 아무도 감히 찍소리 못 하는 것으로 여겼다.

  1. Ấy vậy, tôi cho tôi giỏi.

그래서 스스로를 대단한 존재인 양 여기게 되었던 것이다.

  1. Những gã xốc nổi thường làm cử chỉ ngông cuồng là tài cao.

원래 경솔한 자들이란 제 분수를 넘는 허세를 재주 높은 능력으로 착각하기 마련이었다.

  1. Tôi quát mấy chị Cào Cào ngụ ngoài đầu bờ khiến mỗi lần thấy tôi đi qua, các chị phải núp khuôn mặt trái xoan dưới nhánh cỏ, chỉ dám đưa mắt lên nhìn trộm.

나는 논둑 끝에 사는 사마귀 아가씨들에게 고함을 질러 대곤 하였으니, 내가 지나가기만 하면 그들은 타원형 얼굴을 풀잎 아래로 숨기고는 감히 눈만 슬며시 들어 나를 훔쳐볼 뿐이었다.

  1. Thỉnh thoảng, tôi ngứa chân đá một cái, ghẹo anh Gọng Vó lấm láp vừa ngơ ngác dưới đầm lên.

또 이따금은 발이 근질거리면, 진흙투성이가 된 채 연못에서 막 올라와 어리둥절해 있는 장다리 형을 발로 툭 차며 놀려 대기도 하였다.

  1. Tôi càng tưởng tôi là tay ghê gớm, có thể sắp đứng đầu thiên hạ rồi.

그럴수록 나는 스스로가 무시무시한 인물이라 여겨, 머지않아 세상 으뜸이라도 될 듯이 착각하였다.

  1. Chao ôi, có biết đâu rằng: hung hăng hống hách láo chỉ tôi đem thân mà trả nợ những cử chỉ ngu dại của mình thôi.

아, 그러나 어찌 알았으랴. 그 사나운 기세와 오만하고 무례한 태도가, 끝내는 내 몸으로 갚아야 할 어리석은 빚이 되고 말 줄을.

  1. Tôi đã phải trải cảnh như thế.

나는 마침내 그러한 일을 겪고야 말았다.

  1. Thoát nạn rồi mà còn ân hận quá, ân hận mãi.

목숨을 건진 뒤에도 후회가 사무쳐, 두고두고 뉘우치지 않을 수 없었다.

  1. Thế mới biết, nếu đã trót không suy tính, lỡ xảy ra những việc dại dột, dù về sau có hối cũng không thể làm lại được.

이로써 깨달았다. 이미 깊이 헤아리지 못한 채 경솔한 짓을 저질러 버리면, 뒤늦게 아무리 뉘우친다 한들 다시는 돌이킬 수 없다는 것을.

  1. Câu chuyện ân hận đầu tiên mà tôi ghi nhớ suốt đời.

그것이 내가 평생 잊지 못할 첫 번째 후회의 이야기였다.

  1. Bên hàng xóm tôi có cái hang của Dế Choắt.

우리 집 옆에는 데초앗이라 불리는 녀석의 굴이 하나 있었다.

  1. Dế Choắt là tên tôi đặt cho nó một cách chế diễu và trịch thượng thế.

데초앗이라는 이름은 내가 그를 비웃고 업신여기는 뜻으로 멋대로 붙여 준 것이었다.

  1. Choắt nọ cũng chắc trạc tuổi tôi.

그 데초앗이라는 녀석도 나와 나이가 엇비슷했을 것이다.

  1. Nhưng vì Choắt bẩm sinh yếu đuối nên tôi coi thường và gã cũng sợ tôi lắm.

그러나 타고나기를 허약한 탓에 나는 그를 업신여겼고, 그는 또 나를 몹시 두려워하였다.

  1. Cái chàng Dế Choắt, người gày gò và dài lêu nghêu như một gã nghiện thuốc phiện.

그 데초앗이라는 녀석은 몸이 몹시 여위고 키만 멀쑥하게 커서, 마치 아편에 절은 사람처럼 핼쑥해 보였다.

  1. Ðã thanh niên rồi mà cánh chỉ ngắn ngủn đến giữa lưng, hở cả hai mạng sườn như người cởi trần mặc áo gi-lê.

이미 청년이 되었건만 날개는 겨우 등 한가운데까지밖에 닿지 않아, 두 옆구리가 훤히 드러난 것이 마치 윗도리를 벗고 조끼만 걸친 사람 같았다.

