TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
LÊ HUY KHOA
TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
Truyện ngắn
DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
SVTT: Mai Quế Chi
CSTT: Kanata Biên Hòa
Chương 3: Thoát khỏi cái lồng tù – Giữa đường dẫu thấy bất bằng mà tha – Mẹ kính mến của con ơi.
제3장: 감옥 같은 새장에서의 탈출 – 길 위에서 불의를 보고 참지 못하다 – 사랑하는 나의 어머니.
Tôi thấy bồi hồi, muốn đi ngay lúc ấy.
나는 마음이 설레어 당장이라도 떠나고 싶었다.
Nằm trong lồng, tôi trông thấy cửa lồng chưa cài.
새장 안에 누워 있다가 새장 문이 걸려 있지 않은 것을 보았다.
Thế là tôi bò ra luôn.
그래서 나는 곧장 기어 나왔다.
Nhưng cũng ngay lúc ấy, “Bé” và “Nhớn” ở đâu chạy tới kêu lên:
하지만 바로 그 순간, “베(Bé)”와 “년(Nhớn)”이 어디선가 달려와 소리쳤다.
– Á, á!
“아, 아!”
Rồi “Bé” nắm gáy tôi, ném vào lồng.
그러고는 “베”가 내 목덜미를 잡아 새장 안으로 던져 넣었다.
Không bao giờ tôi cảm thấy nhục nhã hơn!
이보다 더 굴욕감을 느낀 적은 없었다!
Từ lúc ấy, tôi bị canh giữ khác hẳn mọi khi.
그때부터 나는 평소와는 완전히 다르게 감시를 받게 되었다.
Buổi tối, vẫn được lên giàn mồng tơi nhưng phải nằm trong lồng không ai cho nghênh ngáo ngoài trời như mọi khi – dù là nghênh ngáo với sợi chỉ buộc vào bẹn.
밤에는 여전히 말라바 시금치 덩굴 위로 올라갈 수 있었지만, 예전처럼 밖에서 뽐내며 돌아다닐 수는 없었고 새장 안에 갇혀 있어야 했다. 사타구니에 실이 묶인 채로라도 말이다.
Tôi càng thấm thía nung nấu ý nghĩ trốn đi.
나는 도망치고 싶다는 생각을 더욱 간절히 품게 되었다.
Tôi chờ một dịp khác.
나는 다른 기회를 기다렸다.
Trong những ngày chờ đợi, buồn ơi là buồn.
기다리는 날들 동안, 슬픔은 말로 다 할 수 없었다.
Tôi buồn lắm, buồn tưởng chết được.
나는 너무 슬퍼서 죽을 것만 같았다.
Phần thì ăn năn tội lỗi.
한편으로는 내 죄를 뉘우쳤다.
Phần thì ngao ngán đời mình.
또 한편으로는 내 인생이 허망하게 느껴졌다.
Cuộc đời đã nửa thời xuân mà chưa làm nổi điều gì gọi là có ích.
청춘의 절반이 지났건만 보람 있는 일이라곤 하나도 해내지 못했다.
Chỉ những nay lầm mai lỗi.
그저 오늘도 실수하고 내일도 잘못을 저지를 뿐이었다.
Tôi ủ rũ, chẳng buồn ăn, chẳng buồn đi, đứng cũng không buồn đứng.
나는 시무룩해져서 먹고 싶지도, 걷고 싶지도 않았고, 서 있는 것조차 귀찮았다.
Suốt ngày nằm phục vị thở dài.
하루 종일 엎드린 채 한숨만 내쉬었다.
Thấy tôi đâm ra lù dù thế, bọn trẻ chỉ biết ra công săn sóc.
내가 이렇게 멍하니 있는 것을 보고 아이들은 정성껏 돌봐줄 뿐이었다.
Nhưng họ càng săn sóc thì lòng tôi càng chán ngắt càng cảm thấy họ nuôi béo thân mình để làm chuyện mui vui.
하지만 그들이 돌봐주면 줄수록 내 마음은 더 지루해졌고, 그저 자기들의 즐거움을 위해 나를 살찌우는 것이라는 생각만 들었다.
Tôi ăn đuểnh đoảng, nhấm nháp.
나는 건성으로 조금씩 씹어 먹었다.
Dần dần bọn trẻ cũng chán tôi.
점점 아이들도 나에게 실증을 느끼기 시작했다.
Trò trẻ chơi cái gì cũng thường hay chóng chán.
