TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
DỊCH TRUYỆN NGẮN
“KHÚC HÁT CHÈO THUYỀN”
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
SVTT: Hà Ngọc Bích Cầm
CSTT : Kanata NKKN
- 김동인 <배따라기>
Kim Dong-in – “Khúc hát chèo thuyền”
- 좋은 일기이다.
Đó là một ngày đẹp trời.
- 좋은 일기라도, 하늘에 구름 한 점 없는 – 우리 ‘사람’으로서는 감히 접근 못 할 위엄을 가지고, 높이서 우리 조고만 ‘사람’을 비웃는 듯이 내려다보는, 그런 교만한 하늘은 아니고, 가장 우리 ‘사람’의 이해자인 듯이 낮추 뭉글뭉글 엉기는 분홍빛 구름으로서 우리와 서로 손목을 잡자는 그런 하늘이다.
Dù là một ngày đẹp trời, nhưng bầu trời ấy không phải là bầu trời kiêu ngạo – một bầu trời không một gợn mây, mang vẻ uy nghiêm khiến chúng ta, những ‘con người’, không dám lại gần, rồi từ trên cao nhìn xuống như thể cười nhạo những ‘con người’ nhỏ bé như chúng ta. Trái lại, đó là bầu trời với những đám mây hồng mềm mại tụ lại từng cụm, như thể hạ mình xuống, giống như một người thấu hiểu chúng ta – những ‘con người’ – và muốn nắm lấy cổ tay chúng ta.”
- 사랑의 하늘이다.
Đó là bầu trời của tình yêu.
- 나는, 잠시도 멎지 않고 푸른 물을 황해로 부어 내리는 대동강을 향한, 모란봉 기슭 새파랗게 돋아나는 풀 위에 뒹굴고 있었다.
Tôi đang nằm lăn trên bãi cỏ xanh non vừa nhú ở chân đồi Moranbong, hướng về phía sông Đại Đồng – dòng sông không ngừng nghỉ đổ làn nước xanh ra biển Hoàng Hải.
- 이날은 삼월 삼질, 대동강에 첫 뱃놀이하는 날이다.
Hôm ấy là ngày mồng ba tháng ba âm lịch, ngày đầu tiên trong năm người ta đi dạo thuyền trên sông Đại Đồng.
- 까맣게 내려다보이는 물 위에는, 결결이 반짝이는 물결을 푸른 놀잇배들이 타고 넘으며, 거기서는 봄향기에 취한 형형색색의 선율이, 우단보다도 부드러운 봄공기를 흔들면서 날아온다.
Trên mặt nước đen sẫm phía dưới, những con thuyền du ngoạn xanh biếc lướt qua những gợn sóng lấp lánh từng đợt; từ đó bay đến những giai điệu muôn màu muôn sắc say sưa trong hương xuân, làm rung động bầu không khí mùa xuân mềm mại hơn cả nhung.
- 그러고 거기서 기생들의 노래와 함께 날아오는 조선 아악(雅樂)은 느리게, 길게, 유창하게, 부드럽게, 그러고 또 애처롭게, 모든 봄의 정다움과 끝까지 조화하지 않고는 안 두겠다는 듯이, 대동강에 흐르는 시커먼 봄물, 청류벽에 돋아나는 푸르른 풀어음, 심지어 사람의 가슴속에 봄에 뛰노는 불붙는 핏줄기까지라도, 습기 많은 봄공기를 다리 놓고 떨리지 않고는 두지 않는다.
Cùng với tiếng hát của các kỹ nữ, âm nhạc cung đình Triều Tiên vang lên từ đó – chậm rãi, dài lâu, trôi chảy, dịu dàng, lại còn tha thiết – như thể quyết không để vẻ thân tình của mùa xuân trôi qua mà không hòa hợp đến tận cùng. Âm nhạc ấy bắc nhịp cầu qua bầu không khí mùa xuân ẩm ướt, làm rung động cả dòng nước xuân đen sẫm chảy trên sông Đại Đồng, những mầm cỏ xanh non mọc lên ở vách Cheongnyubyeok, và thậm chí cả những mạch máu nóng bỏng đang nhảy múa trong lồng ngực con người khi mùa xuân đến.
- 봄이다. 봄이 왔다.
Là mùa xuân. Mùa xuân đã đến.
- 부드럽게 부는 조고만 바람이, 시커먼 조선 솔을 꿰며, 또는 돋아나는 풀을 슬치고 지나갈 때의 그 음악은, 다른 데서는 듣지 못할 아름다운 음악이다.
Âm thanh của cơn gió nhẹ thổi qua những cây thông đen của Triều Tiên, rồi khẽ lướt qua những mầm cỏ vừa nhú – đó là một khúc nhạc tuyệt đẹp mà ở nơi khác không thể nghe thấy.
- 아아, 사람을 취케 하는 푸르른 봄의 아름다움이여!
Ôi, vẻ đẹp xanh biếc của mùa xuân khiến con người say mê biết bao!
- 열다섯 살부터의 동경(東京) 생활에, 마음껏 이런 봄을 보지 못하였던 나는, 늘 이것을 보는 사람보다 곱 이상의 감명을 여기서 받지 않을 수 없다.
Từ khi mười lăm tuổi sống ở Tokyo, tôi đã không được thỏa thích nhìn ngắm một mùa xuân như thế này; vì vậy, so với những người vốn vẫn thấy cảnh này hằng ngày, tôi không thể không cảm nhận sự xúc động sâu sắc hơn gấp nhiều lần.
- 평양성 내에는, 겨우 툭툭 터진 땅을 헤치면 파릇파릇 돋아나는 나무새기와 돋아나려는 버들의 어음으로 봄이 온 줄 알 뿐 아직 완전히 봄이 안 이르렀지만, 이 모란봉 일대와 대동강을 넘어 보이는 가나안 옥토를 연상시키는 장림(長林)에는 마음껏 봄의 정다움이 이르렀다.
Trong thành Bình Nhưỡng, chỉ khi khẽ đào lớp đất mới thấy những mầm cây non vừa nhú và những chồi liễu đang chuẩn bị bật lên, người ta mới biết mùa xuân đã đến; nhưng mùa xuân vẫn chưa hoàn toàn tới. Tuy nhiên, ở vùng Moranbong này và khu rừng dài phía bên kia sông Đại Đồng – gợi nhớ đến vùng đất phì nhiêu như Canaan – thì vẻ thân tình của mùa xuân đã tràn đầy.
- 그러고 또 꽤 자란 밀보리들로 새파랗게 장식한 장림의 그 푸른 빛. 만족한 웃음을 띠고 그 벌에 서서 내다보는 농부의 모양은 보지 않아도 생각할 수가 있다.
Và màu xanh tươi của khu rừng dài ấy, nơi những luống lúa mì và lúa mạch đã lớn khá cao phủ kín một màu xanh biếc. Dù không nhìn thấy, người ta vẫn có thể tưởng tượng ra dáng vẻ của người nông dân đứng trên cánh đồng ấy, nở nụ cười mãn nguyện nhìn ra xung quanh.
- 구름은 자꾸 하늘을 날아다니는 모양이다.
Những đám mây vẫn không ngừng bay qua bầu trời.
- 그 밀 위에 비치었던 구름의 그림자는 그 구름과 함께 저편으로 물러가며, 거기는 세계를 아까 만들어 놓은 것 같은 새로운 녹빛이 퍼져 나간다.
Bóng của chúng in trên cánh đồng lúa mì rồi cùng mây trôi dần về phía xa, và nơi ấy lại lan tỏa một sắc xanh mới mẻ, như thể thế giới vừa được tạo ra.
- 바람이나 조곰 부는 때는 그 잘 자란 밀들은 물결같이 누웠다 일어났다.
Mỗi khi có cơn gió nhẹ thổi qua, những cây lúa mì đang lớn ấy lại nghiêng xuống rồi đứng dậy như những làn sóng.
- 일록일청(一綠一靑)으로 춤을 춘다.
Màu xanh của cây và màu xanh của trời hòa vào nhau, như đang nhảy múa.
- 그리고 봄의 한가함을 찬송하는 솔개들은, 높은 하늘에서 동그라미를 그리면서 더욱더 아름다운 봄에 향기로운 정취를 더한다.
Và những con diều hâu ca ngợi sự nhàn nhã của mùa xuân vẽ những vòng tròn trên bầu trời cao, làm cho bầu không khí mùa xuân đẹp đẽ ấy càng thêm hương sắc.
- “다스한 봄정에 솟아나리다. 다스한 봄정에 솟아나리다.”
“Trong tình xuân ấm áp, nó sẽ vươn lên. Trong tình xuân ấm áp, nó sẽ vươn lên.”
- 나는 두어 번 소리나게 읊은 뒤에 담배를 붙여 물었다.
Tôi đọc to câu ấy vài lần, rồi châm điếu thuốc và ngậm lên môi.
- 담뱃내는 무럭무럭 하늘로 올라간다.
Khói thuốc cuộn cuộn bay lên trời.
- 하늘에도 봄이 왔다.
Trên bầu trời cũng đã đến mùa xuân.
- 하늘은 낮았다.
Bầu trời thật thấp.
- 모란봉 꼭대기에 올라가면 넉넉히 만질 수가 있으리만큼 하늘은 낮다.
Thấp đến mức nếu leo lên đỉnh đồi Moranbong thì dường như có thể với tay chạm tới.
- 그리고 그 낮은 하늘보담은 오히려 더 높이 있는 듯한 분홍빛 구름은 뭉글뭉글 엉기면서 이리저리 날아다닌다.
Và những đám mây hồng ở cao hơn cả bầu trời thấp ấy lại tụ lại thành từng khối mềm mại, bay lững lờ khắp nơi.