  1. Ðôi càng bè bè, nặng nề trông đến xấu.

집게는 납작하고 둔중하여 보기에조차 흉하였다.

  1. Râu ria gì mà cụt có một mẩu, mà mặt mũi lúc nào cũng ngẩn ngẩn ngơ ngơ.

더듬이란 것도 겨우 토막 하나만 남은 듯 짧았고, 얼굴빛은 언제나 멍하고 얼빠진 듯하였다.

  1. Ðã vậy tính nết lại ăn sổi ở thì (thật chỉ vì ốm đau luôn luôn không làm được) một cái hang ở cũng chỉ bới nông sát mặt đất, không biết đào sâu rồi khoét ra nhiều ngách như hang tôi.

게다가 성미마저 즉흥적이고 아무렇게나 살아가는 듯하였다(사실은 늘 병치레를 하여 제대로 일을 하지 못한 탓이었지만). 사는 굴이라야 땅 표면 가까이를 얕게 긁어 놓았을 뿐, 내 굴처럼 깊이 파고 여러 갈래의 통로를 뚫어 두지도 못하였다.

  1. Một hôm tôi sang chơi, thấy trong nhà luộm thuộm, bề bộn, tôi bảo:

– Sao chú mày sinh sống cẩu thả quá như thế!

어느 날 내가 그를 찾아가 보니, 굴 안은 너저분하고 어수선하기 짝이 없었다. 나는 곧 그에게 말하였다.

– 어찌하여 그렇게도 생활을 함부로 한단 말이냐!

  1. Nhà cửa đâu mà tuềnh toàng.

이게 집이라고 할 수 있겠느냐. 어찌 이리도 너절하고 흉하단 말이냐.

 

  1. Ngộ có kẻ nào đến phá thì thật chú chết ngay đuôi!

혹여 누가 와서 들이치기라도 하면, 너는 꼼짝없이 목숨을 잃고 말 것이다!

  1. Này thử xem: khi chú chui vào tổ lưng chú phải lồm cồm đụng sát lên tận mặt đất, làm cho ai trên về cỏ nhìn sang cũng biết chú đương đi đứng chỗ nào trong tổ.

어디 한번 보아라. 네가 굴 속으로 기어들어갈 때면, 등이 땅바닥에 바짝 닿도록 엎드리다시피 해야 하니, 풀 위에 있는 누구라도 들여다보면 네가 굴 안 어디쯤 있는지 훤히 알 수 있지 않느냐.

  1. Phỏng thử có thằng chim Cắt nó nhòm thấy, nó tưởng mồi, nó mổ một phát, nhất định trúng giữa lưng chú, thì chú có mà đi đời!

만일 매 한 마리가 그것을 내려다보다가 먹잇감인 줄로 알고 홱 쪼아 버린다면, 단번에 네 등 한가운데를 맞힐 터이니, 그때는 그야말로 끝장이 아니겠느냐!

  1. Ôi thôi, chú mày ơi!

아이고, 이 녀석아!

  1. Chú mày có lớn mà chẳng có khôn.

덩치는 다 자랐으면서도 생각은 어찌 그리 모자라단 말이냐.

  1. Ngẫm ra thì tôi chỉ nói lấy sướng miệng thôi.

돌이켜 생각해 보면, 나는 그저 입이 시원하자고 떠들어 댄 것에 지나지 않았다.

  1. Còn Dế Choắt than thở thế nào, tôi cũng không để tai.

데초앗이 무슨 하소연을 하든, 나는 귀 기울여 들으려 하지도 않았다.

 

 

  1. Hồi ấy tôi có tính tự đắc, cứ miệng mình nói tai mình nghe chứ không biết nghe ai, thậm chí cũng chẳng để ý có ai nghe mình không.

그때의 나는 몹시도 자만에 차 있어, 제 입으로 한 말을 제 귀로만 들을 뿐 남의 말에는 아예 귀를 닫고 있었으며, 심지어 누가 내 말을 듣고 있는지조차 마음에 두지 않았다.

  1. Dế Choắt trả lời tôi bằng một giọng rất buồn rầu:

– Thưa anh, em cũng muốn khôn, nhưng không không được, đụng đến việc là em thở rồi, không còn hơi sức đâu mà đào bới nữa.

데초앗은 몹시도 슬픈 목소리로 내게 대답하였다.

– 형님, 저도 슬기롭게 살고 싶습니다만, 뜻대로 되질 않습니다. 무슨 일만 하려 하면 숨이 차 올라, 더는 힘이 남지 않아 파낼 엄두조차 나지 않습니다.