아이들의 놀이는 무엇이든 금방 질리기 마련이다.
Vì không hiểu được cái ốm và đầu óc nghĩ ngợi của tôi bấy giờ, chúng cho tôi là mắc bệnh gì đấy, có lẽ bị đau dạ dày.
당시 나의 병색과 깊은 고민을 이해하지 못한 아이들은 내가 어떤 병에 걸렸다고 생각했으며, 아마 위장병일 것이라고 짐작했다.
Rồi, cứ bỏ vào lồng toàn thứ cỏ thượng hạng mà chỉ thấy tôi đủng đỉnh nhếch răng thì sự săn sóc cũng nhạt dần.
새장 안에 최고급 풀들만 넣어주어도 내가 천천히 입만 댈 뿐이니, 그들의 보살핌도 점차 식어갔다.
Họ lại xách ống, dao và que nứa, hì hục đào, đúc dế, mải tìm cuộc chơi khác.
그들은 다시 통과 칼, 대나무 막대기를 들고 끙끙대며 땅을 파고 귀뚜라미를 잡으러 다니며 다른 놀이를 찾기에 바빴다.
Thế rồi, cứ ốm nghĩ mãi, tôi đâm ra ốm thật.
그렇게 계속 고민하며 앓다 보니, 나는 정말로 병이 들고 말았다.
Tôi cảm thấy khật khừ rồi tôi ngạt mũi, nhức đầu luôn.
몸이 나른해지더니 코가 막히고 머리가 자주 아팠다.
Mấy lần bị mang đi đánh nhau, tôi chỉ đứng yên.
몇 번 싸움을 하러 나갔지만, 나는 그저 가만히 서 있기만 했다.
Anh dế bên lồng kia sang cũng không dám đánh tôi, thế là nhạt trò.
상대 새장의 귀뚜라미가 넘어와도 감히 나를 공격하지 못했고, 놀이는 시시해졌다.
Nghĩa là tôi không còn hoạt bát, khoẻ khoắn như trước nữa.
즉, 나는 예전처럼 활발하거나 건강하지 못했다.
Mấy ngày không nhớ ca hát, buổi sáng như buổi chiều, không gáy chào hoàng hôn và bình minh.
며칠 동안 노래 부르는 것도 잊었고, 아침이나 저녁이나 노을과 새벽을 향해 울지 않았다.
Một hôm, “Nhớn” thấy tôi nằm lử đử, bèn bảo “Bé”:
어느 날, “년(Nhớn)”이 내가 축 늘어져 누워 있는 것을 보고 “베(Bé)”에게 말했다.
– Không phải nó đau dạ dày đâu, thằng dế này đánh nhau nhiều quá đến nỗi kiệt sức nên bây giờ mắc bệnh ho lao. Chúng mình chả nên nuôi một thằng dế ốm. Thả nó đi, “Bé” ạ.
“얘 위장병 아니야. 이 귀뚜라미는 너무 많이 싸워서 기운이 다 빠졌고, 이제 폐결핵에 걸린 거야. 우리 병든 귀뚜라미를 키울 필요 없어. “베”야, 그냥 풀어주자.”
“Bé” gàn:
“베”가 반대했다.
– Thế thì phải đem ra ao cho vịt bầu ăn.
“그럼 연못에 가져가서 오리나 먹게 줘야지.”
Tôi lạnh đến tận hai chân răng.
나는 이뿌리까지 오싹해졌다.
– Không, thế cũng phí, ta sẽ đem nó làm cúp đá bóng. Cúp đá bóng là một dế cụ. Thế mà oai!
“아니, 그것도 아까워. 이걸로 축구 우승컵을 만들자. 우승컵이 거대한 귀뚜라미라니, 멋지잖아!”
Rồi hai đứa kéo nhau đi rủ tất cả trẻ con trong xóm họp lại đá bóng thi ăn giải thưởng.
그러고는 두 아이는 동네 아이들을 모두 불러 모아 상금을 걸고 축구 시합을 하기로 했다.
Cái cúp ấy đúng là dế tôi vậy.
그 우승컵이 바로 나, 이 귀뚜라미였다.
Thân tôi lại thành cái giải thưởng, nghĩ cực quá.
내 몸이 상 상품이 되다니, 생각할수록 너무나 비참했다.
Không đầy một lúc đã có một lũ đến mười, mười lăm đứa kéo đến.
순식간에 열 명에서 열다섯 명 정도의 아이들이 몰려들었다.
Chúng rủ nhau ra ngoài bãi, đem theo tôi ra.