- 나는 이러한 아름다운 봄경치에 이렇게 마음껏 봄의 속삭임을 들을 때는 언제든 유토피아를 아니 생각할 수 없다.
Mỗi khi được thỏa thích lắng nghe những lời thì thầm của mùa xuân giữa khung cảnh xuân tươi đẹp như thế này, tôi không thể không nghĩ đến một thế giới Utopia.
- 우리가 시시각각으로 애를 쓰며 수고하는 것은, 그 목적은 무엇인가.
Chúng ta luôn nỗ lực và vất vả từng giây từng phút – rốt cuộc mục đích là gì?
- 역시 유토피아 건설에 있지 않을까.
Có lẽ cũng là để xây dựng một Utopia chăng?
- 유토피아를 생각할 때는 언제든 그 ‘위대한 인격의 소유자’며 ‘사람의 위대함을 끝까지 즐긴’ 진나라 시황(秦始皇)을 생각지 않을 수 없다.
Mỗi khi nghĩ đến Utopia, tôi lại không thể không nhớ đến Tần Thủy Hoàng – “người sở hữu nhân cách vĩ đại” và là người “đã tận hưởng đến tận cùng sự vĩ đại của con người”.
- 우리가 어찌하면 죽지를 아니할까 하여, 소년 삼백을 배에 태워 불사약을 구하려 떠나보내며, 예술의 사치를 다하여 아방궁을 지으며, 매일 신하 몇천 명과 잔치로써 즐기며, 이리하여 여기 한 유토피아를 세우려던 시황은, 몇만의 역사가가 어떻다고 욕을 하든, 그는 참말로 인생의 향락자이며 역사 이후의 제일 큰 위인이라고 할 수가 있다.
Để tìm cách không phải chết, ông đã cho ba trăm thiếu niên lên thuyền đi tìm thuốc trường sinh; ông xây dựng cung A Bàng xa hoa bằng tất cả sự xa xỉ của nghệ thuật; mỗi ngày vui thú yến tiệc cùng hàng nghìn bề tôi. Con người ấy, người đã cố gắng dựng nên một Utopia ngay tại nơi này – dù cho hàng vạn sử gia có phê phán ông thế nào – vẫn có thể nói rằng ông thực sự là một kẻ tận hưởng cuộc đời và là một vĩ nhân lớn nhất kể từ khi lịch sử tồn tại.
- 그만한 순전한 용기 있는 사람이 있고야 우리 인류의 역사는 끝이 날지라도 한 ‘사람’을 가졌었다고 할 수 있다.
Chỉ cần từng có một con người với lòng dũng cảm thuần túy như vậy, thì dù lịch sử của nhân loại có kết thúc đi nữa, chúng ta vẫn có thể nói rằng loài người đã từng có một “con người” như thế.
- “큰사람이었었다.”
“Quả là một con người vĩ đại.”
- 하면서 나는 머리를 흔들었다.
Nói vậy, tôi khẽ lắc đầu.
- 이때다, 기자묘 근처에서 무슨 슬픈 음률이 봄공기를 진동시키며 날아오는 것이 들렸다.
Đúng lúc ấy, từ gần mộ Gija vang lên một giai điệu buồn nào đó, rung động không khí mùa xuân và bay đến.
- 나는 무심코 귀를 기울였다.
Tôi vô thức lắng tai nghe.
- ‘영유 배따라기’다.
Đó là “khúc hát chèo thuyền vùng Yeongyu”.
- 그것도 웬만한 광대나 기생은 발꿈치에도 및지 못하리만큼, 그만큼 그 배따라기의 주인은 잘 부르는 사람이었다.
Hơn nữa, người hát khúc chèo thuyền ấy hay đến mức những nghệ sĩ hát rong hay kỹ nữ bình thường cũng khó mà sánh được.
- 비나이다, 비나이다.
Con xin khấn, con xin khấn.
- 산천후토 일월성신 하나님전 비나이다.
Con xin khấn trước trời đất, trước mặt trời mặt trăng và các vì sao, trước Đức Chúa Trời…
- 실낱 같은 우리 목숨 살려 달라 비나이다.
Xin khấn cho sinh mạng mong manh như sợi chỉ của chúng con được sống.
- 에―야, 어그여지야.
Ê – ya, ơ-gơ-yeo-ji-ya. (tiếng đệm trong bài hát chèo thuyền)
- 여기까지 이르렀을 때에 저편 아래 물에서 장고(長鼓) 소리와 함께 기생의 노래가 울리어 오며 배따라기는 그만 안 들리게 되었다.
Khi bài hát đến đoạn ấy, từ phía mặt nước bên kia vang lên tiếng trống janggu cùng tiếng hát của kỹ nữ, khiến khúc baettaragi không còn nghe rõ nữa.
- 나는 이 년 전 한여름을 영유서 지내 본 일이 있다.
Hai năm trước, vào một mùa hè, tôi đã từng sống một thời gian ở Yeongyu.
- 배따라기의 본고장인 영유를 몇 달 있어 본 사람은 그 배따라기에 대하여 언제든 한 속절없는 애처로움을 깨달을 것이다.
Bất cứ ai từng ở vài tháng tại Yeongyu – quê hương của khúc baettaragi – chắc chắn sẽ luôn cảm nhận được một nỗi buồn man mác khó tả khi nghe bài hát ấy.
- 영유, 이름은 모르지만 ×산에 올라가서 내다보면 앞은 망망한 황해이니, 그곳 저녁때의 경치는 한번 본 사람은 영구히 잊을 수가 없으리라.
Yeongyu – tôi không nhớ tên ngọn núi ấy – nhưng khi leo lên và nhìn ra phía trước thì thấy biển Hoàng Hải mênh mông; cảnh hoàng hôn ở nơi ấy, một khi đã nhìn thấy thì suốt đời không thể quên.
- 불덩이 같은 커다란 시뻘건 해가 남실남실 넘치는 바다에 도로 빠질 듯 도로 솟아오를 듯 춤을 추며, 거기서 때때로 보이지 않는 배에서 ‘배따라기’만 슬프게 날아오는 것을 들을 때엔 눈물 많은 나는 때때로 눈물을 흘렸다.
Mặt trời đỏ rực như một khối lửa khổng lồ nhảy múa trên mặt biển dập dềnh như muốn chìm xuống rồi lại muốn nhô lên; và khi từ đâu đó trên biển thỉnh thoảng vang đến tiếng baettaragi buồn bã từ một con thuyền không nhìn thấy, tôi – vốn là người dễ xúc động – đôi khi đã rơi nước mắt.
- 이로 보아서, 어떤 원의 아내가 자기의 모든 영화를 낡은 신같이 내어던지고 뱃사람과 정처없는 물길을 떠났다 함도 믿지 못할 말이랄 수가 없다.
Vì thế, câu chuyện rằng có người vợ của một vị quan nào đó đã vứt bỏ tất cả vinh hoa của mình như vứt một đôi giày cũ để cùng một người chèo thuyền lênh đênh trên dòng nước vô định – nghe ra cũng không phải là điều khó tin.
- 영유서 돌아온 뒤에도 그 ‘배따라기’는 내 마음에 깊이 새기어져 잊으려야 잊을 수가 없었고, 언제 한번 다시 영유를 가서 그 노래를 한번 더 들어 보고 그 경치를 다시 한번 보고 싶은 생각이 늘 떠나지를 않았다.
Sau khi trở về từ Yeongyu, khúc baettaragi ấy vẫn khắc sâu trong lòng tôi đến mức dù muốn quên cũng không thể quên; và ý nghĩ rằng một ngày nào đó sẽ lại đến Yeongyu để nghe lại bài hát ấy thêm lần nữa và ngắm lại cảnh ấy vẫn luôn quanh quẩn trong tâm trí tôi.
- 장고 소리와 기생의 노래는 멎고 배따라기만 구슬프게 날아온다. 결결이 부는 바람으로 말미암아 때때로는 들을 수가 없으되, 나의 기억과 곡조를 종합하여 들은 배따라기는 이 대목이다.
Tiếng trống janggu và tiếng hát của kỹ nữ đã dừng lại, chỉ còn khúc baettaragi buồn bã bay đến. Vì gió thổi từng cơn nên đôi khi không nghe rõ; nhưng dựa vào ký ức của mình và giai điệu của bài hát, tôi nghe được đoạn này:
- 강변에 나왔다가 나를 보더니만 혼비백산하여 꿈인지 생시인지 와르륵 달려들어 섬섬옥수로 부쳐잡고 호천망극하는 말이 ‘하늘로서 떨어지며 땅으로서 솟아났나 바람결에 묻어 오고 구름길에 쌔여 왔나 이리 서로 붙들고 울음 울 제 인리 제인이며 일가 친척이 모두 모여 여기까지 들은 나는 마침내 참지 못하고 벌떡 일어서서 소나무 가지에 걸었던 모자를 내려 쓰고, 그곳을 찾으러 모란봉 꼭대기에 올라섰다.
“Vừa ra bờ sông thì nhìn thấy tôi,
hồn xiêu phách lạc chẳng biết là mơ hay thật,
chạy ào đến, dùng đôi tay ngọc mảnh mai ôm chặt lấy tôi,
rồi khóc than thảm thiết rằng:
‘Chàng từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất chui lên?
Chàng theo làn gió mà đến hay theo con đường mây mà đến?
Khi chúng ta ôm nhau khóc như thế này,
người trong làng và họ hàng thân thích đều tụ họp cả…”
Nghe đến đây, tôi cuối cùng không chịu nổi nữa, bật dậy, đội chiếc mũ đang treo trên cành thông lên đầu, rồi leo lên đỉnh đồi Moranbong để tìm nơi phát ra tiếng hát ấy.
- 꼭대기는 좀더 노랫소리가 잘 들린다.
Trên đỉnh đồi, tiếng hát nghe rõ hơn một chút.
- 그는, 배따라기의 맨 마지막, 여기를 부른다.
Người ấy đang hát đoạn cuối của bài baettaragi.
- 밥을 빌어서 죽을 쑬지라도 제발 덕분에 뱃놈 노릇은 하지 마라
“Dù phải đi xin cơm nấu cháo mà ăn, thì cũng đừng bao giờ làm nghề chèo thuyền nữa.”
- 에―야 어그여지야
Ê – ya, ơ-gơ-yeo-ji-ya.
- 그의 소리로써 방향을 찾으려던 나는 그만 그 자리에 섰다.
Tôi định dựa vào tiếng hát để xác định hướng, nhưng rồi lại đứng khựng tại chỗ.
- “어딘가? 기자묘? 혹은 을밀대(乙密臺)?”
“Ở đâu nhỉ? Gần mộ Gija? Hay là Eulmil-dae?”
- 그러나 나는 오래 서 있을 수가 없었다.
Nhưng tôi không thể đứng đó lâu được.
- 어떻든 찾아보자 하고, 현무문으로 가서 문 밖에 썩 나섰다.
Dù thế nào cũng phải đi tìm thử xem sao, nghĩ vậy, tôi đi đến cổng Hyeonmu, rồi bước nhanh ra ngoài.
- 기자묘의 깊은 솔밭은 눈앞에 쫙 퍼진다.
Khu rừng thông sâu thẳm quanh mộ Gija trải rộng ngay trước mắt tôi.
- “어딘가?”
“Ở đâu nhỉ?”
- 나는 또 물어 보았다.
Tôi lại hỏi lần nữa.
- 이때에 그는 또다시 배따라기를 시초부터 부른다.
Lúc ấy, ông ta lại bắt đầu hát khúc baettaragi từ đầu.
- 그 소리는 왼편에서 온다.
Tiếng hát ấy vọng lại từ phía bên trái.
- 왼편이구나 하면서, 소리나는 곳을 더듬어서 소나무 틈으로 한참 돌다가, 겨우, 기자묘치고는 그중 하늘이 넓고 밝은 곳에 혼자서 뒹굴고 있는 그를 찾아내었다.
“Ở phía trái rồi.” Nghĩ vậy, tôi lần theo hướng tiếng hát, len qua những hàng thông một lúc lâu, cuối cùng cũng tìm thấy ông ta – đang nằm lăn một mình ở một khoảng đất trong khu mộ Gija, nơi bầu trời rộng và sáng hơn cả.
- 나의 생각한 바와 같은 얼굴이다.
Khuôn mặt của ông đúng như tôi đã tưởng tượng.
- 얼굴, 코, 입, 눈, 몸집이 모두 네모나고 그의 이마의 굵은 주름살과 시커먼 눈썹은 고생 많이 함과 순진한 성격을 나타낸다.
Khuôn mặt, mũi, miệng, đôi mắt và cả vóc người đều vuông vức; những nếp nhăn sâu trên trán và đôi lông mày đen rậm của ông cho thấy ông đã trải qua nhiều gian khổ và có một tính cách chất phác.
- 그는 어떤 신사가 자기를 들여다보는 것을 보고 노래를 그치고 일어나 앉는다.
Khi thấy có một người lạ đang nhìn mình, ông dừng hát rồi ngồi dậy.
- “왜? 그냥 하지요.”
“Sao vậy? Cứ hát tiếp đi.”
- 하면서 나는 그의 곁에 가 앉았다.
Nói vậy, tôi đến ngồi xuống bên cạnh ông.
- “머…….”
“Ờ….”
- 할 뿐 그는 눈을 들어서 터진 하늘을 쳐다본다.
Chỉ nói vậy thôi, rồi ông ngước mắt nhìn lên bầu trời rộng mở phía trên.
- 좋은 눈이었다.
Đó là một đôi mắt đẹp.
- 바다의 넓고 큼이 유감없이 그의 눈에 나타나 있다.
Sự rộng lớn và mênh mông của biển cả hiện lên rõ ràng trong đôi mắt ấy.
- 그는 뱃사람이라 나는 짐작하였다.
Tôi đoán ông là một người đi biển.
- “고향이 영유요?”
“Quê ông ở Yeongyu phải không?”
- “예, 머, 영유서 나기는 했디만 한 이십 년 영윤 가보디두 않았시요.”
“Vâng… tôi sinh ra ở Yeongyu, nhưng cũng đã gần hai mươi năm rồi chưa trở về đó.”
- “왜, 이십 년씩 고향엘 안 가요?”
“Sao lại hai mươi năm không về quê?”
- “사람의 일이라니 마음대로 됩데까?”
“Việc đời đâu phải lúc nào cũng theo ý mình được.”
- 그는, 왜 그러는지, 한숨을 짓는다.
Không hiểu vì sao, ông khẽ thở dài.
- “거저, 운명이 데일 힘셉디다.”
“Chỉ là… số phận mạnh quá thôi.”
- 운명의 힘이 제일 세다는 그의 소리는 삭이지 못할 원한과 뉘우침이 섞여 있다.
Trong giọng nói của ông khi nói rằng sức mạnh của số phận là lớn nhất, dường như có lẫn cả nỗi oán hận không thể kìm nén và sự hối hận.
- “그래요?”
“Vậy sao?”
- 나는 다만 그를 건너다볼 뿐이다.
Tôi chỉ nhìn ông qua một cái.
- 한참 잠잠하니 있다가 나는 다시 말하였다.
Sau khi im lặng một lúc khá lâu, tôi lại lên tiếng.
- “자, 노형의 경험담이나 한번 들어 봅시다. 감출 일이 아니면 한번 이야기해 보소.”
“Nào, thử kể cho tôi nghe một câu chuyện trong cuộc đời của ông xem. Nếu không phải chuyện cần giấu, thì cứ kể thử đi.”
- “머, 감출 일은…….”
“Ừm… cũng chẳng có gì phải giấu…”
- “그럼, 어디 들어 봅시다그려.”
“Vậy thì kể thử cho tôi nghe xem.”
- 그는 다시 하늘을 쳐다보았다.
Ông lại ngước nhìn lên bầu trời.
- 그러나 좀 있다가, “하디요.” 하면서 내가 담배를 붙이는 것을 보고 자기도 담배를 붙여 물고 이야기를 꺼낸다.
Nhưng một lúc sau, ông nói: “Được thôi.” Vừa nói vậy, thấy tôi châm thuốc, ông cũng châm một điếu thuốc, ngậm lên miệng rồi bắt đầu kể chuyện.
- “닞히디두 않는 십구 년 전 팔월 열하룻날 일인데요.” 하면서 그가 이야기한 바는 대략 이와 같은 것이다.
“Chuyện này xảy ra vào ngày mười một tháng tám, cách đây mười chín năm – một ngày mà tôi vẫn không thể nào quên.” Nói rồi, câu chuyện ông kể đại khái là như thế này.
- 그의 살던 마을은 영유 고을서 한 이십 리 떠나 있는, 바다를 향한 조고만 어촌이다.
Ngôi làng nơi ông sống là một làng chài nhỏ hướng ra biển, cách huyện Yeongyu chừng hai mươi dặm.
- 그의 살던 조고만 마을(서른 집쯤 되는)에서는 그는 꽤 유명한 사람이었다.
Trong ngôi làng nhỏ nơi ông sống (chỉ khoảng ba mươi nóc nhà), ông là một người khá nổi tiếng.
- 그의 부모는 모두 열댓 세 났을 때 돌아갔고, 남은 사람이라고는 곁집에 딴살림하는 그의 아우 부처와 그 자기 부처뿐이었다.
Cha mẹ ông đều qua đời khi ông khoảng mười mấy tuổi; người thân còn lại chỉ có vợ chồng người em trai sống tách nhà ở bên cạnh và vợ chồng ông mà thôi.
- 그들 형제가 그 마을에서 제일 부자이고 또 제일 고기잡이를 잘하였고 그중 글이 있었고 배따라기도 그 마을에서 빼나게 그 형제가 잘 불렀다.
Hai anh em họ là những người giàu nhất trong làng, lại đánh cá giỏi nhất; trong số đó, ông là người có học, và khúc baettaragi cũng chính hai anh em họ là những người hát hay nhất trong làng.
- 말하자면 그 형제가 그 동네의 대표적 사람이었다.
Có thể nói rằng hai anh em họ là những người tiêu biểu của ngôi làng ấy.
- 팔월 보름은 추석 명절이다.
Ngày rằm tháng tám là Tết Trung Thu.
- 팔월 열하룻날 그는 명절에 쓸 장도 볼 겸, 그의 아내가 늘 부러워하는 거울도 하나 사올 겸, 장으로 향하였다.
Vào ngày mười một tháng tám, ông lên chợ – vừa để mua sắm những thứ cần dùng cho dịp lễ, vừa để mua một chiếc gương mà vợ ông vẫn luôn ao ước.
- “당손네 집에 있는 것보다 큰 것이요. 닞디 말구요.”
“Nhớ mua cái to hơn cái nhà ông Dangson có đấy nhé. Đừng quên đấy.”
- 그의 아내는 길까지 따라나오면서 잊지 않도록 부탁하였다.
Vợ ông còn đi theo tiễn ra tận đường và dặn đi dặn lại để ông đừng quên.
- “안 닞어.”
“Không quên đâu.”
- 하면서 그는 떠오르는 새빨간 햇빛을 앞으로 받으면서 자기 마을을 나섰다.
Nói vậy, ông rời khỏi làng mình, đón ánh nắng đỏ rực của buổi sớm đang mọc phía trước.
- 그는 아내를 (이렇게 말하기는 우습지만) 고와했다.
Ông rất yêu vợ mình (nói thế này nghe có vẻ buồn cười).
- 그의 아내는 촌에는 드물도록 연연하고도 예쁘게 생겼다. (그는 나에게 이렇게 말하였다.)
Vợ ông xinh xắn đến mức hiếm thấy ở một vùng quê; lại còn dịu dàng và duyên dáng. (Ông đã nói với tôi như vậy.)
- “성내(평양) 덴줏골(갈보촌)을 가두 그만한 거 쉽디 않갔시요.”
“Ngay cả lên thành Bình Nhưỡng, vào tận khu Denjutgol (khu kỹ nữ), cũng khó mà tìm được người đẹp như thế.”
- 그러니까 촌에서는, 그리고 그 당시에는 남에게 우습게 보이도록 그 내외의 새는 좋았다.
Vì vậy, ở trong làng – và vào thời đó – tình cảm vợ chồng của họ tốt đến mức đôi khi khiến người khác phải bật cười.
- 늙은이들은 계집에게 혹하지 말라고 흔히 그에게 권고하였다.
Những người già trong làng thường khuyên ông rằng đừng quá mê mẩn đàn bà.
- 부처의 새는 좋았지만―—아니 오히려 좋으므로 그는 아내에게 샘을 많이 하였다.
“Tình cảm vợ chồng họ rất tốt – nhưng cũng chính vì quá tốt như vậy mà ông lại thường xuyên ghen với vợ mình.”.
- 그러고 그의 아내는 시기를 받을 일을 많이 하였다.
Và vợ ông cũng làm nhiều việc khiến ông ghen.
- 품행이 나쁘다는 것이 아니라, 그의 아내는 대단히 천진스럽고 쾌활한 성질로서 아무에게나 말 잘 하고 애교를 잘 부렸다.
Không phải vì cô ấy có hạnh kiểm xấu; trái lại, vợ ông có tính cách rất hồn nhiên và vui vẻ, nói chuyện với ai cũng thân mật và rất biết làm duyên.
- 그 동네에서는 무슨 명절이나 되면, 집이 그중 정결함을 핑계삼아 젊은이들은 모두 그의 집에 모이고 하였다.
Trong làng, mỗi khi có dịp lễ hay ngày hội nào đó, lấy cớ nhà ông sạch sẽ nhất, đám thanh niên thường tụ tập cả ở nhà ông.
- 그 젊은이들은 모두 그의 아내에게 ‘아즈마니’라 부르고, 그의 아내는 ‘아즈바니 아즈바니’ 하며 그들과 지껄이고 즐기며, 그 웃기 잘 하는 입에는 늘 웃음을 흘리고 있었다.
Những chàng trai ấy đều gọi vợ ông là “Ajmani”, còn vợ ông thì cứ “Ajbani, Ajbani” mà cười nói, đùa giỡn với họ; trên đôi môi hay cười ấy lúc nào cũng ánh lên nụ cười.
- 그럴 때마다 그는 한편 구석에서 눈만 힐근거리며 있다가 젊은이들이 돌아간 뒤에는 불문곡직하고 아내에게 덤벼들어 발길로 차고 때리며, 이전에 사다 주었던 것을 모두 걷어올린다.
Mỗi lần như vậy, ông chỉ ngồi ở một góc, liếc mắt nhìn đầy khó chịu; đến khi đám thanh niên ra về, ông liền không cần hỏi phải trái gì, lao vào vợ, vừa đá vừa đánh, thậm chí còn thu lại hết những thứ trước đây ông từng mua cho cô.
- 싸움을 할 때에는 언제든 곁집에 있는 아우 부처가 말리러 오며, 그렇게 되면 언제든 그는 아우 부처까지 때려 주었다.
Mỗi khi xảy ra cãi vã, người em trai sống bên cạnh thường chạy sang can ngăn; và khi ấy, ông lại đánh luôn cả em trai mình.
- 그가 아우에게 그렇게 구는 데는 이유가 있었다.
Việc ông đối xử với em trai như vậy cũng có lý do.
- 그의 아우는, 시골 사람에게는 쉽지 않도록 늠름한 위엄이 있었고, 맨날 바닷바람을 쏘였지만 얼굴이 희었다.
Em trai ông là người có phong thái uy nghi, điều hiếm thấy ở người nông thôn; dù suốt ngày dãi gió biển, khuôn mặt vẫn trắng trẻo.
- 이것뿐으로도 시기가 된다 하면 되지만, 특별히 아내가 그의 아우에게 친절히 하는 데는, 그는 속이 끓어 못 견디었다.
Chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ khiến ông ghen tị; nhưng đặc biệt hơn, mỗi khi thấy vợ mình đối xử thân thiện với em trai ông, ông lại sôi máu đến mức không chịu nổi.
- 그가 영유를 떠나기 반 년 전쯤―—다시 말하자면 그가 거울을 사러 장에 갈 때부터 반 년 전쯤 그의 생일날이었다.
Khoảng nửa năm trước khi ông rời khỏi Yeongyu – nói cách khác, khoảng nửa năm trước ngày ông đi chợ mua gương – đó là ngày sinh nhật của ông.
- 그의 집에서는 음식을 차려서 잘 먹었는데, 그에게는 괴상한 버릇이 있었으니, 맛있는 음식은 남겨 두었다가 좀 있다 먹고 하는 것이 습관이었다.
Hôm ấy trong nhà bày biện nhiều món ăn và họ ăn uống rất thịnh soạn; nhưng ông có một thói quen kỳ lạ: những món ngon ông thường để dành lại, một lúc sau mới ăn tiếp.
- 그의 아내도 이 버릇은 잘 알 터인데 그의 아우가 점심때쯤 오니까, 아까 그가 아껴서 남겨 두었던 그 음식을 아우에게 주려 하였다.
Vợ ông vốn biết rất rõ thói quen ấy; vậy mà khi người em trai đến vào khoảng giờ ăn trưa, cô lại định đem món ăn mà lúc nãy ông đã để dành đó cho em trai ăn.
- 그는 눈을 부릅뜨고 ‘못 주리라’고 암호하였지만 아내는 그것을 보았는지 못 보았는지 그의 아우에게 주어 버렸다.
Ông trợn mắt ra hiệu rằng “không được cho”, nhưng không biết vợ ông có nhìn thấy hay không, cô vẫn đưa món ăn đó cho em trai ông.
- 그는 마음속이 자못 편치 못하였다.
Trong lòng ông lập tức cảm thấy rất khó chịu.
- ‘트집만 있으면 이년을……’ 그는 마음먹었다.
“Chỉ cần có cớ thôi là mình sẽ cho con đàn bà này một trận…” ông thầm nghĩ.
- 그의 아내는 시아우에게 상을 준 뒤에 물러오다가 그만 그의 발을 조금 밟았다.
Sau khi đưa thức ăn cho em chồng, vợ ông quay lại thì vô tình giẫm nhẹ lên chân ông.
- “이년!”
“Con đàn bà này!”
- 그는 힘껏 발을 들어서 아내를 냅다 찼다.
Ông lập tức giơ chân lên và đá mạnh vào cô.
- 그의 아내는 상 위에 거꾸러졌다가 일어난다.
Vợ ông ngã nhào lên mâm cơm rồi lại đứng dậy.
- “이년, 사나이 발을 짓밟는 년이 어디 있어!”
“Con đàn bà này! Trên đời có con đàn bà nào dám giẫm lên chân đàn ông như thế không!”
- “거 좀 밟아서 발이 부러졌쉐까?”
“Chỉ giẫm một chút thôi mà chân ông gãy rồi hay sao?”
- 아내는 낯이 새빨개져서 울음 섞인 소리로 고함친다.
Mặt vợ ông đỏ bừng lên, cô hét lên bằng giọng lẫn nước mắt.
- “이년! 말대답이…….”
“Con đàn bà này! Dám cãi lại à…!”
- 그는 일어서서 아내의 머리채를 휘어잡았다.
Ông đứng bật dậy và túm chặt lấy tóc vợ.
- “형님! 왜 이리십니까.”
“Anh ơi! Sao anh lại như vậy?”
- 아우가 일어서면서 그를 붙잡았다.
Người em trai đứng dậy và giữ ông lại.
- “가만있거라, 이놈의 자식.”
“Thằng kia mày đứng yên đó!”
- 하며 그는 아우를 밀친 뒤에 아내를 되는 대로 내리찧었다.
Nói rồi, ông đẩy em trai ra và tiếp tục đánh vợ tới tấp.
- “죽일 년, 이년! 나가거라!”
“Con đàn bà đáng chết! Cút ra khỏi nhà này!”
- “죽에라, 죽에라! 난, 죽어도 이 집에선 못 나가!”
“Giết tôi đi! Giết đi! Dù có chết tôi cũng không rời khỏi nhà này!”
- “못 나가?”
“Không đi à?”
- “못 나가디 않구. 뉘 집이게…….”
“Không đi đấy! Đây là nhà của ai chứ…!”
- 이때다. 그의 마음에는 그 ‘못 나가겠다’는 아내의 마음이 푹 들이 박혔다.
Chính lúc ấy, trong lòng ông bỗng khắc sâu câu nói của vợ: “Tôi sẽ không rời khỏi nhà này.”
- 그 이상 때리기가 싫었다. 우두커니 눈만 흘기고 있다가 그는, “망할 년, 그럼 내가 나갈라.”
Ông không còn muốn đánh vợ nữa. Ông chỉ đứng đó trừng mắt nhìn một lúc, rồi nói:
“Con đàn bà đáng ghét! Vậy thì để tôi đi!”
- 하고 그만 문 밖으로 뛰어나와서, “형님, 어디 갑니까.”
Nói xong, ông lao ra khỏi cửa. Người em trai gọi với theo: “Anh ơi, anh đi đâu vậy?”
- 하는 아우의 말에는 대답도 안 하고, 곁동네 탁주집으로 뒤도 안 돌아보고 가서, 거기 있는 술 파는 계집과 술상 앞에 마주 앉았다.
Nhưng ông không trả lời, cứ thế đi thẳng đến quán rượu makgeolli ở làng bên, không hề ngoái lại, rồi ngồi đối diện với cô gái bán rượu trước bàn rượu.
- 그날 저녁 얼근히 취한 그는 아내를 위하여 떡을 한 돈 어치 사가지고 집으로 돌아왔다.
Tối hôm đó, khi đã hơi say, ông mua một ít bánh gạo để mang về cho vợ rồi trở về nhà.
- 이리하여 또 서너 달은 평화가 이르렀다.
Từ đó, thêm ba bốn tháng nữa trôi qua trong yên bình.
- 그러나 이 평화가 언제까지든 계속될 수가 없었다.
Nhưng sự yên bình ấy không thể kéo dài mãi.
- 그의 아우로 말미암아 또 평화는 쪼개져 나갔다.
Chính vì người em trai mà sự yên bình ấy lại một lần nữa bị phá vỡ.
- 오월 초승부터 영유 고을 출입이 잦던 그의 아우는, 오월 그믐께부터는 고을서 며칠씩 묵어 오는 일이 많았다.
Từ đầu tháng năm, người em trai của ông thường xuyên ra vào huyện Yeongyu; đến khoảng cuối tháng năm thì còn hay ở lại trong huyện vài ngày rồi mới về.
- 함께, 고을에 첩을 얻어두었다는 소문이 퍼졌다.
Đồng thời, tin đồn lan ra rằng anh ta đã nuôi một người thiếp trong huyện.
- 이 소문이 있은 뒤는 아내는 그의 아우가 고을 들어가는 것을 벌레보다도 더 싫어하고, 며칠 묵어나 오는 때면 곧 아우의 집으로 가서 그와 담판을 하며 심지어 동서 되는 아우의 처에게까지 못 가게 하지 않는다고 싸우는 일이 있었다.
Từ khi có tin đồn ấy, vợ ông ghét việc em trai ông vào huyện còn hơn cả ghét sâu bọ; mỗi khi anh ta ở lại mấy ngày mới về, cô liền sang nhà em chồng để nói chuyện cho ra lẽ, thậm chí còn cãi nhau với em dâu vì không ngăn cản chồng mình đi đến những nơi như thế.
- 칠월 초승께 그의 아우는 고을에 들어가서 열흘쯤 묵어 온 일이 있었다. 이때도 전과 같이 그의 아내는 그의 아우며 제수와 싸우다 못하여, 마침내 그에게까지 와서 아우가 그런 못된 데를 다니는 것을 그냥 둔다고, 해보자 한다.
Khoảng đầu tháng bảy, em trai ông vào huyện và ở lại khoảng mười ngày mới về. Lần này cũng giống như trước, sau khi cãi nhau với em trai và em dâu, vợ ông cuối cùng lại đến tìm ông, trách ông vì đã để mặc em trai đi đến những nơi không đứng đắn ấy.
- 그 꼴을 곱게 보지 않았던 그는 첫마디로 고함을 쳤다.
Ông vốn đã không ưa cảnh đó nên ngay câu đầu tiên đã quát lên.
- “네게 상관이 무에가? 듣기 싫다.”
“Chuyện đó liên quan gì đến cô? Tôi không muốn nghe.”
- “못난둥이. 아우가 그런 델 댕기는 걸 말리디두 못하구!”
“Đồ vô dụng! Em trai anh đi đến những nơi như thế mà anh cũng không biết ngăn lại!”
- 분김에 이렇게 그의 아내는 고함쳤다.
Trong cơn tức giận, vợ ông hét lên như vậy.
- “이년, 무얼?”
“Con đàn bà này, cô nói cái gì?”
- 그는 벌떡 일어섰다.
Ông bật dậy.
- “못난둥이!”
“Đồ vô dụng!”
- 그 말이 채 끝나기 전에 그의 아내는 악 소리와 함께 그 자리에 거꾸러졌다.
Chưa dứt lời, vợ ông đã kêu lên một tiếng thét rồi ngã gục xuống ngay tại chỗ.
- “이년! 사나이에게 그따윗말버릇 어디서 배완!”
“Con đàn bà này! Ai dạy cô cái kiểu nói năng như thế với đàn ông hả!”
- “에미네 때리는 건 어디서 배왔노! 못난둥이.”
“Còn anh thì học ở đâu cái thói đánh vợ hả! Đồ vô dụng!”
- 그의 아내는 울음 소리로 부르짖었다.
Vợ ông vừa khóc vừa kêu lên như vậy.
- “샹년 그냥? 나갈, 우리집에 있디 말구 나갈.”
“Con đàn bà đê tiện này, còn cãi nữa à? Cút đi! Đừng ở trong nhà tôi nữa, cút đi!”
- 그는 내리찧으면서 부르짖었다. 그리고 아내를 문을 열고 밀쳤다.
Ông vừa đánh tới tấp vừa hét lên, rồi mở cửa và đẩy vợ ra ngoài.
- “나가디 않으리!”
“Tôi không đi!”
- 하고 그의 아내는 울면서 뛰어나갔다.
Vừa khóc, vợ ông vừa chạy vụt ra ngoài.
- “망할년!”
“Con mụ bần tiện!”
- 토하는 듯이 중얼거리고 그는 그 자리에 주저앉았다.
Ông lẩm bẩm như nhổ ra từng chữ rồi ngồi phịch xuống ngay tại chỗ.
- 그의 아내는 해가 져서 어두워져도 돌아오지 않았다.
Vợ ông không trở về, dù trời đã tối hẳn.
- 일단 내어쫓기는 하였지만 그는 아내의 돌아옴을 기다리고 있었다.
Dù chính ông là người đuổi cô đi, ông vẫn chờ vợ quay lại.
- 어두워져서도 그는 불도 안 켜고 성이 나서 우들우들 떨면서 아내의 돌아오기를 기다렸다.
Trời tối rồi mà ông vẫn không thắp đèn, ngồi đó run lên vì tức giận và chờ vợ trở về.
- 그러나 그의 아내의 참 기쁜 듯이 웃는 소리가 그의 아우의 집에서 밤새도록 울리었다.
Nhưng suốt cả đêm, từ nhà người em trai lại vang lên tiếng cười vui vẻ của vợ ông.
- 그는 움쩍도 안 하고 그 자리에 앉아서 밤을 새운 뒤에, 새벽 동터 올 때 아내와 아우를 죽이려고 부엌에 가서 식칼을 가지고 들어와서 문을 벌컥 열었다.
Ông ngồi yên bất động suốt đêm như vậy. Đến lúc rạng sáng, khi trời bắt đầu hửng sáng, ông quyết định giết cả vợ lẫn em trai mình. Ông vào bếp lấy một con dao rồi trở lại, giật mạnh cánh cửa ra.
- 그의 아내로서 만약 근심스러운 얼굴을 하고 그 문 밖에 우두커니 서서 문을 들여다보고 있지 않았다면, 그는 아내와 아우를 죽이고야 말았으리라.
Nếu lúc đó vợ ông không đứng ngay ngoài cửa với vẻ mặt đầy lo lắng, lặng lẽ nhìn vào trong, thì có lẽ ông đã giết cả vợ và em trai mình rồi.
- 그는 아내를 보는 순간 마음에 가득 차는 사랑을 깨달으면서, 칼을 내던지고 뛰어나가서 아내의 머리채를 휘어잡고, 이년 하면서 들어와서 뺨을 물어뜯으면서 함께 이리저리 자빠져서 뒹굴었다.
Nhưng khi vừa nhìn thấy vợ, ông bỗng cảm nhận được tình yêu tràn đầy trong lòng mình. Ông ném con dao đi, chạy ra túm lấy tóc vợ, vừa chửi “con đàn bà này!” vừa kéo cô vào trong; hai người giằng co, vật lộn, lăn qua lăn lại trên sàn nhà.
- 그런 이야기를 다 하려면 끝이 없으되 다만 ‘그’ ‘그의 아내’ ‘그의 아우’ 세 사람의 삼각관계는 대략 이와 같았다.
Nếu kể hết mọi chuyện thì sẽ không bao giờ dứt; nhưng nói tóm lại, mối quan hệ tay ba giữa ông – vợ ông – và em trai ông đại khái là như vậy.
- 각설―—
Tạm gác câu chuyện đó sang một bên.
- 거울은 마침 장에 마음에 맞는 것이 있었다.
Còn chiếc gương thì đúng lúc ở chợ có một chiếc vừa ý ông.
- 지금 것과 대보면 어떤 때는 코도 크게 보이고 입이 작게도 보이는 것이지만, 그 당시에는, 그리고 그런 촌에서는 둘도 없는 귀물이었다.
So với những chiếc gương bây giờ thì có khi soi vào thấy mũi to ra, lúc lại thấy miệng nhỏ đi; nhưng vào thời đó, và ở một vùng quê như thế, nó là một món đồ quý hiếm không gì sánh được.
- 거울을 사가지고 장을 본 뒤에 그는 이 거울을 아내에게 주면 그 기뻐할 모양을 생각하며, 새빨간 저녁 햇빛을 받는 넘치는 듯한 바다를 안고, 자기 집으로, 늘 들러 오던 탁주집에도 안 들러서 돌아왔다.
Sau khi mua chiếc gương và mua sắm xong ở chợ, ông vừa ôm chiếc gương nghĩ đến cảnh vợ mình sẽ vui mừng thế nào khi nhận được nó, vừa đi về nhà. Ông đi dọc theo bờ biển tràn ngập ánh hoàng hôn đỏ rực, và hôm đó thậm chí cũng không ghé vào quán rượu makgeolli quen thuộc như mọi lần.
- 그러나 그가 그의 집 방 안에 들어설 때에는 뜻도 안 하였던 광경이 그의 눈에 벌이어 있었다.
Nhưng khi bước vào phòng trong nhà mình, trước mắt ông lại hiện ra một cảnh tượng hoàn toàn ngoài dự liệu.
- 방 가운데는 떡상이 있고, 그의 아우는 수건이 벗어져서 목 뒤로 늘어지고 저고리 고름이 모두 풀어져 가지고 한편 모퉁이에 서 있고, 아내도 머리채가 모두 뒤로 늘어지고 치마가 배꼽 아래 늘어지도록 되어 있으며, 그의 아내와 아우는 그를 보고 어찌할 줄을 모르는 듯이 움쩍도 안 하고 서 있었다.
Giữa phòng có đặt một mâm bánh gạo; người em trai của ông đứng ở một góc, khăn đội đầu đã tuột xuống sau gáy, dây buộc áo cũng đã tuột hết; còn vợ ông thì tóc rũ xõa ra phía sau, váy tụt xuống đến dưới rốn. Hai người họ nhìn ông, đứng bất động như không biết phải làm gì.
- 세 사람은 한참 동안 어이가 없어서 서 있었다.
Ba người cứ đứng sững như vậy một lúc lâu, ngơ ngác không nói nên lời.
- 그러나 좀 있다가 마침내 그의 아우가 겨우 말했다.
Một lúc sau, cuối cùng người em trai cũng cất tiếng nói trước.
- “그놈의 쥐 어디 갔니?”
“Con chuột đó chạy đi đâu rồi nhỉ?”
- “흥! 쥐? 훌륭한 쥐 잡댔구나!”
“Hừ! Chuột à? Bắt chuột thật giỏi nhỉ!”
- 그는 말을 끝내지도 않고 짐을 벗어던지고 뛰어가서 아우의 멱살을 그러잡았다.
Chưa nói hết câu, ông đã ném phịch đồ đạc xuống, lao tới túm cổ áo người em trai.
- “형님! 정말 쥐가―—”
“Anh ơi! Thật sự là có con chuột – ”
- “쥐? 이놈! 형수하고 그런 쥐 잡는 놈이 어디 있니?”
“Chuột à? Thằng này! Có thằng nào bắt chuột với chị dâu kiểu như thế không?”
- 그는 아우를 따귀를 몇 대 때린 뒤에 등을 밀어서 문 밖에 내어던졌다.
Ông tát em trai mấy cái rồi đẩy mạnh khiến anh ta văng ra ngoài cửa.
- 그런 뒤에 이제 자기에게 이를 매를 생각하고 우들우들 떨면서 아랫목에 서 있는 아내에게 달려들었다.
Sau đó, ông lao về phía vợ mình, lúc này đang đứng run rẩy ở góc phòng, chờ đợi trận đòn sắp giáng xuống.
- “이년! 시아우와 그런 쥐 잡는 년이 어디 있어!”
“Con đàn bà này! Có con đàn bà nào bắt chuột với em chồng như thế không?”
- 그는 아내를 거꾸러뜨리고 함부로 내리찧었다.
Ông xô ngã vợ xuống rồi đánh đập cô một cách tàn nhẫn.
- “정말 쥐가…… 아이 죽겠다.”
“Thật sự là có chuột… ôi, chết mất thôi!”
- “이년! 너두 쥐? 죽어라!”
“Con đàn bà này! Mày cũng nói chuột à? Chết đi!”
- 그의 팔다리는 함부로 아내의 몸 위에 오르내렸다.
Tay chân ông giáng xuống thân thể vợ một cách điên cuồng.
- “아이, 죽갔다. 정말 아까 적으니(시아우)가 왔기에 떡 먹으라구 내놓았더니―”
“Ôi, chết mất… thật mà! Lúc nãy em chồng đến, tôi bày bánh ra mời ăn thì – ”
- “듣기 싫다! 시아우 붙은 년이, 무슨 잔소릴…….”
“Tôi không muốn nghe! Con đàn bà bám lấy em chồng mà còn lắm lời – !”
- “아이, 아이, 정말이야요. 쥐가 한 마리 나…….”
“Ôi, ôi, thật mà! Có một con chuột chạy ra…”
- “그냥 쥐?”
“Chỉ là chuột thôi à?”
- “쥐 잡을래다가…….”
“Đang định bắt chuột thì…”
- “샹년! 죽어라! 물에래두 빠데 죽얼!”
“Con đàn bà khốn kiếp! Chết đi! Có chết thì cũng phải chết chìm xuống nước!”
- 그는 실컷 때린 뒤에, 아내도 아우처럼 등을 밀어 내어쫓았다.
Sau khi đánh đập cho hả giận, ông cũng đẩy vợ ra ngoài cửa giống như đã làm với em trai mình.
- 그 뒤에 그의 등으로, “고기 배때기에 장사해라!” 하고 토하였다.
Rồi quay lưng lại, ông nhổ ra một câu như trút uất ức: “Ra mà buôn bán trên bụng cá đi!”
- 분풀이는 실컷 하였지만, 그래도 마음속이 자못 편치 못하였다.
Tuy đã trút giận xong, nhưng trong lòng ông vẫn thấy vô cùng khó chịu.
- 그는 아랫목으로 가서 바람벽을 의지하고 실신한 사람같이 우두커니 서서 떡상만 들여다보고 있었다.
Ông bước lên góc phòng ấm, tựa lưng vào vách gió, đứng sững như người mất hồn, chỉ nhìn chằm chằm vào mâm bánh gạo.
- 한 시간…… 두 시간……. 서편으로 바다를 향한 마을이라 다른 곳보다는 늦게 어둡지만, 그래도 술시(戌時)쯤 되어서는 깜깜하니 어두웠다.
Một giờ… rồi hai giờ trôi qua… Vì đây là ngôi làng hướng ra biển phía tây nên trời tối muộn hơn những nơi khác, nhưng đến khoảng giờ Tuất thì cũng đã tối đen như mực.
- 그는 불을 켜려고 바람벽에서 떠나서 성냥을 찾으러 돌아갔다.
Ông rời khỏi chỗ tựa ở vách để đi tìm diêm, định thắp đèn.
- 성냥은 늘 있던 자리에 있지 않았다. 그래서 여기저기 뒤적이노라니까, 어떤 낡은 옷뭉치를 들칠 때에 문득 쥐 소리가 나면서 무엇이 후덕덕 뛰어나온다.
Hộp diêm không ở chỗ quen thuộc. Ông lục lọi khắp nơi, và khi vừa nhấc một đống quần áo cũ lên thì bỗng nghe tiếng chuột, rồi có thứ gì đó sột soạt lao vọt ra.
- 그리하여 저편으로 기어서 도망한다.
Nó bò nhanh sang phía bên kia và trốn mất.
- “역시 쥐댔구나.”
“Quả nhiên là chuột thật…”
- 그는 조그만 소리로 부르짖었다.
Ông khẽ thốt lên.
- 그리고 그만 그 자리에 맥없이 덜썩 주저앉았다.
Rồi ngay tại chỗ đó, ông khuỵu xuống ngồi phịch xuống một cách rã rời.
- 아까 그가 보지 못한 때의 광경이 활동사진과 같이 그의 머리에 지나갔다.
Cảnh tượng lúc nãy – khi ông chưa kịp nhìn thấy – bỗng hiện lên trong đầu ông như một cuốn phim quay chậm.
- 아우가 집에를 온다. 아우에게 친절한 아내는 떡을 먹으라고 아우에게 떡상을 내놓는다.
Người em trai đến nhà. Người vợ vốn đối xử tử tế với em chồng liền dọn mâm bánh ra mời ăn.
- 그때에 어디선가 쥐가 한 마리 뛰어나온다.
Lúc ấy, từ đâu đó một con chuột bỗng chạy vụt ra.
- 둘(아우와 아내)이서는 쥐를 잡노라고 돌아간다.
Hai người (em trai và vợ) liền chạy quanh để bắt con chuột.
- 한참 성화시키던 쥐는 어느 구석에 숨어 버린다.
Con chuột quấy rối một hồi rồi chui vào một góc nào đó trốn mất.
- 그들은 쥐를 찾느라고 뒤룩거린다.
Hai người họ cúi xuống, lục tìm khắp nơi để bắt con chuột.
- 그럴 때에 그가 집에 들어선 것이다.
Đúng lúc ấy thì ông bước vào nhà.
- “샹년, 좀 있으믄 안 들어오리…….”
“Con đàn bà khốn kiếp… chỉ cần đợi thêm một chút nữa thì tôi đã không vào rồi…”
- 그는 억지로 마음먹고 그 자리에 드러누웠다.
Ông cố gượng trấn tĩnh rồi nằm vật xuống ngay tại chỗ.
- 그러나 아내는 밤이 가고 날이 밝기는커녕 해가 중천에 올라도 돌아오지를 않았다.
Nhưng vợ ông không trở về. Không chỉ đêm qua đi mà ngay cả khi trời sáng hẳn, rồi mặt trời lên tận giữa trời, bà vẫn không quay lại.
- 그는 차차 걱정이 나서 찾아보러 나섰다.
Dần dần ông bắt đầu lo lắng nên đi tìm.
- 아우의 집에도 없었다.
Nhưng ở nhà em trai cũng không có.
- 동네를 모두 찾아보아도 본 사람도 없다 한다.
Ông tìm khắp cả làng, nhưng không ai nói là đã nhìn thấy bà.
- 그리하여, 낮쯤 한 삼사 리 내려가서 바닷가에서 겨우 아내를 찾기는 찾았지만 그 아내는 이전 같은 생기로 찬 산 아내가 아니요, 몸은 물에 불어서 곱이나 크게 되고, 이전에 늘 웃음을 흘리던 예쁜 입에는 거품을 잔뜩 문, 죽은 아내였다.
Cuối cùng, đến gần trưa, cách đó khoảng ba bốn dặm xuống phía bờ biển, ông mới tìm thấy vợ mình. Nhưng đó không còn là người vợ đầy sức sống như trước nữa; thân thể bà đã trương phồng vì ngâm nước, to lên gấp mấy lần, và trên đôi môi xinh xắn từng luôn nở nụ cười ấy giờ đầy bọt trắng. Bà đã chết.
- 그는 아내를 업고 집으로 돌아오기까지 정신이 없었다.
Ông gần như mất hết ý thức khi cõng thi thể vợ trở về nhà.
- 이튿날 간단하게 장사를 하였다.
Ngày hôm sau, tang lễ được tổ chức một cách giản đơn.
- 뒤에 따라오는 아우의 얼굴에는, “형님, 이게 웬일이오니까.” 하는 듯한 원망이 있었다.
Trên gương mặt người em trai đi phía sau dường như hiện lên nỗi oán trách như muốn nói: “Anh ơi, chuyện này là thế nào vậy?”
- 장사를 지낸 이튿날부터 아우는 그 조그만 마을에서 없어졌다.
Nhưng kể từ ngày hôm sau khi tang lễ kết thúc, người em trai đã biến mất khỏi ngôi làng nhỏ ấy.
- 하루 이틀은 심상히 지냈지만, 닷새 엿새가 지나도 아우는 돌아오지 않았다.
Một hai ngày đầu trôi qua bình thường, nhưng đến năm sáu ngày sau mà em trai vẫn không trở lại.
- 그래서 알아보니까, 꼭 그의 아우같이 생긴 사람이 오륙 일 전에 멧산자 보따리를 하여 진 뒤에 시뻘건 저녁해를 등으로 받고 더벅더벅 동쪽으로 가더라 한다.
Hỏi thăm khắp nơi thì nghe nói rằng cách đó năm sáu ngày có một người trông rất giống em trai ông, vác một bọc đồ đi đường, lưng quay về phía mặt trời đỏ rực lúc hoàng hôn, lầm lũi bước về phía đông.
- 그리하여 열흘이 지나고 스무 날이 지났지만 한번 떠난 그의 아우는 돌아올 길이 없고, 혼자 남은 아우의 아내는 매일 한숨으로 세월을 보내게 되었다.
Mười ngày trôi qua, rồi hai mươi ngày trôi qua, nhưng người em trai đã ra đi thì không còn quay lại nữa; còn người vợ của anh ta thì ở lại một mình, ngày ngày thở dài mà sống qua tháng ngày.
- 그도 이것을 잠자코 보고 있을 수가 없었다.
Ông cũng không thể cứ im lặng nhìn cảnh đó mãi.
- 그 불행의 모든 죄는 죄 그에게 있었다.
Tất cả bi kịch ấy… tội lỗi đều là ở ông.
- 그도 마침내 뱃사람이 되어, 적으나마 아내를 삼킨 바다와 늘 접근하며 가는 곳마다 아우의 소식을 알아보려고, 어떤 배를 얻어 타고 물길을 나섰다.
Cuối cùng ông trở thành một người đi biển, lênh đênh trên những con thuyền nhỏ, luôn đi sát vùng biển đã nuốt chửng vợ mình, và ở bất cứ nơi nào ghé qua ông cũng dò hỏi tin tức của em trai.
- 그는 가는 곳마다 아우의 이름과 모습을 말하여 물었으나, 아우의 소식은 알 수가 없었다.
Nhưng dù đi đến đâu, dù kể tên và mô tả dáng vẻ của em trai mình cho mọi người nghe để hỏi thăm, ông vẫn không nhận được bất kỳ tin tức nào.
- 이리하여 꿈결같이 십 년을 지내서 구 년 전 가을, 탁탁히 낀 안개를 꿰며 연안(延安) 바다를 지나가던 그의 배는, 몹시 부는 바람으로 말미암아 파선을 하여, 벗 몇 사람은 죽고, 그는 정신을 잃고 물 위에 떠돌고 있었다.
Cứ như vậy, mười năm trôi qua như một giấc mộng. Rồi vào mùa thu cách đây chín năm, con thuyền của ông đang đi qua vùng biển Yeonan trong làn sương mù dày đặc thì gặp cơn gió lớn dữ dội, khiến thuyền bị đắm. Một vài người bạn đi cùng đã chết, còn ông thì bất tỉnh và trôi dạt trên mặt nước.
- 그가 겨우 정신을 차린 때는 밤이었었다.
Khi ông tỉnh lại thì đã là ban đêm.
- 그리고 어느덧 그는 뭍 위에 올라와 있었고 그를 말리느라고 새빨갛게 피워 놓은 불빛으로 자기를 간호하는 아우를 보았다.
Và không biết từ lúc nào ông đã được đưa lên bờ; trước ánh lửa đỏ rực đang được nhóm lên để sưởi ấm và hong khô cho ông, ông nhìn thấy người em trai đang chăm sóc mình.
- 그는 이상히도 놀라지도 않고 천연하게 물었다.
Lạ thay, ông không hề tỏ ra kinh ngạc mà bình thản hỏi:
- “너, 어딯게 여기 완?”
“Mày… sao lại đến đây?”
- 아우는 잠자코 한참 있다가 겨우 대답하였다.
Người em trai im lặng một lúc lâu rồi mới khẽ đáp:
- “형님, 거저 다 운명이외다.”
“Anh à… tất cả đều là số mệnh cả thôi.”
- 따뜻한 불기운에 깜빡 잠이 들려다가 그는 화닥닥 깨면서 또 말했다.
Trong hơi ấm của ngọn lửa, ông vừa chợp mắt định ngủ thì lại giật mình tỉnh dậy và nói tiếp:
- “십 년 동안에 되게 파랬구나.”
“Mười năm qua… mày thay đổi nhiều quá.”
- “형님, 나두 변했거니와 형님두 몹시 늙으셨쉐다.”
“Anh à, em thì thay đổi đã đành, nhưng anh cũng già đi nhiều lắm rồi.”
- 이 말을 꿈결같이 들으면서 그는 또 혼혼히 잠이 들었다.
Nghe những lời ấy như trong mơ, ông lại thiếp đi trong cơn buồn ngủ mơ hồ.
- 그리하여 두어 시간, 꿀보다도 단 잠을 잔 뒤에 깨어 보니, 아까같이 새빨간 불은 피어 있지만 아우는 어디로 갔는지 없어졌다.
Sau hai ba giờ ngủ say – một giấc ngủ ngọt ngào hơn cả mật – khi ông tỉnh dậy thì ngọn lửa đỏ vẫn còn cháy, nhưng người em trai đã biến mất không biết từ lúc nào.
- 곁엣사람에게 물어보니까, 아우는 형의 얼굴을 물끄러미 한참 들여다보고 있다가 새빨간 불빛을 등으로 받으면서 터벅터벅 아무 말 없이 어둠 가운데로 스러졌다 한다.
Ông hỏi những người ở bên cạnh thì được biết rằng người em trai đã lặng lẽ nhìn khuôn mặt ông thật lâu, rồi quay lưng về phía ngọn lửa đỏ rực, lầm lũi bước đi và tan vào màn đêm mà không nói một lời nào.
- 이튿날 아무리 알아보아야 그의 아우는 종적이 없어지고 알 수 없으므로 그는 하릴없이 다른 배를 얻어 타고 또 물길을 떠났다.
Ngày hôm sau, dù hỏi han khắp nơi, ông vẫn không tìm thấy tung tích của em trai, nên đành phải lên một con thuyền khác và lại tiếp tục lên đường trên biển.
- 그리하여 그의 배가 해주에 이르렀을 때, 그는 해주 장에 들어가서 무엇을 사려다가 저편 맞은편 가게에 걸핏 그의 아우 같은 사람이 있으므로 뛰어가서 보니 그는 벌써 없어졌다.
Khi thuyền của ông đến Haeju, ông vào chợ Haeju định mua chút đồ, nhưng bỗng nhìn thấy ở cửa hàng đối diện có người trông rất giống em trai mình. Ông vội chạy sang, nhưng khi đến nơi thì người đó đã biến mất.
- 배가 해주에는 오래 머물지 않으므로 그의 마음은 해주에 남겨 두고 또다시 바닷길을 떠났다.
Con thuyền không ở lại Haeju lâu, nên dù lòng ông vẫn còn ở lại nơi ấy, ông vẫn phải tiếp tục ra khơi lần nữa.
- 그 뒤 삼 년을 이리저리 돌아다녔어도 아우는 다시 볼 수가 없었다.
Ba năm sau đó, ông lang bạt khắp nơi nhưng vẫn không thể gặp lại em trai mình.
- 그리하여 삼 년을 지내서 지금부터 육 년 전에, 그의 탄 배가 강화도를 지날 때에, 바다를 향한 가파로운 뫼켠에서 바다를 향하여 날아오는 ‘배따라기’를 들었다.
Rồi ba năm trôi qua nữa, tức là cách đây sáu năm, khi con thuyền ông đi ngang qua đảo Ganghwa, ông nghe thấy từ sườn núi dốc hướng ra biển một khúc “Bae-ttara-gi” bay theo gió vọng xuống mặt biển.
- 그것도 어떤 구절과 곡조는 그의 아우 특식으로 변경된, 그의 아우가 아니면 부를 사람이 없는, 그 ‘배따라기’이다.
rong khúc hát ấy có những câu và giai điệu đã được biến đổi theo cách riêng – một cách mà chỉ có em trai ông mới hát như vậy; đó chính là khúc “Bae-ttara-gi” mà nếu không phải em trai ông thì không ai có thể hát được.
- 배가 강화도에는 머무르지 않아서 그저 지나갔으나, 인천서 열흘쯤 머무르게 되었으므로, 그는 곧 내려서 강화도로 건너가 보았다.
Con thuyền không dừng lại ở Ganghwa mà chỉ đi ngang qua; nhưng vì sau đó phải neo lại ở Incheon khoảng mười ngày, nên ông lập tức lên bờ và sang Ganghwa để tìm.
- 거기서 이리저리 찾아다니다가 어떤 조그만 객주집에서 물어 보니, 이름도 그의 아우요 생긴 모습도 그의 아우인 사람이 묵어 있기는 하였으나, 사나흘 전에 도로 인천으로 갔다 한다.
Ông đi khắp nơi tìm kiếm, rồi hỏi thăm tại một quán trọ nhỏ. Người ta nói rằng có một người mang tên và dung mạo giống hệt em trai ông từng ở trọ tại đó, nhưng bốn năm ngày trước đã quay lại Incheon rồi.
- 그는 곧 돌아서서, 인천으로 건너와서 찾아보았지만, 그 조그만 인천서도 그의 아우를 찾을 바가 없었다.
Ông lập tức quay lại, sang Incheon tìm kiếm, nhưng ngay cả trong thành phố nhỏ ấy ông cũng không thể tìm thấy em trai mình.
- 그 뒤에 눈 오고 비 오며 육 년이 지났지만, 그는 다시 아우를 만나 보지 못하고 아우의 생사까지도 알 수가 없다.
Sau đó, tuyết rơi rồi mưa rơi, sáu năm trôi qua, nhưng ông vẫn không gặp lại em trai, thậm chí sống chết ra sao cũng không biết.
- 말을 끝낸 그의 눈에는 저녁해에 반사하여 몇 방울의 눈물이 반득인다.
Khi kể xong câu chuyện, trong mắt ông ánh lên vài giọt nước mắt lấp lánh phản chiếu ánh hoàng hôn.
- 나는 한참 있다가 겨우 물었다.
Một lúc lâu sau, tôi mới khẽ hỏi:
- “노형 계수는?”
“Còn em dâu của anh thì sao?”
- “모르디요. 이십 년을 영유는 안 가봤으니깐요.”
“Tôi cũng không biết nữa. Hai mươi năm rồi tôi chưa quay lại Yeongyu.”
- “노형은 이제 어디루 갈 테요?”
“Thế bây giờ anh định đi đâu?”
- “것두 모르디요. 덩처가 있나요? 바람 부는 대로 몰려댕기디요.”
“Tôi cũng không biết. Tôi đâu có nơi nào để quay về. Chỉ trôi dạt theo nơi nào gió thổi tới thôi.”
- 그는 다시 한번 나를 위하여 배따라기를 불렀다.
Ông lại một lần nữa cất tiếng hát “Bae-ttara-gi” cho tôi nghe.
- 아아, 그 속에 잠겨 있는 삭이지 못할 뉘우침, 바다에 대한 애처로운 그리움.
Ôi! Trong khúc hát ấy chứa đựng nỗi hối hận không thể nguôi và nỗi nhớ thương đau xót dành cho biển cả.
- 노래를 끝낸 다음에 그는 일어서서 시뻘건 저녁해를 잔뜩 등으로 받고 을밀대로 향하여 더벅더벅 걸어간다. 나는 그를 말릴 힘이 없어서 멀거니 그의 등만 바라보고 앉아 있었다.
Hát xong, ông đứng dậy, quay lưng về phía mặt trời hoàng hôn đỏ rực và lầm lũi bước về phía Eulmilda. Tôi không đủ sức giữ ông lại, chỉ biết ngồi nhìn theo bóng lưng ông xa dần.
- 그날 밤, 집에 돌아와서도 그 배따라기와 그의 숙명적 경험담이 귀에 쟁쟁히 울리어서 잠을 못 이루고, 이튿날 아침 깨어서 조반도 안 먹고 기자묘로 뛰어가서 또다시 그를 찾아보았다.
Đêm hôm đó, ngay cả khi đã trở về nhà, khúc Bae-ttara-gi cùng câu chuyện về số phận nghiệt ngã của ông vẫn vang vọng bên tai khiến tôi không thể ngủ được. Sáng hôm sau tỉnh dậy, tôi còn chưa kịp ăn sáng đã chạy vội đến mộ Kija để tìm ông lần nữa.
- 그가 어제 깔고 앉았던, 풀은 모두 한편으로 누워서 그가 다녀감을 기념하되, 그는 그 근처에 보이지 않았다.
Chỗ cỏ hôm qua ông ngồi vẫn còn bị ép nghiêng về một phía như dấu vết ông đã từng ở đó, nhưng ông thì không thấy đâu nữa.
- 그러나, 그러나 배따라기는 어디선가 쟁쟁히 울리어서 모든 소나무들을 떨리지 않고는 안 두겠다는 듯이 날아온다.
Nhưng… nhưng khúc Bae-ttara-gi vẫn vang vọng từ đâu đó, như bay đến khiến tất cả những cây thông phải run lên.
- “모란봉(牧丹峰)이다. 모란봉에 있다.” 하고 나는 한숨에 모란봉으로 뛰어갔다.
“Là Moranbong! Ông ấy ở Moranbong!” Nghĩ vậy, tôi chạy một mạch lên Moranbong.
- 모란봉에는 사람이 하나도 없다.
Nhưng trên Moranbong không có một bóng người.
- 부벽루(浮壁樓)에도 없다.
Ở Buphyeongru cũng không thấy.
- “을밀대다.” 하고 나는 다시 을밀대로 갔다.
“Chắc là ở Eulmilda!” – tôi lại chạy đến đó.
- 을밀대에서 부벽루를 연한, 지옥까지 연한 듯한 골짜기에 물 한 방울을 안 새이리라고 빽빽히 난 소나무의 그 모든 잎잎은 떨리는 배따라기를 부르고 있지만, 그는 여기도 있지 않다.
Trong thung lũng nối từ Eulmilda sang Buphyeongru, sâu thẳm như kéo dài xuống tận địa ngục, những rừng thông mọc dày đến nỗi tưởng như không một giọt nước nào có thể lọt qua; từng chiếc lá thông đều rung lên như đang gọi theo khúc Bae-ttara-gi, nhưng ông vẫn không có ở đó.
- 기자묘의, 하늘을 향하여 퍼져 나간 그 모든 소나무의 천만의 잎잎도, 그 아래쪽 퍼진 천만의 풀들도, 모두 그 배따라기를 슬프게 부르고 있지만, 그는 이 조고만 모란봉 일대에서 찾을 수가 없었다.
Ở mộ Kija, những tán thông vươn lên trời với hàng triệu chiếc lá, và cả hàng vạn ngọn cỏ lan rộng phía dưới, tất cả đều như đang buồn bã gọi theo khúc Bae-ttara-gi, nhưng trong khắp vùng Moranbong nhỏ bé này tôi vẫn không thể tìm thấy ông.
- 강가에 나가서 알아보니 그의 배는 오늘 새벽에 떠났다 한다.
Khi ra bờ sông hỏi thăm thì được biết con thuyền của ông đã rời bến từ sáng sớm hôm nay.
- 그 뒤에 여름과 가을이 가고 일년이 지나서 다시 봄이 이르렀으되, 잠깐 평양을 다녀간 그는 그 숙명적 경험담과 슬픈 배따라기를 남겨 두었을 뿐, 다시 조고만 모란봉에 나타나지 않는다.
Sau đó mùa hè và mùa thu trôi qua, một năm nữa lại qua đi rồi mùa xuân lại đến. Người đàn ông chỉ ghé qua Bình Nhưỡng trong chốc lát ấy đã để lại câu chuyện về số phận nghiệt ngã và khúc Bae-ttara-gi buồn bã, nhưng ông không bao giờ trở lại Moranbong nhỏ bé này nữa.
- 모란봉과 기자묘에 다시 봄이 이르러서, 작년에 그가 깔고 앉아서 부러졌던 풀들도 다시 곧게 대가 나서 자줏빛 꽃이 피려 하지만, 끝없는 뉘우침을 다만 한낱 ‘배따라기’로 하소연하는 그는, 이 조고만 모란봉과 기자묘에서 다시 볼 수가 없었다.
Mùa xuân lại đến với Moranbong và mộ Kija; những ngọn cỏ năm ngoái ông từng ngồi đè gãy giờ đã mọc thẳng trở lại và chuẩn bị nở những bông hoa tím. Nhưng người đàn ông chỉ biết gửi gắm nỗi hối hận vô tận của mình vào khúc Bae-ttara-gi ấy thì không còn xuất hiện ở Moranbong và mộ Kija nữa.
- 다만 그가 남기고 간 ‘배따라기’만 추억하는 듯이 기념하는 듯이 모든 잎잎이 속삭이고 있을 따름이다.
Chỉ còn khúc Bae-ttara-gi ông để lại dường như vẫn được tưởng nhớ, được kỷ niệm qua tiếng xào xạc thì thầm của từng chiếc lá.
- 출전:창조9(1921.6)
Nguồn: Tạp chí Sáng tạo số 9 (tháng 6 năm 1921).
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