  1. Lắm khi em cũng nghĩ nỗi nhà cửa thế này là nguy hiểm, nhưng em nghèo sức quá, em đã lo ròng rã hàng mấy tháng nay cũng không biết làm thế nào.

저도 이런 집이 위험하다는 것은 알고 있습니다. 그러나 기운이 너무도 달려, 몇 달을 내리 애써 보았으나 어찌할 도리가 없었습니다.

  1. Hay bây giờ em định thế này… Song anh có cho phép nói em mới dám nói..

그래서 이제는 이렇게 해 볼까 생각하고 있습니다만… 형님께서 허락해 주신다면, 그제야 감히 말씀드리겠습니다…

  1. Rồi Dế Choắt loanh quanh, băn khoăn.

그러고는 데초앗이 이리저리 서성이며 망설였다.

 

 

  1. Tôi phải bảo:

– Ðược, chú mình cứ nói thẳng thừng ra nào.

나는 재촉하듯 말하였다.

– 좋다, 하고 싶은 말이 있거든 솔직히 말해 보아라.

  1. Dế Choắt nhìn tôi mà rằng:

– Anh đã nghĩ thương em như thế thì hay là anh đào giúp cho em một cái ngách sang bên nhà anh phòng khi tắt lửa tối đèn có đứa nào đến bắt nạt thì em chạy sang…

데초앗은 나를 바라보며 조심스레 입을 열었다.

– 형님께서 이처럼 저를 생각해 주신다면, 혹시 형님 굴 쪽으로 통하는 작은 통로 하나만 파 주실 수는 없겠습니까. 혹여 불 꺼진 밤에 누가 와서 괴롭히면 제가 그리로 달아나려는 것입니다…

  1. Chưa nghe hết câu tôi đã hếch răng, xì một hơi rõ dài rồi, với điệu bộ khinh khỉnh, tôi mắng:

– Hức! Thông ngách sang nhà ta?

나는 그의 말을 끝까지 듣지도 않고 이를 드러내며 길게 코웃음을 쳤다. 그리고는 거만한 태도로 꾸짖었다.

– 흥! 내 굴로 통하는 구멍을 내 달라니?

  1. Dễ nghe nhỉ! Chú mày hôi như cú mèo thế này, ta làm sao chịu được.

참으로 듣기 좋은 소리로구나! 네 몸에서 부엉이 같은 냄새가 나는데, 내가 어찌 견디란 말이냐.

  1. Thôi im cái điệu hát mưa dầm sụt sùi ấy đi.

그 비 오는 노래 같은 훌쩍거림은 그만두어라.

  1. Ðào tổ nông thì cho chết!

굴을 얕게 판 벌이니, 그대로 당해 보아라!

  1. Tôi về không một chút bận tâm.

나는 조금도 마음에 두지 않은 채 돌아와 버렸다.

  1. Một buổi chiều, tôi ra đứng cửa hang như mọi khi, xem hoàng hôn xuống.

어느 날 저녁, 나는 여느 때처럼 굴 문 앞에 서서 저무는 하늘을 바라보고 있었다.

  1. Mấy hôm nọ, trời mưa lớn, trên những hồ ao quanh bãi trước mặt, nước dâng trắng mênh mông.

며칠 전 큰비가 내린 탓에, 앞 벌판 둘레의 연못과 웅덩이에는 물이 가득 차 하얗게 넘실거리고 있었다.

  1. Nước đầy và nước mới thì cua cá cũng tấp nập xuôi ngược, thế là bao nhiêu cò, sếu, vạc, cốc, le le, sâm cầm, vịt trời, bồ nông, mòng, két ở các bãi sông xơ xác tận đâu cũng bay cả về vùng nước mới để kiếm mồi.

물이 가득 차고 또 새 물이 들어오자, 게와 물고기들이 분주히 오르내렸다. 그러자 왜가리, 두루미, 해오라기, 가마우지, 논병아리, 물닭, 들오리, 펠리컨, 갈매기, 물총새 같은 새들이, 저 먼 황량한 강변에서까지도 모두 새 물이 고인 이곳으로 날아와 먹이를 찾았다.

  1. Suốt ngày họ cãi cọ om bốn góc đầm, có khi chỉ vì tranh một mồi tép, có những anh cò vêu vao ngày ngày bì bõm lội bùn tím cả chân mà vẫn hếch mỏ, chẳng được miếng nào.