그들은 들판으로 나갔고 나를 데리고 갔다.
Đám trẻ chia làm hai phe.
아이들은 두 팀으로 나뉘었다.
Một đứa đã nhặt được ở vườn nào về một quả bưởi để làm bóng.
한 아이가 어느 정원에서 주워온 자몽 한 알을 공으로 삼았다.
Tôi được đặt trịnh trọng đứng trong nắp cái vỏ diêm mới, trên một hòn gạch.
나는 새 성냥갑 뚜껑 안, 벽돌 위에 엄숙하게 놓여졌다.
“Nhớn” giao hẹn các bạn:
“년”이 친구들에게 약속했다.
– Bên nào được ba “gôn” thì ăn thưởng lão dế này. A lê…Toe toe toe…
“어느 쪽이든 세 골을 먼저 넣으면 이 늙은 귀뚜라미를 상으로 받는다. 자, 시작! 뚜 뚜 뚜…”
Tôi đứng thẳng, lấy vẻ mặt tươi tỉnh, vui như cũng đương xem đá bóng.
나는 몸을 곧게 세우고, 마치 축구 경기를 구경하는 것처럼 밝고 즐거운 표정을 지었다.
Không ai nghi ngờ gì cả.
아무도 의심하지 않았다.
Cũng thật là trẻ con thì mới hay sơ ý như thế đấy.
역시 어린아이들이라 그렇게 부주의했던 것이다.
Cơ hội thoát ly có thể sắp đến rồi.
탈출의 기회가 곧 다가오고 있었다.
Đôi bên tranh nhau quả bóng bưởi mỗi lúc kịch liệt hơn.
양 팀은 자몽 공을 차지하기 위해 매 순간 더 격렬하게 다텼다.
Đám này đá bóng cũng xoàng. Tôi nhận xét thế.
이 아이들은 축구 실력이 형편없었다. 나는 그렇게 판단했다.
Có cậu cứ giẫm vào bóng, ngã bổ chửng.
공을 밟고 뒤로 자빠지는 아이도 있었다.
Có cậu bíu vai chèn nhau rách toạc cả áo. ấy vậy mà vẫn mải mê, hò hét vang cả góc bãi.
어깨를 붙잡고 밀치다가 옷이 찢어지는 아이도 있었다. 그런데도 그들은 열중해서 들판 구석구석이 떠나가라 소리를 질렀다.
Nhưng tôi cũng vội nhận ra tôi đứng đây không phải để xem đá bóng.
하지만 나는 내가 여기 축구를 구경하러 서 있는 게 아니라는 것을 얼른 깨달았다.
Thế là, trong khi bọn trẻ đang xô đẩy kịch liệt trên bãi thì tôi len lén rời nắp bao diêm, bò khỏi bệ gạch vỡ.
그리하여 아이들이 들판에서 격렬하게 몸싸움을 하는 동안, 나는 살금살금 성냥갑 뚜껑에서 벗어나 깨진 벽돌 위를 기어 내려왔다.
Tôi lẻn ra đầu vườn, chui vào đám cỏ rậm, rồi chuồn thẳng đến tận bụi dứa dại đằng xa.
나는 정원 끝으로 몰래 빠져나가 무성한 풀숲으로 들어갔고, 멀리 있는 야생 파인애플 덤불까지 곧장 달아났다.
Xổ lồng một cái, khỏi ốm ngay, nhanh thế!
새장에서 벗어나자마자 병이 씻은 듯이 나았다. 정말 빨랐다!
Chẳng biết lúc tan cuộc bóng, thấy mất cái giải thưởng quý hoá, bọn trẻ có cáu kỉnh mà cãi nhau không.
축구 경기가 끝난 뒤 소중한 상품이 사라진 것을 알고 아이들이 화를 내며 서로 다투었을지는 알 수 없다.
Khi đã được thảnh thơi đứng trong bụi dứa xanh mờ, tiếng hò reo của bọn trẻ nghe đã xa lắm, không còn lo ngại gì nữa, tôi mới duỗi cánh vươn vai thở dài.
푸른 파인애플 덤불 속에 한가로이 서 있게 되자, 아이들의 함성 소리는 아주 멀리 들렸고 더 이상 걱정할 것이 없었기에 나는 날개를 펴고 기지개를 켜며 길게 숨을 내쉬었다.
Tôi gặm vội tí cỏ cho đỡ đói.
나는 배고픔을 달래기 위해 풀을 서둘러 조금 뜯어 먹었다.