그들은 하루 종일 연못 사방에서 요란스레 다투었는데, 때로는 겨우 작은 새우 한 마리를 놓고도 실랑이를 벌이곤 하였다. 어떤 왜가리 녀석은 날마다 진흙탕을 첨벙거리며 다녀 다리가 퍼렇게 물들면서도, 부리를 치켜세운 채 끝내 한 점도 얻지 못하였다.

  1. Khổ quá, những kẻ yếu đuối, vật lộn cật lực thế mà cũng không sống nổi.

참으로 가엾은 일이다. 저토록 힘없는 것들은 온 힘을 다해 버둥거려도 끝내 살아남지 못하는 법이었다.

  1. Tôi đứng trong bóng nắng chiều tỏa xuống ánh nước cửa hang mà suy nghĩ việc đời như thế.

나는 저녁 햇살이 수면에 비쳐 굴 어귀까지 번져 오는 그 빛 속에 서서, 이와 같은 세상살이를 곰곰이 생각하고 있었다.

  1. Bỗng thấy chị Cốc từ mặt nước bay lên, đến đậu gần hang tôi, cách có mấy bước.

그때 문득, 물 위에서 한 해오라기가 날아올라 내 굴 가까이에 내려앉았다. 불과 몇 걸음 떨어진 곳이었다.

  1. Chừng rớ được món nào, vừa chén xong, chị tìm đến đứng chỗ mát rỉa lông, rỉa cánh và chùi mép.

아마도 먹이를 하나 낚아챘던 모양인지, 막 한 끼를 마친 뒤라 시원한 그늘을 찾아 날개와 깃을 다듬고, 부리까지 쓸어 정리하고 있었다.

  1. Tính tôi hay nghịch ranh.

나는 본디 장난기가 많은 성미였다.

  1. Chẳng bận đến tôi, tôi cũng nghĩ mưu trêu chị Cốc.

아무런 해도 끼치지 않았건만, 공연히 그를 골려 줄 계략을 떠올리고 말았다.

  1. Tôi cất tiếng gọi Dế Choắt.

나는 데초앗을 불러 세웠다.

 

 

  1. Nghe tiếng thưa, tôi hỏi:

– Chú mình có muốn cùng tớ đùa vui không?

대답하는 소리가 들리자 나는 물었다.

– 자네도 나와 함께 한바탕 놀아 볼 생각이 없나?

  1. Ðùa trò gì? Em đương lên cơn hen đây. Hừ hừ…

무슨 장난을 말씀이십니까? 저는 지금 천식이 도져서요. 흠흠…

  1. Ðùa chơi một tí.

잠깐 장난이나 치자는 게지.

  1. Hừ hừ… cái gì thế?

흠흠… 무슨 말씀이십니까?

  1. Con mụ Cốc kia kìa.

저기 저 해오라기 말일세.

  1. Dế Choắt ra cửa, hé mắt nhìn chị Cốc.

데초앗은 굴문으로 나와 슬쩍 눈을 가늘게 뜨고 그 해오라기를 내다보았다.

  1. Rồi hỏi tôi:

– Chị Cốc béo xù đứng trước cửa nhà ta ấy hả?

– Ừ. 

– Thôi thôi… Hừ hừ… Em xin vái cả sáu tay. Anh đừng trêu vào… Anh phải sợ… 

그리고는 내게 물었다.

– 저 앞에 서 있는 살찐 해오라기 말씀이십니까?

– 그래.

– 아이고, 그만두십시오… 흠흠… 저는 두 손 모아 빕니다. 제발 건드리지 마십시오. 형님, 그러다 큰일 납니다…

  1. Tôi quắc mắt:

– Sợ gì? Mày bảo tao sợ cái gì? Mày bảo tao còn biết sợ ai hơn tao nữa? 

– Thưa anh, thế thì… hừ hừ… em xin sợ. Mời anh cứ đùa một mình thôi. 

나는 눈을 부릅뜨고 호통을 쳤다.

– 뭘 무서워한단 말이냐? 네가 감히 내가 무얼 두려워한다고 하느냐? 이 세상에 나보다 더 무서울 게 어디 있단 말이냐?

– 형님께서 그렇다면… 흠흠… 저는 그저 무섭습니다. 형님께서 혼자 노십시오.

  1. Tôi lại mắng Dế Choắt và bảo:

– Giương mắt ra xem tao trêu con mụ Cốc đây này. 

나는 다시 데초앗을 꾸짖으며 말하였다.

– 눈을 크게 뜨고 보아라. 내가 저 해오라기를 어떻게 놀려 주는지.

  1. Tôi rình đến lúc chị Cốc rỉa cánh quay đầu lại phía cửa tôi, tôi cất giọng véo von:

– Cái Cò, cái Vạc, cái Nông. Ba cái cùng béo, vặt lông cái nào? Vặt lông cái Cốc cho tao. Tao nấu, tao nướng, tao xào, tao ăn. 

나는 해오라기가 깃을 다듬다가 고개를 우리 굴 쪽으로 돌리는 순간을 노려, 맑고 가는 목소리로 노래를 불러 올렸다.

– 왜가리야, 해오라기야, 물새야. 셋 다 살이 통통하니, 누구 깃을 뽑을까? 해오라기 깃을 뽑아 주마. 삶아 먹고, 굽고, 볶아 먹으리라!

  1. Chị Cốc nghe tiếng hát từ trong đất văng vẳng lên, không hiểu như thế nào, giật nẩy hai đầu cánh, muốn bay.

땅속에서 울려 퍼지는 노랫소리를 들은 해오라기는 영문을 몰라 양 날개를 홱 치켜들며 금방이라도 날아오를 듯하였다.

  1. Ðến khi định thần lại, chị mới trợn tròn mắt, giương cánh lên như sắp sửa đánh nhau.

이윽고 정신을 가다듬자, 눈을 부릅뜨고 날개를 활짝 펴 마치 싸울 태세를 갖추었다.

  1. Chị lò dò về phía cửa hang tôi hỏi:

– Ðứa nào cạnh khoé gì tao thế? Ðứa nào cạnh khoé gì tao thế? 

그는 굴문 쪽으로 어기적거리며 다가와 외쳤다.

– 어느 놈이 나를 조롱하느냐? 어느 놈이 나를 비웃느냐?

  1. Tôi chui tọt ngay vào hang, lên giường nằm khểnh, bắt chân chữ ngũ.

나는 얼른 굴 속으로 쏙 들어가 버려, 침상 위에 비스듬히 드러누워 다리를 포개고 느긋이 누웠다.

  1. Bụng nghĩ thú vị: “Mày tức thì mày cứ tức, mày ghè vỡ đầu mày ra cho nhỏ đi, nhỏ đến đâu mày cũng không chui nổi vào tổ tao đâu!”

속으로는 이렇게 생각하며 통쾌해하였다. ‘네가 분이 나거든 실컷 내 보아라. 머리를 박살내 보아라. 아무리 작아진다 한들, 내 굴 속으로는 끝내 들어오지 못할 테니.’

  1. Một tai hoạ đến mà đứa ích kỷ thì không thể biết trước được.

그러나 재앙이란, 이기적인 자는 미리 알지 못하는 법이었다.

  1. Ðó là, không trông thấy tôi, nhưng chị Cốc đã trông thấy Dế Choắt đang loay hoay trong cửa hang, chị Cốc liền quát lớn:

– Mày nói gì?

– Lạy chị, em nói gì đâu?

그 해오라기는 나를 보지 못하였으나, 굴문에서 허둥대고 있던 데초앗은 보아 버렸다. 곧 큰 소리로 고함쳤다.

– 네가 무슨 말을 지껄였느냐?

– 아이고, 누님, 저는 아무 말도 하지 않았습니다.

  1. Rồi Dế Choắt lủi vào.

– Chối hả? Chối này! Chối này.

그러자 데초앗은 황급히 굴 속으로 기어들어갔다.

– 발뺌을 해? 이놈, 또 발뺌을 해!

  1. Mỗi câu “chối này” chị Cốc lại giáng một mỏ xuống.

‘발뺌이냐!’ 하고 외칠 때마다, 해오라기는 부리로 한 번씩 내리찍었다.

  1. Mỏ Cốc như cái dùi sắt, chọc xuyên cả đất.

그 부리는 쇠로 된 송곳과도 같아, 흙을 꿰뚫고 파고들었다.

  1. Rúc trong hang mà bị trúng hai mỏ, Choắt quẹo xương sống lăn ra kêu váng.

굴 속에 웅크리고 있던 데초앗은 두 번이나 부리에 맞자 등뼈가 휘어지며 나동그라져, 처절한 비명을 질러 댔다.