Mấy bữa nay, quả là tôi cũng vờ ốm thêm để đỡ phải đi chọi nhau, cho nên nhịn ăn, có mệt mỏi đi thật.
요 며칠 동안 싸우러 나가지 않으려고 일부러 아픈 척을 더 했고, 그래서 굶다 보니 정말로 조금 피곤해지긴 했었다.
No rồi, tôi phủ phục xuống chụm chân, đánh một giấc ngủ ngon.
배를 채운 뒤, 나는 다리를 모으고 엎드려 단잠을 잤다.
Lúc tỉnh dậy, xung quanh và đằng xa, chỉ có cái im lặng chập chờn buổi trưa.
잠에서 깨어났을 때, 주변과 먼 곳에는 오직 나른한 낮의 정적만이 감돌고 있었다.
Lũ trẻ chắc đã về trong xóm.
아이들은 분명 마을로 돌아갔을 것이다.
Nghĩ xa, nghĩ gần trong bụng tôi phân vân.
나는 이런저런 생각에 마음이 망설여졌다.
Nửa muốn một phen đi chơi xa lại nửa muốn về thăm nhà.
멀리 여행을 떠나고 싶기도 하고, 한편으로는 집에 돌아가고 싶기도 했다.
Dẫu sao, trong mấy ngày qua, tôi cũng nảy ra một ý nghĩ rất đẹp là đã được thấy qua mặt đất này bao la, không phải chỉ có cái bờ ruộng, cái đầm nước của quê mình.
어쨌든 지난 며칠 동안 나는 이 세상이 얼마나 광활한지, 우리 고향의 논둑이나 웅덩이가 전부가 아니라는 아주 아름다운 생각을 하게 되었다.
Có phải trong cảnh trói buộc lại hay có những ao ước phóng khoáng chăng?
구속된 상황 속에서 오히려 자유로운 갈망이 생겨나는 법일까?
Chỉ biết lũ trẻ kia giam giữ mình, nhưng phong cảnh non nước thì bao giờ cũng chờ đón và thúc giục ta hãy vui chân lên, hãy cố đi cho khắp thế gian.
저 아이들은 나를 가두었지만, 자연의 풍경은 언제나 우리를 기다리며 발걸음을 재촉하고 온 세상을 다녀보라고 격려한다.
Đời trai mà không biết bay nhảy, không biết đó biết đây thì cuộc sống sẽ nhạt nhẽo lắm.
사나이로 태어나 이곳저곳을 다니며 세상을 알지 못한다면 삶은 매우 무미건조할 것이다.
Sau cùng, tôi quyết định trở lại nhà.
결국 나는 집으로 돌아가기로 결심했다.
Tôi nhớ từ ngày mình bị bắt, mình xa nhà đã lâu.
내가 붙잡힌 날부터 오랫동안 집을 떠나 있었다는 사실이 떠올랐다.
Tôi chắc chắn ngày ấy có khi mẹ tôi lại thăm hang tôi, thấy giường màn tan tành, hẳn người đã khóc không biết bao nhiêu nước mắt.
어머니께서 내 굴에 찾아오셨다가 엉망이 된 잠자리를 보시고 분명 하염없이 눈물을 흘리셨을 것이라고 확신했다.
Nghĩ thế thì tôi nhớ và thương mẹ tôi lắm.
그렇게 생각하니 어머니가 너무나 보고 싶고 가련하게 느껴졌다.
Tôi là con út trong lứa sinh.
나는 형제들 중 막내였다.
Mẹ thương tôi, đã cho bao nhiêu cỏ non, lúc đem tôi đến ở hang mới.
어머니는 나를 사랑하셔서 내가 새 굴로 이사할 때 신선한 풀을 많이 챙겨주셨다.
Tôi trở về quê hương.
나는 고향으로 돌아간다.
Tôi cũng tính thêm rằng: sau khi về thăm mẹ, khi mẹ tôi nhìn thấy mặt, mừng tôi còn sống, vẫn khoẻ, người an tâm rồi, bấy giờ tôi sẽ tính một cuộc du lịch xa xôi.
어머니를 뵙고 내가 살아있고 건강하다는 것을 보여드려 안심시켜 드린 후에, 그때 다시 먼 여행을 계획하리라 생각했다.
Tôi rẽ cỏ, tìm lối về…
나는 풀을 헤치며 돌아가는 길을 찾았다…
Đường về xa lắc xa lơ…
돌아가는 길은 멀고도 멀었다…
Một hôm, qua một vùng cỏ nước xanh dài, chợt nghe tiếng khóc tỉ tê.
어느 날, 푸른 수초가 길게 뻗은 지역을 지나다가 문득 흐느끼는 소리를 들었다.
Tôi lắng tai, đoán ra tiếng khóc quanh quẩn đâu đây.
나는 귀를 기울여 울음소리가 이 근처 어딘가에서 나고 있음을 짐작했다.
Vài bước nữa, tôi gặp chị “Nhà Trò” ngồi gục đầu bên tảng đá cuội.
몇 걸음 더 가니, 조약돌 옆에 머리를 숙이고 앉아 있는 “냐쪼(Nhà Trò)”를 만났다.
Chị “Nhà Trò” bé nhỏ lại gầy gùa, yếu đuối quá, người bự những phấn, như mới lột.
“냐쪼”는 작고 야위었으며 너무나 약해 보였고, 마치 갓 허물을 벗은 듯 온몸에 가루가 가득했다.
Chị mặc áo thâm dài, đôi chỗ chấm điểm vàng, hai cánh cô nàng mỏng như cánh bướm non, lại ngắn chùn chùn.
그녀는 군데군데 노란 점이 박힌 검은색 긴 옷을 입고 있었고, 두 날개는 어린 나비의 날개처럼 얇고 아주 짧았다.
Hình như cánh yếu quá, chưa quen mở, mà cho dù có khoẻ cũng chẳng bay được xa.
날개가 너무 약해 펴는 법조차 익숙하지 않은 듯했고, 설령 튼튼하다 해도 멀리 날지는 못할 것 같았다.
Các chị “Nhà Trò” vốn họ bướm, cả đời chỉ biết vởn vơ quanh quẩn trong bờ bụi mà thôi.
“냐쪼” 무리는 본래 나방 종류라 평생 덤불 주변에서만 맴돌 뿐이다.
“Nhà Trò” đương khóc.
“냐쪼”는 울고 있었다.
Nghe như có điều gì oan trái chi đây, tôi bèn hỏi:
무슨 억울한 사연이 있는 것 같아 내가 물었다.
– Làm sao mà khóc đường khóc chợ thế kia em?
“어찌하여 길거리에서 그렇게 울고 있느냐?”
Chị ngẩng đầu lên, nước mắt đầm đìa rồi cúi chào, lễ phép – các cô “Nhà Trò” bao giờ cũng lịch sự và mềm mại.
그녀는 고개를 들었는데 눈물이 범벅이었고, 예의 바르게 허리를 숙여 인사했다. “냐쪼”들은 언제나 정중하고 부드럽다.
– Em chào anh, mời anh ngồi chơi.
“오빠 안녕하세요, 여기 앉아서 좀 쉬다 가세요.”
Tôi nói ngay:
나는 즉시 말했다.
– Có gì mà ngồi! Làm sao khóc nào?
“앉아 있을 때가 아니야! 왜 울고 있는지 말해봐.”
Thế là chị ta bù lu bù loa:
그러자 그녀는 엉엉 울음을 터뜨렸다.
– Anh ơi! Anh ơi! Hu…hu…Anh cứu em… Hu…hu
“오빠! 오빠! 흐엉… 흐엉… 저를 구해주세요… 흐엉… 흐엉.”
– Đứa nào? Đứa nào bắt nạt em?
“누구냐? 누가 너를 괴롭히느냐?”
– Thưa anh, bọn “Nhện”. Anh cứu… Hu…hu…
“오빠, “거미(Nhện)”들이에요. 구해주세요… 흐엉… 흐엉.”
Tôi sốt ruột:
나는 마음이 급해졌다.
– “Nhện” nào? Sao lại cứ khóc thế? Kể rõ đầu đuôi mới biết làm sao mà cứu được chứ!
“어떤 “거미” 말이냐? 왜 자꾸 울기만 해? 처음부터 끝까지 자세히 말을 해야 어떻게 구할지 알 거 아니냐!”
“Nhà Trò” kể:
“냐쪼”가 이야기했다.
– Năm trước, phải khi trời làm đói kém, mẹ em phải vay lương ăn của “Nhện”.
“지난해 흉년이 들었을 때, 저희 어머니께서 “거미”들에게 먹을 것을 빌리셨어요.”
Sau đấy, không may mẹ em mất đi, còn lại thui thủi có mình em.
그 후 불행히도 어머니는 돌아가셨고, 저 혼자 외롭게 남게 되었어요.
Mà em ốm yếu, kiếm bữa cũng chẳng đủ, làm ăn chả ra thế nào, bao năm nghèo túng vẫn hoàn nghèo túng, món nợ cũ chưa trả được.
그런데 저는 몸이 약해 끼니를 잇기도 힘들고 살림도 꾸리지 못해, 몇 년째 가난에서 벗어나지 못한 채 옛 빚을 갚지 못했어요.
“Nhện” cứ nhất định bắt trả nợ.
“거미”들은 기어코 빚을 갚으라고 강요했어요.
Mấy bận “Nhện” đã đánh em.
“거미”들이 여러 번 저를 때렸어요.
Hôm nay bọn “Nhện” chăng tơ ngang đường đe bắt em, vặt chân, vặn cánh ăn thịt em.
오늘은 “거미”들이 길목에 거미줄을 치고 저를 잡아 다리와 날개를 꺾어 잡아먹겠다고 위협하고 있어요.
Tôi xoè hai càng ra, bảo “Nhà Trò”:
나는 두 다리를 펼치며 “냐쪼”에게 말했다.
– Em đừng sợ. Hãy trở về cùng với tôi đây.
“겁내지 마라. 나와 함께 돌아가자.”
Đứa độc ác không thể cậy khoẻ ăn hiếp kẻ yếu.
사악한 자가 힘을 믿고 약자를 괴롭히게 내버려 둘 수 없다.
Đời này không phải như thế.
세상은 그런 법이 아니다.
Tôi dắt “Nhà Trò” đi.
나는 “냐쪼”를 데리고 길을 나섰다.
Một quãng, tới chỗ mai phục của bọn “Nhện”.
얼마쯤 가니 “거미”들이 매복해 있는 곳에 도착했다.
Bọn “nhện” đã công phu chăng bên đường nọ sang bên kia, chằng chịt biết bao nhiêu tơ nhện, trùng trùng điệp điệp, một chú “Muỗi Mắt” nhỏ nhất loài muỗi cũng không chui lọt.
“거미”들은 길 이쪽에서 저쪽까지 온갖 정성을 다해 거미줄을 쳐놓았는데, 얼마나 촘촘하고 겹겹이 쳐져 있는지 가장 작은 “눈모기(Muỗi Mắt)”조차 빠져나갈 수 없을 정도였다.
Lại thêm, sừng sững giữa lối đi, một anh “Nhện” canh gác.
게다가 길 한복판에 “거미” 한 마리가 위풍당당하게 감시를 서고 있었다.
ý hễ thấy bóng “Nhà Trò” là làm hiệu cho lũ “Nhện” nấp hai bên đường kéo ra.
“냐쪼”의 모습이 보이기만 하면 길 양옆에 숨어 있는 “거미” 떼에게 신호를 보내 끌어내려는 속셈이었다.
Khi tôi gần tới mạng lưới, nhìn vào các khe đá xung quanh đã thấy lủng củng những nhện là nhện: “Nhện mẹ, Nhện con, Nhện già, Nhện trẻ, Nhện nước, Nhện tường, Nhện võng, Nhện cây, Nhện đá, Nhện ma”…đủ họ nhà “Nhện”.
내가 거미줄 근처에 다다라 주변 바위 틈을 보니, 온갖 “거미”들이 우글거리고 있었다. “어미 거미, 새끼 거미, 늙은 거미, 젊은 거미, 소금쟁이, 벽거미, 그물거미, 나무거미, 바위거미, 유령거미” 등 온 “거미” 가문이 다 모여 있었다.
Chúng đứng im như đá, mà coi vẻ hung dữ.
그들은 바위처럼 가만히 서 있었지만, 매우 흉포해 보였다.
Tôi cất tiếng hỏi lớn:
나는 큰 소리로 물었다.
– Ai đứng chóp bu bọn mày? Ra đây cho tao nói chuyện.
“너희들 우두머리가 누구냐? 나와서 나랑 이야기 좀 하자.”
Từ trong hốc đá, một mụ nhện cái to nhất, cong chân nhảy ra, hai bên có hai “Nhện vách” nhảy kèm.
바위 구멍 속에서 가장 큰 암컷 “거미” 한 마리가 다리를 굽히며 튀어나왔고, 양옆에는 “벽거미(Nhện vách)” 두 마리가 보좌하며 따라왔다.
Dáng đây là vị chúa trùm nhà “Nhện”.
보아하니 이자가 “거미” 가문의 우두머리인 듯했다.
Nom cũng đanh đá, nặc nô lắm.
생김새가 아주 표독스럽고 사나워 보였다.
Vậy thì đầu tiên, tôi hãy ra cái oai của tôi.
그러니 우선 나의 위엄을 보여주기로 했다.
Tôi quay phắt lưng, phóng càng đạp mạnh vào đầu mụ “Nhện” cái một đạp.
나는 몸바람처럼 몸을 돌려 암컷 “거미”의 머리를 뒷다리로 강하게 한 번 걷어찼다.
Mụ nọ hoảng hốt, co dúm lại hãi ngay.
그자는 당황하여 즉시 몸을 웅크리며 겁을 먹었다.
Rồi thế là mụ cứ rập đầu xuống đất như cái chày giã gạo, tỏ ý hối hận và sợ hãi một điều gì đó – điều gì đó có lẽ mụ ta cũng chưa biết.
그러더니 그자는 마치 절구 공이처럼 땅바닥에 머리를 계속 찧으며 후회와 알 수 없는 두려움을 표시했다. 아마 그자 자신도 무엇이 무서운지 몰랐을 것이다.
Tôi thét:
나는 호통을 쳤다.
– Cớ sao dám kéo bè kéo cánh ra bắt nạt em “Nhà Trò” yếu ớt thế kia?
“어찌하여 떼를 지어 저 연약한 “냐쪼”를 괴롭히느냐?”
Chúng mày có của ăn của để, đứa nào cũng béo múp mông đít cả lượt như thế kia mà tính đòi nó một tí tẹo nợ đã mấy đời rồi là không được.
너희는 먹을 것도 넉넉하고 하나같이 엉덩이에 살이 통통하게 올랐으면서, 몇 대 전의 아주 작은 빚을 받아내려 하다니 있을 수 없는 일이다.
Ta cấm từ giờ không được đòi nợ “Nhà Trò” nữa.
지금부터 “냐쪼”에게 빚 독촉을 하는 것을 금지한다.
Nó bé bỏng, làm chưa đủ nuôi thân, phải thương nó, xuý xoá công nợ cho nó.
저 아이는 작고 스스로를 돌볼 힘도 없으니, 가엾게 여겨 빚을 탕감해 주어라.
ở đời, thù hằn, độc ác làm gì.
세상 살면서 원한을 품고 독하게 굴어 무엇 하겠느냐.
Thử trông đấy, bay bắt nạt nó, nhưng còn có ta khoẻ hơn, ta mới thử gió mấy cái đá hậu, mà xem ra chúng mày đã thấy đáng nghĩ lắm rồi phải không?
보아라, 너희가 저 아이를 괴롭히지만 나처럼 더 강한 자가 있지 않느냐. 내가 뒷발질 몇 번만 해보여도 너희는 이미 충분히 깨달았을 것이다, 그렇지 않으냐?
Bọn “Nhện” núp phía trong cũng dạ vang và lao xao nói “nghe rồi ạ” rối rít khe đá.
안쪽에 숨어 있던 “거미”들도 “예, 알겠습니다”라고 합창하며 바위 틈에서 소란스럽게 대답했다.
Tôi ra lệnh:
나는 명령했다.
– Phá các vòng vây đi. Đốt hết văn tự đi.
“포위망을 풀어라. 모든 채무 문서를 없애라.”
Lũ “Nhện” nghe ngay lời tôi.
“거미”들은 즉시 내 말을 따랐다.
Cả họ nhanh nhẹn chạy ngang chạy dọc, phá các dây tơ chăng lưới buộc ngang đường.
“거미” 가문 전체가 분주하게 가로세로로 달리며 길을 가로막고 있던 거미줄을 끊어버렸다.
Rồi vô số “Nhện” nhấp nhô, tung tăng đến, chân nắm chân ả “Nhà Trò” mà nhảy múa, hát ầm ĩ rất vui.
그러자 수많은 “거미”가 몰려와 “냐쪼”의 손을 잡고 춤을 추며 시끌벅적하게 노래를 불렀다.
Họ nhà “Nhện” còn định mở tiệc thết tôi.
“거미” 가문은 나를 대접하기 위해 잔치를 열려고까지 했다.
Được cái họ nhà “Nhện” thì lúc nào cũng khéo trữ lắm thức ăn ngon.
“거미” 가문은 언제나 맛있는 음식을 아주 잘 저장해 두기 마련이다.
Nhưng tôi từ chối, nói rằng phải vội đi. Hẹn dịp khác sẽ qua chơi.
하지만 나는 갈 길이 바쁘다며 거절했다. 다음 기회에 들르겠다고 약속했다.
Tôi từ giã bọn “Nhện” và “Nhà Trò”.
나는 “거미”들과 “냐쪼”에게 작별을 고했다.
Chị “Nhà Trò” ôm vai tôi cảm động, không nỡ ly biệt, cứ theo tiễn một quãng đường dài.
“냐쪼”는 감동하여 내 어깨를 감싸 안으며 헤어지기 아쉬운 듯 긴 길을 배웅해 주었다.
Còn tôi, trong lòng hoan hỉ vì đã làm được việc đầu tiên có ích cho đời.
나는 세상에 보탬이 되는 첫 번째 일을 해냈다는 기쁨에 마음이 아주 즐거웠다.
Mấy hôm sau, về tới quê nhà.
며칠 후, 마침내 고향 집에 도착했다.
Cái hang bỏ hoang của tôi, cỏ và rêu xanh đã kín lối vào.
내가 버려두었던 굴은 풀과 이끼가 자라 입구가 막혀 있었다.
Nhưng đằng cuối bãi, mẹ tôi vẫn mạnh khoẻ.
하지만 들판 끝쪽에서 어머니는 여전히 건강하게 계셨다.
Hai mẹ con gặp nhau, mừng quá, cứ vừa khóc vừa cười.
우리 모자는 서로 만나 너무나 기쁜 나머지 울다가 웃기를 반복했다.
Tôi kể lại từ đầu chí cuối nhưng ngày qua trong may rủi và thử thách mà bấy lâu tôi trải.
나는 그동안 겪었던 행운과 불행, 그리고 시련의 나날들을 처음부터 끝까지 말씀드렸다.
Bắt đầu từ chuyện anh “Dế Choắt” khốn khổ bên hàng xóm.
옆집의 불쌍한 “제초앗(Dế Choắt)” 형의 이야기부터 시작했다.
Nghe xong, mẹ tôi ôm tôi vào lòng, y như người ôm ẵm khi mới sinh tôi và bảo rằng:
이야기를 다 들으신 어머니는 내가 갓 태어났을 때처럼 나를 품에 안으시고 말씀하셨다.
– Con ơi, mẹ mừng cho con đã qua nhiều nỗi hiểm nguy mà trở về.
“얘야, 네가 많은 위험을 겪고 무사히 돌아와서 정말 기쁘구나.”
Nhưng mẹ mừng nhất là con đã rèn được tấm lòng chín chắn thật đáng làm trai.
“하지만 무엇보다 기쁜 것은 네가 사나이다운 성숙한 마음을 갖게 되었다는 것이란다.”
Bây giờ con muốn ở nhà mấy ngày với mẹ, rồi con đi du lịch xa mẹ cũng bằng lòng, mẹ không áy náy gì về con đâu.
“이제 며칠간 엄마랑 같이 있다가 다시 먼 여행을 떠나고 싶다면 그렇게 하려무나. 엄마는 이제 너에 대해 아무 걱정도 없단다.”
Thế là con của mẹ đã lớn rồi. Con đã khôn lớn rồi. Mẹ chẳng phải lo gì nữa.
“내 아들이 이제 다 컸구나. 정말 의젓해졌어. 이제 엄마는 걱정할 게 하나도 없다.”
Mẹ tôi nói thế rồi chan hoà hàng nước mắt sung sướng và cảm động.
어머니는 그렇게 말씀하시며 기쁨과 감동의 눈물을 흘리셨다.
Tôi nhìn ra cửa hang, nơi mới ngày nào còn trứng nước ở đây và cũng cảm thấy nay mình khôn lớn.
나는 내가 아주 어렸을 때 머물던 굴 입구를 바라보며, 이제 나 자신이 정말 성숙해졌음을 느꼈다.
Tôi ở lại với mẹ:
나는 어머니 곁에 머물며 말했다.
– Mẹ kính yêu của con! Không bao giờ con quên được lời mẹ.
“사랑하는 나의 어머니! 어머니의 말씀을 결코 잊지 않겠습니다.”
Rồi mai đây con lên đường, con sẽ hết sức tu tỉnh được như mẹ mong ước cho con của mẹ.
“훗날 제가 다시 길을 떠날 때, 어머니께서 바라시는 대로 최선을 다해 바르게 살아가겠습니다.”
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