  1. Núp tận đáy đất mà tôi cũng khiếp, nằm im thít.

땅속 깊이 숨어 있던 나조차도 간담이 서늘해져, 꼼짝 않고 숨을 죽인 채 누워 있었다.

  1. Nhưng đã hả cơn tức, chị Cốc đứng rỉa lông cánh một lát nữa rồi lại bay là xuống đầm nước, không chút để ý đến cảnh khổ đau vừa gây ra.

그러나 분이 풀리자, 해오라기는 한동안 서서 깃을 고르다가, 방금 저지른 참상을 아랑곳하지도 않은 채 다시 연못가로 훌쩍 날아가 버렸다.

  1. Biết chị Cốc đi rồi, tôi mới mon men bò lên.

해오라기가 떠난 것을 확인하고서야, 나는 비로소 슬그머니 기어 올라왔다.

  1. Trông thấy tôi, Dế Choắt khóc thảm thiết.

나를 보자 데초앗은 처절하게 울음을 터뜨렸다.

  1. Tôi hỏi một câu ngớ ngẩn:

– Sao? Sao?

나는 어리석은 한마디를 물었다.

– 왜? 왜 그러는가?

  1. Choắt không dậy được nữa, nằm thoi thóp.

데초앗은 더는 일어나지 못하고, 가느다란 숨만 몰아쉬며 누워 있었다.

  1. Thấy thế tôi hốt hoảng quỳ xuống, nâng đầu Choắt lên mà than rằng:

– Nào tôi đâu biết cơ sự lại ra nông nỗi này!

그 모습을 보고 나는 소스라치게 놀라 무릎을 꿇고, 조앗의 머리를 떠받들며 탄식하였다.

– 이런 지경이 될 줄을 내가 어찌 알았겠는가!

  1. Tôi hối lắm. Tôi hối hận lắm!

나는 몹시도 뉘우친다. 참으로 깊이 후회한다!

  1. Anh mà chết là chỉ tại cái tội ngông cuồng dại dột của tôi.

그대가 죽는다면, 그것은 오로지 내 경솔하고 어리석은 만용의 탓이니.

  1. Tôi biết làm thế nào bây giờ?

이제 나는 어찌해야 한단 말인가?

  1. Tôi không ngờ Dế Choắt nói với tôi một câu thế này:

– Thôi, tôi ốm yếu quá rồi, chết cũng được.

나는 데초앗이 이런 말을 내게 남길 줄은 미처 몰랐다.

– 이제 그만, 나는 몸이 너무도 허약하니 죽어도 괜찮겠소.

  1. Nhưng trước khi nhắm mắt, tôi khuyên anh: ở đời mà có thói hung hăng bậy bạ, có óc mà không biết nghĩ, sớm muộn rồi cũng mang vạ vào mình đấy.

그러나 눈을 감기 전에 그대에게 한마디 충고하겠소. 세상살이에 함부로 사납고 경솔한 버릇을 지니고, 머리가 있으되 생각할 줄 모른다면, 머지않아 반드시 화를 스스로 불러들이게 될 것이오.

  1. Thế rồi Dế Choắt tắt thở.

그 말을 마치고 데초앗은 끝내 숨을 거두었다.

  1. Tôi thương lắm.

나는 참으로 슬펐다.

  1. Vừa thương vừa ăn năn tội mình.

슬픔과 더불어 내 죄를 깊이 뉘우쳤다.

  1. Giá tôi không trêu chị Cốc thì đâu đến nỗi Choắt việc gì.

내가 해오라기를 괜히 놀려 대지만 않았더라면, 조앗이 어찌 이런 변을 당했겠는가.

  1. Cả tôi nữa, nếu không nhanh chân chạy vào hang thì tôi cũng chết toi rồi.

나 또한 재빨리 굴 속으로 달아나지 않았더라면, 틀림없이 목숨을 잃고 말았을 것이다.

  1. Tôi đem xác Dế Choắt đến chôn vào một vùng cỏ bùm tum.

나는 데초앗의 시신을 거두어 무성한 풀숲 한가운데에 묻어 주었다.

  1. Tôi đắp thành nấm mộ to.

그리고 흙을 돋워 제법 큰 무덤을 만들어 주었다.

  1. Tôi đứng lặng giờ lâu, nghĩ về bài học đường đời đầu tiên.

나는 오래도록 그 앞에 말없이 서서, 생애 첫 길 위의 교훈을 곱씹어 생각하였다.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM –  0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM  – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM  – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM  – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM  –  0776 000 931   
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương  – 0778 748 418 
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo