TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ -DỊCH TRUYỆN NGẮN “HÃY CHĂM SÓC MẸ”

TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW

SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ 

DỊCH TRUYỆN NGẮN

엄마를 부탁해 신경숙

HÃY CHĂM SÓC MẸ – SHIN KYUNG-SOOK

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

SVTT: Mai Quế Chi

CSTT: Kanata Biên Hòa

저는 안될 일을 하다가 들린 것처럼 귀밑이 붙어졌다.
Tôi đang làm một việc không suôn sẻ thì như bị ám, cứ bám chặt lấy nó.

과연 내가 구사하는 어느 문장이 잃어버린 엄마를 찾는 데 도움이 될지.
Liệu có câu chữ nào tôi sử dụng sẽ giúp tìm được mẹ đã mất tích hay không.

1938년 7월 24일생이라고 엄마의 생년월일을 적는데 아버지가 엄마는 1936년생이라고 했다.
Khi tôi ghi ngày sinh của mẹ là 24 tháng 7 năm 1938 thì bố nói mẹ sinh năm 1936.

주민등록상에만 38년으로 되어 있을 뿐 실제로는 36년생이라는 것이다.
Trên giấy tờ hộ khẩu chỉ ghi là năm 1938, nhưng thực tế là năm 1936.

너는 처음 듣는 얘기였다.
Đó là chuyện tôi lần đầu nghe.

아버지는 그 시절엔 다 그렇게 했다고 했다.
Bố nói rằng thời đó ai cũng làm như vậy.

태어나서 백일을 넘기지 못하고 죽는 아이들이 많아서 이삼년 키워본 다음 호적에 올렸다는 것이다.
Vì có nhiều đứa trẻ không sống qua 100 ngày, nên nuôi được 2–3 năm rồi mới đăng ký hộ khẩu.

38이라는 숫자를 36이라고 고쳐 적으려는데 오빠가 신상명세서이니 38년생으로 적어야 한다고 했다.
Khi tôi định sửa số 38 thành 36 thì anh trai nói đây là hồ sơ cá nhân nên phải ghi năm 1938.

이건 우리가 만드는 전단지고 여기가 동사무소나 구청도 아닌데 사실보다 등록된 것을 적어야 하나 의문이 들었지만 너는 묵묵히 36이라 적은 숫자를 다시 38로 고쳤다.
Dù tôi thắc mắc rằng đây chỉ là tờ rơi do mình làm, không phải cơ quan hành chính mà lại phải ghi theo giấy tờ sai sự thật, nhưng tôi vẫn lặng lẽ sửa lại 36 thành 38.

그러면 7월 24일이라는 엄마의 생일은 제대로 된 것일까 생각하면서.
Và tôi tự hỏi liệu ngày 24 tháng 7 có thật sự là ngày sinh đúng của mẹ hay không.

너의 엄마는 몇 해 전부터 내 생일은 따로 챙기지 마라, 했다.
Mẹ đã nói từ vài năm trước rằng đừng tổ chức sinh nhật riêng cho bà nữa.

아버지의 생일이 엄마의 생일 한달 전이었다.
Sinh nhật của bố trước sinh nhật của mẹ một tháng.

예전엔 생일이나 다른 기념할 일이 생기면 너를 비롯한 도시의 식구들이 시골의 엄마 집으로 이동하곤 했다.
Trước đây, mỗi khi có sinh nhật hay dịp kỷ niệm, những người trong gia đình sống ở thành phố, bao gồm cả tôi, thường về nhà mẹ ở quê.

다 모이면 적게만 스물들이었다.
Mỗi lần tụ họp cũng phải hơn hai mươi người.

엄마는 식구들이 모이는 왁자한 상태를 좋아했다.
Mẹ rất thích không khí đông vui khi cả gia đình tụ họp.

식구들이 모이게 되면 며칠 전에 김치를 담그고, 시장에 나가 고기를 끊어오고, 치약과 칫솔을 준비했다.
Khi gia đình sắp tụ họp, mẹ sẽ muối kimchi trước vài ngày, ra chợ mua thịt, và chuẩn bị cả kem đánh răng lẫn bàn chải.

돌아갈 때 한병씩 나눠주려고 참기름을 짜고 참깨 들깨를 따로 볶아 찧었다.
Mẹ còn ép dầu mè và rang rồi giã riêng mè và hạt tía tô để khi mọi người về thì chia mỗi người một ít.

가족들을 기다릴 즈음의 너의 엄마는 동네 사람들이나 시장통에서 만나는 사람들과 얘기할 때 단연 활기를 띠었고 은근히 자부심이 배어나는 몸짓과 말투를 보였다.
Khi chờ gia đình, mẹ tràn đầy sức sống khi nói chuyện với hàng xóm hay người ở chợ, và toát lên niềm tự hào qua cử chỉ và lời nói.

헛간에는 엄마가 철따라 담가놓은 매실즙이며 산딸기즙이 담긴 크고 작은 유리병들이 줄비했다.
Trong kho chất đầy những chai lớn nhỏ đựng nước mơ, nước dâu rừng do mẹ tự làm theo mùa.

도시의 식구들에게 퍼줄 황석어젓이며 멸치속젓이며 조개젓갈들이 엄마의 항아리들을 가득 채우고 있었다.
Những hũ mắm cá, mắm cá cơm, mắm nghêu để chia cho người thân ở thành phố chất đầy trong các chum của mẹ.

양파가 좋다는 말이 들리면 양파즙을 만들어서, 겨울을 앞두고는 감초를 넣은 늙은호박즙을 짜서 도시의 식구들에게 보냈다.
Nghe nói hành tây tốt, mẹ làm nước ép hành; trước mùa đông thì ép nước bí đỏ già có thêm cam thảo rồi gửi lên cho người nhà.

너의 엄마 집은 도시의 식구들을 위해 사시사철 뭔가 제조하는 공장과도 같았다.
Ngôi nhà của mẹ giống như một nhà máy luôn sản xuất thứ gì đó cho người thân ở thành phố quanh năm.

언제부턴가 도시 식구들이 시골로 내려오는 일보다 엄마가 아버지와 함께 도시로 올라오는 일이 더 많아졌다.
Từ lúc nào đó, thay vì người thân ở thành phố về quê, thì mẹ cùng bố lại lên thành phố nhiều hơn.

그러다가 아버지와 엄마의 생일도 도시의 식당에서 식사를 하는 것으로 대신하게 되었다.
Rồi dần dần, sinh nhật của bố và mẹ cũng được thay bằng việc ăn ở nhà hàng trên thành phố.

그렇게 되자 움직임이 훨씬 단순해졌다.
Như vậy, mọi thứ trở nên đơn giản hơn rất nhiều.

엄마는 “내 생일은 아버지와 같이 하자”고 말했다.
Mẹ nói: “Sinh nhật của mẹ thì làm chung với sinh nhật của bố đi.”

한여름이라 날씨도 더운데 이틀 사이에 생일이 두 번이나 있으니 챙기기 어렵다는 이유였다.
Vì giữa mùa hè thời tiết nóng bức, lại có hai sinh nhật sát nhau trong hai ngày nên khó tổ chức.

처음에는 식구들이 엄마의 말을 이해하지 못했다.
Lúc đầu, gia đình không hiểu lời mẹ nói.

그래서 엄마가 시골에 오지 않으려 하면 몇 명이라도 내려가서 생일을 챙겼다.
Vì vậy, nếu mẹ không lên, vẫn có vài người xuống quê để tổ chức sinh nhật cho mẹ.

그러다가 아버지 생일에 엄마 선물까지 함께 사게 되었고 엄마의 생일 당일은 자연스럽게 지나가게 되었다.
Sau đó, vào sinh nhật của bố thì mua luôn quà cho mẹ, và ngày sinh nhật thật của mẹ dần trôi qua một cách tự nhiên.

엄마의 장롱에는 가져가지 않은 양말들이 쌓이기 시작했다.
Trong tủ của mẹ bắt đầu chất đầy những đôi tất chưa được mang đi.

다음은 전단지에 적을 내용이었다.
Tiếp theo là nội dung sẽ viết trên tờ rơi.

이름: 박소녀
Tên: Park So-nyeo

생년월일: 1938년 7월 24일 (만 69세)
Ngày sinh: 24/07/1938 (69 tuổi)

용모: 짧은 파마머리에 흰머리가 섞여 있고 광대뼈가 도드라짐. 하늘색 셔츠에 흰 재킷, 베이지색 주름치마 착용.
Đặc điểm: Tóc uốn ngắn có lẫn tóc bạc, gò má cao. Mặc áo sơ mi xanh da trời, áo khoác trắng và váy xếp ly màu be.

실종 장소: 지하철 서울역
Địa điểm mất tích: Ga tàu điện ngầm Seoul

엄마의 사진을 어떤 것으로 할지 의견이 갈렸다.
Mọi người có ý kiến khác nhau về việc chọn ảnh của mẹ.

최근 사진이 필요하다는 데에는 모두 동의했지만 아무도 최근 사진을 가지고 있지 않았다.
Ai cũng đồng ý cần ảnh gần đây, nhưng không ai có ảnh mới của mẹ.

나는 엄마가 언제부턴가 사진 찍는 것을 싫어했다는 사실을 떠올렸다.
Tôi chợt nhớ ra rằng từ lúc nào đó mẹ đã rất ghét chụp ảnh.

가족사진을 찍을 때도 엄마는 어느 틈엔가 빠져나가 사진에 나오지 않곤 했다.
Ngay cả khi chụp ảnh gia đình, mẹ cũng lặng lẽ tránh đi và không xuất hiện trong ảnh.

아버지 칠순 때 찍은 가족사진 속 엄마의 얼굴이 남아 있는 가장 최근 모습이었다.
Bức ảnh gia đình chụp vào dịp mừng thọ 70 của bố là hình ảnh gần đây nhất còn lại của mẹ.

그때 엄마는 분홍 한복을 입고 미장원에서 머리를 하고 입술에 붉은 립스틱을 바른 모습이었다.
Lúc đó mẹ mặc hanbok màu hồng, làm tóc ở tiệm và tô son đỏ.

하지만 그 사진 속 모습은 실종되기 전의 엄마와 너무 달라서 그 사진을 확대해도 사람들이 엄마를 알아보지 못할 것이라는 의견이 나왔다.
Nhưng hình ảnh đó quá khác với mẹ trước khi mất tích, nên có ý kiến cho rằng dù phóng to ảnh thì người ta cũng không nhận ra.

인터넷에 올리면 “어머님이 참 고우시네요. 길을 잃어버리실 분 같지 않은데요.”라는 댓글이 달릴 것이라는 말도 나왔다.
Cũng có người nói rằng nếu đăng lên mạng thì sẽ có bình luận kiểu: “Mẹ trông đẹp quá, không giống người bị lạc.”

그래서 각자 엄마의 다른 사진을 다시 찾아보기로 했다.
Vì vậy, mọi người quyết định mỗi người tự tìm lại ảnh khác của mẹ.

큰오빠는 나에게 문구를 더 보충해 보라고 했다.
Anh cả bảo tôi thử bổ sung thêm nội dung.

내가 큰오빠를 바라보자 좀 더 호소력 있는 문장을 생각해 보라고 했다.
Khi tôi nhìn anh, anh nói hãy nghĩ ra câu văn có sức thuyết phục hơn.

“어머니를 찾아주세요.”라고 쓰자 너무 평범하다고 했다.
Khi tôi viết “Xin hãy tìm giúp mẹ tôi” thì anh nói quá bình thường.

“어머니를 찾습니다.”라고 쓰자 그것도 별로라고 했다.
Khi viết “Tìm mẹ” thì anh cũng bảo không ổn.

“어머니”라는 표현이 딱딱하니 “엄마”로 바꾸라고 했다.
Anh nói từ “어머니 (mẹ)” nghe cứng nhắc nên đổi thành “엄마”.

“우리 엄마를 찾습니다.”라고 쓰자 어색하다고 했다.
Khi tôi viết “Tìm mẹ của chúng tôi” thì anh bảo nghe gượng gạo.

윗부분에 “꼭 연락 바랍니다.”라고 쓰자 큰오빠는 화를 냈다.
Khi tôi viết thêm “Mong hãy liên hệ” ở phía trên, anh cả nổi giận.

“네가 작가라는 사람이 그런 말밖에 못 쓰냐”고 했다.
Anh nói: “Một người là nhà văn mà chỉ viết được thế thôi sao?”

나는 호소력 있는 문장이 무엇인지 떠올릴 수 없었다.
Tôi không thể nghĩ ra câu văn nào gọi là “có sức thuyết phục”.

“호소력이 따로 있나? 사례금 주면 되지.” 작은오빠가 말했다.
Anh hai nói: “Có gì mà phải thuyết phục, ghi tiền thưởng là được.”

그래서 “사례를 드리겠습니다.”라고 쓰자 이번에는 안 된다고 했다.
Khi tôi viết “Sẽ có tiền hậu tạ” thì lần này lại bị nói là không được.

구체적인 금액을 써야 사람들이 관심을 가진다고 했다.
Anh nói phải ghi rõ số tiền thì người ta mới chú ý.

“얼마를 적을까?”
“Vậy nên ghi bao nhiêu?”

“백만 원?”
“1 triệu won?”

“너무 적어.”
“Ít quá.”

“삼백만 원?”
“3 triệu won?”

“그것도 적은 것 같은데.”
“Cái đó cũng ít.”

“그럼 오백만 원.”
“Vậy 5 triệu won.”

오백만 원이라는 금액에는 아무도 반대하지 않았다.
Không ai phản đối con số 5 triệu won.

“사례금을 드리겠습니다.”라고 적었다.
Tôi viết: “Sẽ có tiền hậu tạ.”

작은오빠는 “사례금: 오백만 원”으로 고치라고 했다.
Anh hai bảo sửa thành: “Tiền hậu tạ: 5 triệu won”.

남동생은 오백만 원 글씨를 더 크게 쓰자고 했다.
Em trai nói nên viết số 5 triệu to hơn.

각자 집에 가서 엄마 사진을 찾아 이메일로 보내기로 했다.
Mỗi người về nhà tìm ảnh của mẹ rồi gửi qua email.

전단지 문안을 정리하고 인쇄하는 일은 내가 맡고 배포는 남동생이 맡기로 했다.
Tôi phụ trách chỉnh sửa và in tờ rơi, còn em trai phụ trách phát.

아르바이트를 쓸 수도 있었지만 큰오빠는 우리가 직접 하자고 했다.
Dù có thể thuê người phát, nhưng anh cả nói chúng tôi nên tự làm.

평일에는 일하고 주말에는 함께 하기로 했다.
Ngày thường thì đi làm, cuối tuần cùng nhau làm.

“그렇게 해서 언제 엄마를 찾을 수 있겠어?”
“Làm vậy thì bao giờ mới tìm được mẹ?”

“가만히 있을 수 없으니까 하는 거야.”
“Vì không thể ngồi yên nên mới làm vậy.”

“할 수 있는 게 뭐가 있어?”
“Có thể làm được gì nữa?”

“신문 광고도 해볼 수 있지.”
“Có thể đăng báo nữa.”

“그럼 일을 다 그만두고 돌아다니며 찾을까?”
“Vậy bỏ hết việc rồi đi khắp nơi tìm sao?”

“찾을 수만 있다면 그렇게라도 하겠지.”
“Nếu tìm được thì làm vậy cũng được.”

나는 결국 말을 그만두었다.
Cuối cùng tôi im lặng.

늘 오빠에게 맡기던 습관이 이런 상황에서도 나왔다는 걸 깨달았다.
Tôi nhận ra thói quen luôn giao hết cho anh trai vẫn xuất hiện ngay cả lúc này.

가족들은 더 싸울까 봐 서둘러 헤어졌다.
Gia đình vội vàng ra về vì sợ sẽ lại cãi nhau.

지난 일주일 동안 계속 이렇게 지냈다.
Suốt một tuần qua, mọi thứ cứ diễn ra như vậy.

엄마의 실종을 의논하려다 서로의 잘못을 떠올리게 되었다.
Định bàn cách tìm mẹ nhưng lại nhớ ra những lỗi lầm của mỗi người.

무심코 했던 행동들이 하나씩 떠올랐다.
Những hành động vô tâm lần lượt hiện lên trong tâm trí.

“사례금을 드리겠습니다.”라고 적고 마침표를 찍었다.
Tôi viết: “Sẽ có tiền hậu tạ.” rồi đặt dấu chấm.

작은오빠가 ‘사례금: 오백만원’으로 고치라고 했다.
Anh hai bảo sửa thành: “Tiền hậu tạ: 5 triệu won”.

남동생이 오백만원을 다른 글자보다 키우라고 했다.
Em trai bảo viết số 5 triệu lớn hơn các chữ khác.

각자 집으로 돌아가 엄마의 사진을 찾아보고 적당한 게 있으면 바로 네 이메일로 보내주기로 했다.
Mỗi người về nhà tìm ảnh của mẹ, nếu có ảnh phù hợp thì gửi ngay vào email của tôi.

전단지 문안을 더 보충해서 인쇄하는 일은 네가, 그것을 각자에게 배송하는 일은 남동생이 맡기로 했다.
Việc chỉnh sửa và in tờ rơi do tôi đảm nhận, còn việc phân phát thì em trai phụ trách.

전단지 나눠주는 아르바이트생을 따로 구할 수도 있어, 네가 말하자,
Khi tôi nói rằng có thể thuê người phát tờ rơi,

그건 우리가 해야지, 큰오빠가 말을 받았다.
anh cả đáp: “Việc đó chúng ta phải tự làm.”

평일엔 각자 일을 하는 틈틈이, 주말엔 모두 다함께.
Ngày thường thì tranh thủ lúc rảnh làm, cuối tuần thì tất cả cùng làm.

그렇게 언제 엄마를 찾아?
“Làm vậy thì bao giờ mới tìm được mẹ?”

네가 투덜거리자,
Khi tôi càu nhàu,

큰오빠는 해볼 수 있는 일은 다 하고 있어, 이건 가만있을 수 없으니까 하는 일이다, 고 했다.
anh cả nói: “Những gì có thể làm thì đang làm hết rồi, vì không thể ngồi yên được.”

해볼 수 있는 일 뭐?
“Có thể làm được gì nữa?”

신문광고.
“Đăng báo.”

신문광고가 해볼 수 있는 일의 다야?
“Đăng báo là tất cả những gì có thể làm sao?”

그럼 어떻게 할까?
“Vậy phải làm sao?”

내일부터 모두 일을 그만두고 이 동네 저 동네 무조건 헤매고 다닐까?
“Từ mai bỏ hết việc rồi đi lang thang khắp nơi tìm sao?”

그렇게 해서 엄마 찾을 수 있다고 보장만 되면 그리해보겠다.
“Nếu đảm bảo tìm được mẹ thì tôi cũng sẽ làm vậy.”

너는 큰오빠와의 실랑이를 그만두었다.
Tôi dừng tranh cãi với anh cả.

지금까지의 습성.
Đó là thói quen từ trước đến giờ.

오빠니까 오빠가 어떻게 해봐라! 고 늘 미루는 마음이던 습성이 이런 상황에도 작동하고 있음을 깨달았기 때문이다.
Vì tôi nhận ra thói quen luôn nghĩ “Anh là anh cả thì anh tự lo đi” vẫn xuất hiện ngay cả trong tình huống này.

너의 가족들은 큰오빠 집에 아버지를 두고 서둘러 헤어졌다.
Gia đình để bố lại nhà anh cả rồi vội vàng ra về.

헤어지지 않으면 또 싸우게 될 것이다.
Nếu không rời đi thì sẽ lại cãi nhau.

지난 일주일 동안 줄곧 그래왔다.
Suốt một tuần qua đều như vậy.

엄마의 실종을 어떻게 풀어나가야 할지 상의하러 모였다가
Họ tụ họp để bàn cách giải quyết việc mẹ mất tích,

너의 가족들은 예기치 않게 지난날 서로가 엄마에게 잘못한 행동들을 들춰내었다.
nhưng lại vô tình khơi lại những lỗi lầm mỗi người đã gây ra cho mẹ trong quá khứ.

순간순간 모면하듯 봉합해온 일들이 툭툭 불거지고
Những chuyện từng lờ đi cho qua bỗng lần lượt bộc lộ ra,

결국은 소리를 지르고 담배를 피우고 문을 박차고 나갔다.
cuối cùng dẫn đến việc hét lên, hút thuốc và bỏ đi trong tức giận.

너는 엄마를 잃어버렸다는 얘길 처음 듣자마자
Ngay khi nghe tin mẹ bị lạc,

어떻게 이렇게 많은 식구들 중에서 서울역에 마중나간 사람이 한 사람도 없느냐고 성질을 부렸다.
tôi đã nổi giận hỏi tại sao trong từng ấy người mà không có ai ra ga Seoul đón mẹ.

— 그러는 너는?
— “Còn mày thì sao?”

나? 너는 입을 다물었다.
“Tôi á?” Tôi im lặng.

너는 엄마를 잃어버린 것조차 나흘 후에나 알았으니까.
Vì chính tôi cũng phải đến bốn ngày sau mới biết mẹ bị lạc.

너의 가족들은 서로에게 엄마를 잃어버린 책임을 물으며 스스로들 상처를 입었다.
Gia đình cứ đổ lỗi cho nhau về việc mất mẹ, và tự làm tổn thương chính mình.

사례금을 드리겠습니다, 라고 적고 마침표를 찍었다.

Tôi viết “Sẽ có hậu tạ” rồi đặt một dấu chấm kết thúc.

작은오빠가 ‘사례금: 오백만원’으로 고치라고 했다.

Anh trai thứ bảo tôi sửa lại thành “Hậu tạ: 5 triệu won”.

남동생이 오백만원을 다른 글자보다 키우라고 했다.

Cậu em út thì bảo hãy để cỡ chữ “5 triệu won” lớn hơn những chữ khác.

각자 집으로 돌아가 엄마의 사진을 찾아보고 적당한 게 있으면 바로 네 이메일로 보내주기로 했다.

Mọi người quyết định sẽ về nhà tìm ảnh của mẹ, nếu có tấm nào phù hợp sẽ gửi ngay vào email cho tôi.

전단지 문안을 더 보충해서 인쇄하는 일은 네가, 그것을 각자에게 배송하는 일은 남동생이 맡기로 했다.

Việc bổ sung nội dung tờ rơi và in ấn là phần của tôi, còn việc chuyển chúng đến tay từng người sẽ do cậu em út đảm nhận.

전단지 나눠주는 아르바이트생을 따로 구할 수도 있어, 네가 말하자, 그건 우리가 해야지, 큰오빠가 말을 받았다.

Khi tôi nói có thể thuê người làm thêm để phát tờ rơi, anh cả liền ngắt lời: “Việc đó chúng ta phải tự làm chứ”.

평일엔 각자 일을 하는 틈틈이, 주말엔 모두 다함께.

Ngày thường thì ai nấy tranh thủ lúc rảnh việc, cuối tuần thì tất cả cùng làm.

그렇게 언제 엄마를 찾아? 네가 투덜거리자, 큰오빠는 해볼 수 있는 일은 다 하고 있어, 이건 가만있을 수 없으니까 하는 일이다, 고 했다.

“Cứ như thế thì bao giờ mới tìm thấy mẹ?” – Khi tôi cằn nhằn, anh cả nói: “Anh đang làm tất cả những gì có thể, làm vì không thể cứ ngồi yên thế này được”.

해볼 수 있는 일 뭐? 신문광고. 신문광고가 해볼 수 있는 일의 다야? “Việc có thể làm là gì? Quảng cáo trên báo à? Quảng cáo trên báo là tất cả những gì có thể làm sao?”

그럼 어떻게 할까? 내일부터 모두 일을 그만두고 이 동네 저 동네 무조건 헤매고 다닐까? “Vậy thì phải làm thế nào? Từ ngày mai tất cả nghỉ việc rồi cứ thế đi lang thang hết xóm này qua xóm nọ nhé?”

그렇게 해서 엄마 찾을 수 있다고 보장만 되면 그리해보겠다.

 “Nếu chỉ cần đảm bảo làm thế mà tìm được mẹ, anh sẽ làm ngay.”

너는 큰오빠와의 실랑이를 그만두었다.

Tôi thôi không tranh cãi với anh cả nữa.

지금까지의 습성. 오빠니까 오빠가 어떻게 해봐라! 고 늘 미루는 마음이던 습성이 이런 상황에도 작동하고 있음을 깨달았기 때문이다.

Đó là thói quen từ trước đến nay; tôi nhận ra thói quen hay ỷ lại, kiểu “Anh là anh nên anh hãy làm gì đi!”, vẫn đang trỗi dậy ngay cả trong tình huống này.

너의 가족들은 큰오빠 집에 아버지를 두고 서둘러 헤어졌다.

Gia đình tôi để bố lại nhà anh cả rồi vội vã giải tán.

헤어지지 않으면 또 싸우게 될 것이다.

Nếu không tách nhau ra, chắc chắn sẽ lại cãi vã.

지난 일주일 동안 줄곧 그래왔다.

Suốt một tuần qua đã luôn như vậy rồi.

엄마의 실종을 어떻게 풀어나가야 할지 상의하러 모였다가 너의 가족들은 예기치 않게 지난날 서로가 엄마에게 잘못한 행동들을 들춰내었다.

Tụ họp để bàn bạc cách giải quyết việc mẹ mất tích, nhưng gia đình tôi lại vô tình bới móc lại những lỗi lầm mà mỗi người đã đối xử không tốt với mẹ ngày trước.

순간순간 모면하듯 봉합해온 일들이 툭툭 불거지고 결국은 소리를 지르고 담배를 피우고 문을 박차고 나갔다.

 Những chuyện vốn được khâu vá tạm bợ để vượt qua từng khoảnh khắc bỗng chốc vỡ lở, cuối cùng mọi người hét vào mặt nhau, hút thuốc rồi hậm hực bỏ ra ngoài.

너는 엄마를 잃어버렸다는 얘길 처음 듣자마자 어떻게 이렇게 많은 식구들 중에서 서울역에 마중나간 사람이 한 사람도 없느냐고 성질을 부렸다. V

ừa nghe tin mẹ mất tích, tôi đã nổi cáu: “Làm sao trong chừng ấy con người mà lại không có nổi một ai ra Ga Seoul đón mẹ?”.

— 그러는 너는? — Thế còn cô thì sao?

나? 너는 입을 다물었다. 너는 엄마를 잃어버린 것조차 나흘 후에나 알았으니까.

Tôi ư? Tôi im bặt. Vì ngay cả việc mẹ mất tích, mãi bốn ngày sau tôi mới biết.

너의 가족들은 서로에게 엄마를 잃어버린 책임을 물으며 스스로들 상처를 입었다.

 Các thành viên trong gia đình cứ thế đổ lỗi cho nhau về việc lạc mất mẹ và tự làm tổn thương chính mình.

오빠 집에서 나온 너는 지하철을 타고 집으로 가다가 엄마가 사라진 지하철 서울역에서 내렸다.

Rời khỏi nhà anh trai, tôi lên tàu điện ngầm về nhà nhưng lại xuống ở Ga Seoul – nơi mẹ đã biến mất.

엄마를 잃어버린 장소로 가는 사이 수많은 사람들이 네 어깨를 치고 지나갔다.

Trong lúc đi đến nơi mẹ bị lạc, vô số người đã va vào vai tôi rồi đi lướt qua.

아버지가 엄마 손을 놓친 자리에 서 있는 동안에도 사람들은 네 어깨를 앞에서 뒤에서 치고 지나갔다.

Ngay cả khi tôi đứng ở vị trí bố đã buông tay mẹ, người ta vẫn va vào vai tôi từ phía trước lẫn phía sau.

누구도 미안하다고 말하지 않았다.

Chẳng một ai nói lời xin lỗi.

너의 엄마가 어쩔 줄 모르고 있던 그때도 사람들은 그렇게 지나갔을 것이다.

Vào lúc mẹ tôi đang hoang mang không biết phải làm gì, hẳn là người ta cũng đã đi lướt qua như thế.

네가 도시로 가기 위해 엄마 곁을 떠나기 며칠 전 엄마는 너의 손을 잡고 시장통 옷가게로 갔다.

Vài ngày trước khi tôi rời xa mẹ để lên thành phố, mẹ đã nắm tay tôi dẫn đến một tiệm quần áo trong chợ.

네가 아무 장식 없는 민짜 원피스를 고르자 엄마는 어깨와 치마 끝단에 프릴이 달린 것을 네 앞에 내밀었다.

Khi tôi chọn một chiếc váy liền thân trơn không họa tiết, mẹ lại đưa ra trước mặt tôi một chiếc váy có bèo nhún ở vai và gấu váy.

이거 어떠냐! 너는 에이…… 하며 밀쳤다.

“Cái này thì sao!” – Tôi thốt lên “Êy…” rồi đẩy nó ra.

왜? 입어보렴. 그때만 해도 젊었던 엄마가 눈을 동그랗게 떴다.

“Sao thế? Thử mặc xem nào.” – Mẹ, khi ấy vẫn còn trẻ, mở to đôi mắt nhìn tôi.

프릴 달린 원피스와 엄마가 머리에 쓴 때 묻은 수건은 서로 다른 세상처럼 대조적이었다. 유치해요.

Chiếc váy bèo nhún ấy và chiếc khăn vấn đầu lấm lem của mẹ trông tương phản như thuộc về hai thế giới khác nhau. “Trẻ con lắm.”

내 말에 엄마는 그러냐? 하면서도 아쉬움이 남는지 자꾸만 원피스를 앞뒤로 살폈다.

Nghe tôi nói vậy, mẹ hỏi “Thế à?” nhưng dường như vẫn còn tiếc nuối nên cứ lật đi lật lại xem chiếc váy.

내가 너라면 이걸 입어보겠구만.

“Nếu mẹ là con, mẹ sẽ mặc thử cái này xem sao.”

유치하다고 말한 게 미안해서 그건 엄마 취향도 아니잖아, 했을 때 너의 엄마는 아니다, 엄만 이런 옷이 좋아, 입을 수 없었을 뿐이다, 했다.

Vì cảm thấy có lỗi khi chê nó trẻ con, tôi bảo: “Đó đâu phải gu của mẹ đâu”, thì mẹ đáp: “Không phải đâu, mẹ thích những bộ đồ thế này, chỉ là mẹ không có cơ hội mặc thôi”.

한 인간에 대한 기억은 어디까지일까. 엄마에 대한 기억은?

Ký ức về một con người có thể kéo dài đến đâu? Còn ký ức về mẹ thì sao?

엄마가 곁에 있을 땐 까마득히 잊고 있던 일들이 아무데서나 불쑥불쑥 튀어나오는 통에 너는 엄마 소식을 들은 뒤 지금까지 어떤 생각에도 일분 이상 집중할 수가 없었다.

Những chuyện vốn đã quên bẵng khi mẹ còn ở bên cứ thế đột ngột hiện về ở bất cứ đâu, khiến tôi từ khi nghe tin về mẹ đến giờ không thể tập trung vào bất cứ ý nghĩ nào quá một phút.

기억 끝에 어김없이 찾아드는 후회들. 그때 그 옷을 입어라도 볼걸.

 Những hối hận luôn tìm đến vào cuối mỗi ký ức. Giá mà lúc đó tôi mặc thử chiếc váy ấy một lần.

너는 어쩌면 엄마가 쭈그리고 앉아 있었을지도 모를 자리에 무릎을 접고 앉아보았다.

Tôi thử gập gối ngồi xuống nơi mà có lẽ mẹ đã từng ngồi thụp xuống.

기어이 네가 원하는 민짜 원피스를 고른 며칠 뒤에 너는 이 서울역에 도착했다.

Vài ngày sau khi khăng khăng chọn chiếc váy trơn mình thích, tôi đã đặt chân đến Ga Seoul này.

너를 서울에 데려다주러 온 엄마는 위압적으로 내려다보는 빌딩도 무찌를 듯한 걸음걸이로, 오가는 인파 속에서도 너의 손을 꼭 잡고 광장을 걸어가 시계탑 밑에서 오빠를 기다렸다.

 Người mẹ đến tiễn tôi lên Seoul, với bước chân như muốn đánh bại cả những tòa nhà cao chọc trời đang nhìn xuống đầy áp lực, đã nắm chặt tay tôi đi xuyên qua đám đông, bước qua quảng trường và đợi anh trai dưới chân tháp đồng hồ.

그 엄마가 길을 잃다니. Người mẹ ấy mà lại lạc đường sao.

지하철이 들어오는 불빛이 보이자 사람들이 몰려들다가 앉아 있는 네가 거치적거리는지 힐끔거렸다.

Khi ánh đèn tàu điện ngầm tiến vào ga hiện lên, dòng người bắt đầu đổ xô tới và liếc nhìn tôi đầy vẻ khó chịu vì tôi đang ngồi choán chỗ.

너의 엄마가 지하철 서울역에서 아버지의 손을 놓친 그때 너는 중국에 있었다.

Vào lúc mẹ buông tay bố tại Ga tàu điện ngầm Seoul, tôi đang ở Trung Quốc.

북경에서 열린 북페어에 동료 작가들과 함께 있었다.

Tôi đang tham dự hội chợ sách ở Bắc Kinh cùng các đồng nghiệp nhà văn.

나중에 생각해보니 너의 엄마를 지하철 서울역에서 잃어버린 그 시간은 네가 북페어의 한 부스에서 중국어로 번역된 네 책을 들여다보고 있던 때이기도 했다.

Sau này nghĩ lại, thời điểm mẹ bị lạc tại Ga Seoul cũng chính là lúc tôi đang đứng tại một gian hàng trong hội chợ sách, mải mê nhìn cuốn sách của mình đã được dịch sang tiếng Trung.

— 아버지는 왜 택시를 타지 않고 지하철을 탔어요! 지하철만 안 탔어도!

— Tại sao bố không đi taxi mà lại đi tàu điện ngầm chứ! Giá mà không đi tàu điện ngầm thì…!

아버지는 기차역이 지하철역과 연결되어 있어 굳이 택시를 타러 나가야 하는가 하는 생각이 들었다고 했다.

Bố nói vì ga tàu hỏa kết nối trực tiếp với ga tàu điện ngầm nên ông nghĩ chẳng việc gì phải đi ra ngoài bắt taxi làm gì.

모든 일은, 특히 나쁜 일은 발생하고 나면 되짚어지는 게 있다.

 Mọi chuyện, đặc biệt là chuyện xấu, sau khi xảy ra xong người ta thường hay hồi tưởng lại.

그때 그러지 말아야 했는데 싶은 것. Cái cảm giác hối tiếc lẽ ra lúc đó không nên làm như vậy.

가족들은 왜 다른 때와 달리 아버지 엄마가 둘이서 작은오빠 집에 찾아갈 수 있다는 말을 따랐을까.

Tại sao các thành viên trong gia đình, khác hẳn mọi khi, lại đồng ý để bố và mẹ tự đi đến nhà anh thứ hai?

가족 중 누군가 서울역이나 고속버스터미널로 아버지 엄마를 마중나가는 것은 늘 해오던 당연한 일이었는데.

Việc ai đó trong nhà ra Ga Seoul hay bến xe bus cao tốc để đón bố mẹ vốn dĩ luôn là điều hiển nhiên vẫn làm mà.

도시에서 어딘가로 이동할 때면 가족들의 승용차나 택시를 이용하던 아버지는 왜 그때 지하철 탈 생각을 했을까.

Tại sao bố, người vốn luôn dùng xe riêng của con cái hoặc taxi mỗi khi di chuyển trong thành phố, lúc đó lại nảy ra ý định đi tàu điện ngầm?

엄마는 아버지와 함께 막 도착한 지하철을 타려 했다고 했다.

Nghe nói mẹ đã định cùng bố bước lên chuyến tàu vừa mới tới.

아버지가 지하철을 타고 보니 엄마가 없었다고 했다.

Nhưng khi bố đã lên tàu và nhìn lại thì không thấy mẹ đâu nữa.

하필 번잡한 토요일 오후였다.

Oái oăm thay, đó lại là một buổi chiều thứ Bảy đông đúc.

엄마는 인파에 떠밀려 아버지 손을 놓쳤고 허둥지둥하는 사이에 지하철이 출발해버린 것이다.

Mẹ bị dòng người xô đẩy nên đã tuột khỏi tay bố, và trong lúc còn đang lúng túng thì đoàn tàu đã chuyển bánh mất rồi.

엄마의 가방은 아버지가 들고 있었으므로 너의 엄마가 빈손으로 지하철역에 혼자 남았을 때 너는 북페어에서 나와서 천안문광장으로 가고 있었다.

Vì bố là người cầm túi xách của mẹ, nên khi mẹ trơ trọi một mình với bàn tay trắng tại ga tàu, tôi đang rời hội chợ sách để đi đến Quảng trường Thiên An Môn.

북경엔 세번째 걸음인데도 천안문광장에 발을 디뎌본 적이 없었다.

Dù đây là lần thứ ba đến Bắc Kinh, tôi vẫn chưa một lần thực sự đặt chân lên Quảng trường Thiên An Môn.

버스 안에서 승용차 안에서 물끄러미 바라보기만 한 곳이었다.

Đó là nơi tôi chỉ luôn lặng lẽ ngắm nhìn qua cửa kính xe bus hay ô tô.

안내를 맡은 학생은 저녁때까지 시간이 남으니 천안문광장에 가보겠느냐고 했고 너의 일행들은 그에 따랐다.

Cậu sinh viên dẫn đoàn bảo rằng vẫn còn thời gian đến tận tối nên hỏi có muốn đi Quảng trường Thiên An Môn không, và đoàn của tôi đã đồng ý.

네가 택시를 타고 자금성 앞에서 내렸을 때, 지하철 서울역에 혼자 남은 너의 엄마는 무엇을 하고 있었을까.

Khi tôi xuống taxi trước Tử Cấm Thành, người mẹ bị bỏ lại một mình ở ga tàu điện ngầm Seoul lúc đó đang làm gì nhỉ?

자금성으로 걸어들어가다가 너의 일행은 되나왔다.

 Đoàn của tôi đang định đi bộ vào Tử Cấm Thành thì lại phải quay ra.

북경은 온 도시가 공사중이었다.

Cả thành phố Bắc Kinh khi ấy đều đang là một công trường xây dựng.

이듬해에 있을 올림픽을 치르기 위해서라고 했다.

Nghe nói là để chuẩn bị cho kỳ Olympic diễn ra vào năm sau.

자금성도 일부분만 개방하고 공사중인데다 곧 문닫을 시간이었다.

Tử Cấm Thành cũng chỉ mở cửa một phần vì đang sửa chữa, lại còn sắp đến giờ đóng cửa.

영화 「마지막 황제」의 늙은 푸이가 어린 시절을 보낸 자금성에 돌아와 어린 관광객에게 보여줄 것이 있다며 옥좌에 숨겨놓은 귀뚜라미 상자를 꺼내 보이던 장면이 떠올랐다.

Tôi chợt nhớ đến cảnh vị hoàng đế già Phổ Nghi trong phim “Hoàng đế cuối cùng” quay lại Tử Cấm Thành nơi mình từng sống thời thơ ấu, nói rằng có thứ muốn cho vị khách du lịch nhỏ tuổi xem rồi lấy ra chiếc hộp đựng dế giấu dưới ngai vàng.

뚜껑을 여니 그때까지도 살아 있던, 푸이가 어린 시절 가지고 놀던 귀뚜라미.

Khi mở nắp, con dế mà Phổ Nghi chơi cùng lúc nhỏ vẫn còn sống đến tận lúc đó.

네가 천안문광장으로 건너가려던 그때에 너의 엄마는 어깨를 치고 지나가는 인파 속에 우두커니 서 있었을까.

Vào lúc tôi đang định băng qua Quảng trường Thiên An Môn, liệu mẹ có đang đứng ngây người giữa dòng người cứ va vào vai mình mà đi lướt qua không?

누군가 데리러 오기를 기다렸을지도 모른다. Có lẽ mẹ đã đứng đợi ai đó đến đón mình.

자금성과 천안문광장을 이어주는 길도 공사중이었다.

Con đường nối giữa Tử Cấm Thành và Quảng trường Thiên An Môn cũng đang thi công.

광장은 바로 앞에 보였지만, 복잡한 미로를 통과하고 또 통과한 뒤에야 그곳에 설 수 있었다.

Quảng trường ở ngay trước mắt, nhưng phải đi qua hết mê cung phức tạp này đến mê cung khác tôi mới có thể đứng được ở đó.

네가 천안문광장 하늘에 떠 있는 연들을 보고 있을 때, 너의 엄마는 지하도에서 체념한 듯 주저앉으며 네 이름을 불렀을지도 모른라.

Khi tôi đang ngắm nhìn những cánh diều bay trên bầu trời Thiên An Môn, có lẽ mẹ đã ngồi bệt xuống đường hầm như thể bỏ cuộc và gọi tên tôi.

천안문의 철문이 열리고 일개분대는 될 듯한 공안원들이 다리를 높이 들며 행진해서 오성홍기를 내리는 걸 구경하고 있을 때, 너의 엄마는 지하철 서울역 구내의 미로를 헤매고 다닌 듯하다.

Lúc tôi đang xem cánh cổng sắt của Thiên An Môn mở ra và cả một tiểu đội công an diễu binh cao chân để hạ cờ ngũ tinh, có vẻ mẹ đang lang thang trong mê cung của ga tàu điện ngầm Seoul.

그때의 너의 엄마를 보았다는 역 구내 사람들의 증언이 그것을 뒷받침한다.

Lời kể của những người ở trong ga nói rằng đã nhìn thấy mẹ lúc đó đã minh chứng cho điều này.

그들은 너의 엄마로 추정되는 한 늙은 여인이 아주 천천히 걷고 있는 걸, 간혹 주저앉아 있는 걸, 에스컬레이터 앞에 하염없이 서 있는 걸 보았다고 했다.

Họ bảo đã thấy một người phụ nữ già được cho là mẹ tôi đi bộ rất chậm, thỉnh thoảng lại ngồi thụp xuống, hoặc đứng ngây ra vô định trước thang cuốn.

너의 엄마인 듯한 한 늙은 여인이 오래 역에 앉아 있다가 도착하는 지하철을 타는 걸 봤다는 이도 있었다.

Cũng có người nói đã thấy một bà cụ trông giống mẹ tôi ngồi ở ga rất lâu rồi lên một chuyến tàu vừa tới.

너의 엄마가 어디론가 사라진 그 밤에 너는 일행들과 밤택시를 타고 북경의 휘황한 먹자거리에 나가 붉은 불빛 아래서 오십육도쯤 되는 중국술을 맛보며 붉은 기름에 볶은 뜨거운 게요리를 먹고 있었던 거다.

Vào cái đêm mẹ mất tích ở đâu đó, tôi đã cùng đoàn đi taxi đêm đến khu phố ẩm thực rực rỡ của Bắc Kinh, dưới ánh đèn đỏ rực, tôi nhâm nhi loại rượu Trung Quốc tầm 56 độ và ăn món cua xào dầu nóng hổi.

아버지가 다음 정거장에서 내려 엄마와 헤어진 지하철 서울역으로 다시 가보았으나 엄마는 없었다고 했다.

Bố nói đã xuống ở ga tiếp theo rồi quay lại ga Seoul nơi lạc mất mẹ, nhưng mẹ đã không còn ở đó nữa.

— 아무리 지하철을 못 탔기로 어떻게 길을 잃을 수 있어요? 안내판이 다 붙어 있는데. 어머니 전화 걸 줄도 모르시나? 공중전화로 전화 한통만 걸면 되는데.

— Dù không lên được tàu đi nữa thì sao lại có thể lạc đường được chứ? Biển chỉ dẫn dán khắp nơi mà. Mẹ không biết gọi điện thoại sao? Chỉ cần gọi một cuộc điện thoại công cộng là được mà.

올케는 지하철을 타지 못했다고 아들 집도 찾지 못하느냐며 엄마에게 다른 일이 생긴 거라고 했다.

Chị dâu nói chẳng lẽ chỉ vì không lên được tàu mà lại không tìm được nhà con trai sao, chắc hẳn đã có chuyện khác xảy ra với mẹ rồi.

다른 일? 그것은 엄마를 어떻게든 예전의 엄마로 여기고 싶은 사람의 마음이었다.

 Chuyện khác ư? Đó là tâm lý của những người muốn coi mẹ vẫn như mẹ của ngày xưa bằng mọi giá.

엄마는 길을 잃을 수 있어, 네 말에 올케는 눈을 빤히 떴다.

Mẹ có thể bị lạc đường chứ, trước câu nói của tôi, chị dâu mở to mắt nhìn trân trân.

언니도 알잖아, 엄마가 어떤 상탠지? 올케가 나는 모르는데요? 하는 표정을 지었다.

Chị cũng biết mà, mẹ đang ở tình trạng thế nào? Chị dâu làm vẻ mặt như muốn nói “tôi có biết gì đâu?”.

너의 가족은 알았다. 엄마가 어떤 상태인지. 엄마가 이대로 돌아오지 못할 수도 있다는 것도.

 Gia đình tôi đều biết. Biết mẹ đang ở trong tình trạng thế nào. Và cả việc mẹ có thể sẽ không bao giờ quay trở về nữa.

엄마가 글을 읽을 줄 모른다는 것을 너는 언제 알았을까.

Tôi đã biết việc mẹ không biết chữ từ khi nào nhỉ?

네가 처음 쓴 편지는 엄마가 도시로 나간 큰오빠에게 전하고 싶은 말을 받아적는 것에서부터 비롯되었다.

Lá thư đầu tiên tôi viết bắt đầu từ việc chép lại những lời mẹ muốn gửi cho anh cả đã lên thành phố.

너의 오빠는 너희가 태어난 마을이 속한 소읍에서 정규 고등학교를 마치고 일년 동안 혼자서 공무원시험 공부를 한 뒤에 발령을 받아 도시로 나갔다.

Anh trai tôi sau khi học xong cấp ba tại thị trấn nơi có ngôi làng chúng tôi sinh ra, đã tự ôn thi công chức trong một năm rồi được bổ nhiệm và lên thành phố.

자신이 낳은 자식과 엄마의 첫 작별이었다.

Đó là lần chia tay đầu tiên của mẹ với đứa con mình rứt ruột đẻ ra.

전화가 없던 그때의 유일한 통신수단은 편지를 쓰는 것이었다.

Vào thời ấy khi chưa có điện thoại, phương tiện liên lạc duy nhất là viết thư.

도시로 간 오빠는 편지지에 큼직큼직한 글씨로 엄마에게 편지를 써보내곤 했다.

Anh tôi khi đã lên thành phố thường viết thư cho mẹ với những nét chữ to rõ trên giấy thư.

너의 엄마는 오빠의 편지가 도착하는 날을 귀신같이 알았다.

Mẹ tôi biết ngày thư của anh tới một cách tài tình như có linh tính vậy.

그 마을엔 오전 열한시쯤 우편집배원이 커다란 가방을 자전거 앞에 매달고 오곤 했다.

Ở làng đó, cứ tầm mười một giờ sáng là bác đưa thư lại đạp xe tới với chiếc túi lớn treo phía trước.

오빠의 편지가 오는 날엔 엄마는 밭에 있다가도 도랑에서 빨래를 하다가도 집에 들어와 우편집배원이 전해주는 오빠의 편지를 직접 받곤 했다. V

ào ngày thư của anh tới, mẹ dù đang ở ngoài đồng hay đang giặt đồ dưới mương cũng chạy về nhà để tận tay nhận lá thư anh gửi từ bác đưa thư.

그러고는 네가 학교에서 돌아오기를 기다렸다. Sau đó mẹ đợi tôi đi học về.

네가 학교에서 돌아오면 엄마는 너를 툇마루로 데리고 가서 오빠의 편지를 꺼내 내밀었다. Khi tôi về, mẹ dắt tôi ra hiên nhà rồi lấy lá thư của anh ra đưa cho tôi.

큰 소리로 읽어보라, 했다. Mẹ bảo tôi hãy đọc to lên.

집을 떠난 너의 오빠의 편지는 “어머님 전 상서”로 시작되었다.

Lá thư của người anh xa nhà bắt đầu bằng dòng chữ “Kính gửi mẹ hiền”.

편지쓰기의 방식을 교과서에서 배운 듯이 오빠는 시골집의 안부를 묻고 도시에 있는 자신의 안부를 전했다.

Như thể đã học cách viết thư từ sách giáo khoa, anh hỏi thăm tình hình ở quê và báo cáo tình hình của mình ở thành phố.

빨래는 일주일에 한번 당숙모에게 갖다주면 빨아준다고 쓰여 있었다.

Trong thư viết rằng quần áo bẩn cứ mỗi tuần một lần mang sang cho thím họ là thím sẽ giặt giúp cho.

엄마가 당숙모에게 간곡히 당부한 일이었다. Đó là việc mẹ đã thiết tha nhờ vả thím họ.

밥은 잘 사먹고 있고, 동사무소 숙직실에서 당번을 서는 일로 숙소도 얻었으니 염려하지 말라고 했다.

 Anh bảo vẫn đang ăn uống đầy đủ, và vì trực đêm ở phòng thường trực ủy ban xã nên cũng có chỗ ở rồi, bảo mẹ đừng lo lắng.

오빠는 이 도시에 나오니 무엇이든 다 이룰 수 있을 것 같고 하고 싶은 일도 많다고 썼다. Anh viết rằng khi ra đến thành phố này, anh cảm thấy có thể đạt được mọi thứ và có rất nhiều việc muốn làm.

꼭 성공해서 언젠가는 엄마를 편하게 해줄 것이라는 포부를 밝히기도 했다.

Anh còn bày tỏ hoài bão nhất định sẽ thành công để một ngày nào đó giúp mẹ được nhàn nhã.

스무살이던 오빠는 능청스럽고 늠름하게도, 그러니 어머님, 제 걱정은 마시고 아무쪼록 어머님 건강을 챙기셔야 합니다, 라고도 썼다.

Anh tôi khi ấy mới hai mươi tuổi, vừa khéo léo vừa đĩnh đạc viết rằng: vì thế mẹ ơi, mẹ đừng lo cho con mà nhất định phải giữ gìn sức khỏe của mẹ nhé.

오빠의 편지를 큰 소리로 읽다가 네가 편지 너머로 엄마를 넘겨다보면 너의 엄마는 뒤란의 토란대나 장항아리를 눈하나 깜짝 않고 응시하고 있었다.

Khi tôi đang đọc to lá thư và liếc nhìn mẹ qua mép giấy, tôi thấy mẹ đang nhìn chằm chằm vào những cây dọc mùng hay những vại tương sau nhà không chớp mắt.

편지를 읽어주는 너의 목소리를 한마디라도 놓칠세라 엄마의 귀는 토끼처럼 쫑긋 세워져 있었다.

Như thể sợ bỏ lỡ dù chỉ một lời tôi đọc, đôi tai mẹ dỏng lên như tai thỏ.

편지를 다 읽고 나면 너의 엄마는 너에게 엄마가 부르는 말을 편지에 적으라고 했다. Đọc xong thư, mẹ bảo tôi hãy viết lại những lời mẹ đọc vào thư.

엄마가 불러주는 첫마디는 형철이에게였다. Câu đầu tiên mẹ đọc là “Gửi Hyung-chol”.

형철은 너의 큰오빠 이름이다. Hyung-chol là tên anh cả của tôi.

너는 엄마가 불러주는 대로 형철이에게, 라고 오빠 이름을 적었다. Tôi viết tên anh là “Gửi Hyung-chol” đúng như lời mẹ đọc.

엄마가 마침표를 찍으라고 하지 않았지만 이름 뒤에 점 하나를 찍었다.

Mẹ không bảo đặt dấu chấm nhưng tôi vẫn chấm một cái sau tên anh.

엄마가 형철아라고 부르면 너는 형철아!라고 적었다.

Khi mẹ gọi “Hyung-chol à”, tôi viết “Hyung-chol à!”.

할말을 잊은 듯이 엄마가 형철아 부른 뒤에 침묵을 지키면 너는 쏟아지는 단발머리를 귀 뒤로 넘기고 볼펜을 든 채로 귀를 쫑긋 세우고 편지지를 들여다보며 엄마의 다음 말을 기다렸다.

Khi mẹ gọi tên anh rồi im lặng như thể quên mất định nói gì, tôi lại vén mớ tóc ngắn lòa xòa ra sau tai, tay cầm bút bi, dỏng tai lên nhìn vào tờ giấy đợi lời tiếp theo của mẹ.

날씨가 차졌구나, 라고 불러주면 너는 날씨가 차가워졌구나, 라고 썼다.

Mẹ đọc “Trời lạnh rồi nhỉ”, tôi viết lại thành “Trời đã trở lạnh rồi con ạ”.

형철이에게라고 불러준 뒤 엄마의 다음 말은 날씨에 관한 것이었다.

Sau khi gọi tên anh, lời tiếp theo của mẹ thường là về thời tiết.

여긴 봄이 와서 꽃이 피었구나. Ở đây xuân đã về và hoa đã nở rồi.

여름이 시작되어 논바둑이 갈라지기 시작했다. Mùa hè bắt đầu và bờ ruộng đã bắt đầu nứt nẻ.

추수철이라 논두둑에 콩이 가득이다. Đang mùa thu hoạch nên đậu phủ đầy trên các bờ ruộng.

엄마가 사투리를 쓰지 않을 때는 오빠에게 전할 말을 불러줄 때뿐이었다.

Lần duy nhất mẹ không dùng phương ngữ là khi đọc những lời muốn nhắn nhủ cho anh.

아무쪼록 여기 걱정은 말고 네 한몸 건사 잘하길 바란다.

Dù thế nào cũng đừng lo cho ở nhà mà hãy chăm sóc bản thân mình cho tốt.

어미가 바라는 것은 그것 하나뿐이다. Mẹ chỉ mong có thế thôi.

형철이에게로 시작한 엄마의 말은 네게 아무 도움도 되지 못해서 어미가 미안하다, 로 감정의 급물살을 탔다.

Bắt đầu bằng “Gửi Hyung-chol”, những lời của mẹ bỗng dâng trào cảm xúc với câu “Mẹ xin lỗi vì đã không giúp ích gì được cho con”.

네가 편지에 또박또박 엄마의 말을 받아적을 때 너의 엄마의 손등엔 굵은 눈물이 툭, 떨어지곤 했다.

Khi tôi nắn nót chép lại lời mẹ vào thư, những giọt nước mắt lớn thường rơi bộp xuống mu bàn tay mẹ.

너의 엄마가 불러주는 마지막 말은 늘 똑같았다. Câu cuối cùng mẹ đọc luôn luôn giống nhau.

아무쪼록 밥은 굶지 말고 다니거라. 엄마가. Dù có thế nào cũng đừng bỏ bữa con nhé. Từ mẹ.

너는 그 집의 셋째였으므로 네 위의 오빠들이 집을 떠날 때마다 엄마가 겪는 작별의 슬픔과 고통과 염려를 지켜보았다.

Vì là con thứ ba trong nhà, tôi đã chứng kiến nỗi buồn, nỗi đau và sự lo lắng của mẹ mỗi khi các anh tôi rời nhà ra đi.

큰오빠를 보내고선 너의 엄마는 새벽마다 장독대의 장항아리를 닦았다.

Sau khi tiễn anh cả, sáng sớm nào mẹ cũng lau chùi những vại tương trên kệ.

우물이 앞마당에 있어서 물을 길어오기만도 힘든 일이었는데 뒤란을 가득 채운 항아리들을 하나하나 다 닦았다. Cái giếng ở sân trước nên việc gánh nước đã mệt rồi, vậy mà mẹ lau sạch từng chiếc một trong số những cái vại xếp đầy sau nhà.

뚜껑도 열어 앞뒤로 윤이 나도록 닦았다.

Mẹ mở cả nắp ra và lau cho đến khi cả trong lẫn ngoài đều bóng loáng.

행주질을 하는 너의 엄마의 입에서는 노래가 흘러나왔다.

Trong lúc đưa tay lau, miệng mẹ lại ngân nga câu hát.

당신과 나 사이에 저 바다가 없었다면 쓰라린 이별만은 없었을 것을… Giá như giữa đôi ta không có biển khơi kia, thì đã không có cuộc chia ly đau đớn đến thế…

손은 연방 찬물에 행주를 담갔다가 꺼내고 비틀어 짜고 항아리 사이를 오가느라 바쁜데 엄마 입에서는 어느날 당신이 나를 버리지 않겠지요, 가 흘러나왔다.

Đôi tay mẹ bận rộn nhúng khăn vào nước lạnh, lấy ra, vắt khô rồi len lỏi giữa các vại tương, nhưng miệng mẹ lại hát “Chắc là có ngày nào đó người sẽ không bỏ rơi tôi đâu nhỉ”.

그때 네가 엄마! 하고 부르면 되돌아보는 너의 엄마의 우직한 소 같은 눈엔 눈물이 그렁그렁 고여 있었다.

Khi ấy tôi gọi “Mẹ ơi!”, mẹ quay lại nhìn tôi với đôi mắt hiền lành như mắt bò, đầy ắp những giọt nước mắt chực trào.

어느 항아리 앞에서 엄마가 형철아! 오빠 이름을 부르며 힘이 빠진 듯 주저앉았을 때 너는 슬그머니 엄마에게서 행주를 빼내고 엄마의 팔을 높이 들어 너의 어깨를 안게 했다.

Khi mẹ gọi “Hyung-chol à!” trước một cái vại nào đó rồi ngồi sụp xuống như thể kiệt sức, tôi đã khẽ lấy chiếc khăn khỏi tay mẹ và nâng cánh tay mẹ lên để mẹ ôm lấy vai tôi.

엄마가 너의 큰오빠를 사랑하는 방식은 학교에서 야간자습을 마치고 돌아온 오빠에게만 라면을 끓여주는 일이었다.

 Cách mẹ yêu anh cả là chỉ nấu mì tôm cho riêng anh khi anh đi học tự chọn buổi đêm ở trường về.

네가 가끔 그에게 그때 이야기를 하면 라면 가지고 뭘 그래? 라고 응수했다.

Thỉnh thoảng tôi kể lại chuyện đó với anh, anh lại đáp “Có mỗi bát mì tôm mà sao cứ nói mãi thế?”.

라면 가지고라니? 그땐 라면이 최고 맛있었는데?

Có mỗi bát mì tôm là sao? Hồi đó mì tôm là ngon nhất còn gì?

숨겨놓고 먹는 것이었다니까! 해도 도시에서 자란 그는 뭐 그렇게까지! 싶은 모양이었다. Tôi bảo “Em nói là mẹ đã giấu đi để cho anh ăn đấy!”, nhưng anh, người đã trưởng thành ở thành phố, dường như lại nghĩ “Làm gì đến mức thế!”.

새로 등장한 라면은 그동안 너의 엄마가 만들어준 모든 음식의 맛을 무력화시켰다. Sự xuất hiện của món mì tôm mới khi ấy đã làm lu mờ hương vị của tất cả các món ăn mẹ từng nấu.

엄마는 새로 나온 라면을 사다 장독의 빈 항아리에 숨겨놓고 늦은 밤에 큰오빠에게만 끓여주고 싶어했다.

Mẹ mua loại mì tôm mới ra lò, giấu trong vại trống trên kệ và chỉ muốn nấu cho một mình anh cả vào đêm muộn.

라면 끓이는 냄새 때문에 너를 비롯한 다른 형제들이 일제히 눈을 떴다.

Nhưng vì mùi mì tôm bốc lên mà tôi và các anh em khác đều đồng loạt tỉnh giấc.

그 밤에 라면냄새 때문에 잠을 깬 너와 너의 형제들에게 엄마가 니들은 그냥 자거라— 엄하게 말하면 너와 너의 형제들은 막 라면을 입에 넣으려는 큰오빠를 일제히 바라보았다. Khi mẹ nghiêm giọng bảo tôi và các anh em đang thức giấc vì mùi mì đêm đó rằng “Các con cứ ngủ tiếp đi”, thì tất cả chúng tôi đều nhìn chằm chằm vào anh cả, người đang chuẩn bị đưa miếng mì vào miệng.

미안해진 그가 라면 한 젓가락씩을 먹게 하면 그제야 엄마는, 먹을 것은 어찌 그리 금세 안다냐들! 하면서 솥에 물을 가득 붓고 라면 한개를 다시 끓여와 너와 너의 형제들에게 나눠주곤 했다.

Khi anh cảm thấy có lỗi và chia cho mỗi người một gắp mì, lúc đó mẹ mới lẩm bẩm “Cái chuyện ăn uống sao các con thính thế không biết!”, rồi đổ đầy nước vào nồi, nấu thêm một gói mì nữa đem ra chia cho tôi và các anh em khác.

라면가닥보다 국물이 더 많은 그 그릇을 받아들고 흐뭇해하던 그런 때가 있었다.

Đã có những lúc chúng tôi cảm thấy mãn nguyện khi nhận bát mì mà nước còn nhiều hơn cả sợi ấy.

너의 엄마는 수많은 항아리들을 닦다가 라면을 숨겨놓던 항아리 앞에서 결국 오빠를 향한 마음을 어찌하지 못하고 철철 울곤 했다.

Mẹ tôi khi đang lau chùi vô số những cái vại, cuối cùng đứng trước cái vại nơi từng giấu mì tôm, đã không kìm nén được tình cảm dành cho anh trai mà khóc nức nở.

오빠들이 집을 떠날 때마다 슬픔에 빠지는 엄마에게 네가 해줄

Với người mẹ luôn chìm trong nỗi buồn mỗi khi các anh rời nhà đi, điều mà tôi có thể làm…

오빠들이 집을 떠날 때마다 슬픔에 빠지는 엄마에게 네가 해줄 수 있는 일은 그들이 보내온 편지를 소리내 읽어준 뒤 엄마의 말을 받아적은 편지를 학교 가는 길에 우체통에 넣어주는 일뿐이었다.

Việc duy nhất tôi có thể làm cho người mẹ luôn chìm trong đau khổ mỗi khi các anh rời nhà đi là đọc to những lá thư họ gửi về, sau đó chép lại lời của mẹ rồi bỏ vào hòm thư trên đường đến trường.

그랬으면서도 왜 너는 엄마가 문자의 세계에 단 한번도 발을 들여놓지 못한 존재라는 것을 까마득히 모르고 지냈을까.

Thế nhưng, tại sao tôi lại có thể sống mà hoàn toàn không hay biết rằng mẹ là người chưa từng một lần đặt chân vào thế giới của chữ nghĩa?

엄마에게 편지를 읽어주고 엄마의 말을 대신 써주면서도 엄마가 글을 몰라서 어린 너에게 의지하는 것이라고 왜 생각해본 적이 없을까.

 Trong khi đọc thư và viết thay lời cho mẹ, tại sao tôi lại chưa từng nghĩ rằng vì mẹ không biết chữ nên mới phải dựa dẫm vào đứa con nhỏ là tôi?

너는 엄마의 부탁들을 텃밭에 나가 아욱을 뜯어오거나 기름집에 가서 석유를 사오라는 것과 같은 심부름으로 받아들였다.

Tôi chỉ coi những lời nhờ vả của mẹ như những công việc vặt vãnh, giống như ra vườn hái rau diếp hay ra tiệm dầu mua dầu hỏa vậy.

너마저 엄마 집을 떠난 뒤에 엄마가 그 일을 다른 이에게 맡긴 것 같지는 않다.

Có vẻ như sau khi cả tôi cũng rời khỏi nhà, mẹ đã không nhờ cậy việc đó vào bất kỳ ai khác nữa.

너는 발신인이 엄마로 된 편지를 단 한통도 받아본 적이 없으니까.

Bởi vì tôi chưa từng nhận được một lá thư nào mà người gửi là mẹ.

어쩌면 네가 편지를 쓰지 않아서일까? 전화 때문이었을 것이다.

Có lẽ là vì tôi đã không viết thư chăng? Chắc hẳn là do có điện thoại rồi.

네가 집을 떠날 무렵엔 마을 이장 집에 공동전화가 놓였다.

Vào khoảng thời gian tôi rời nhà, một chiếc điện thoại công cộng đã được đặt tại nhà trưởng thôn.

그 마을에 처음 생긴 전화였다. Đó là chiếc điện thoại đầu tiên của ngôi làng ấy.

아침마다 아아, 하며 마이크를 시험하는 소리 뒤에는 누구네 집 서울서 전화왔으니 어서 와서 받으라는 안내방송이 흘러나오곤 했다.

Mỗi sáng, sau tiếng thử mic “Alo, alo” là tiếng loa thông báo nhà ai đó có điện thoại từ Seoul gọi về, bảo hãy mau chóng đến mà nghe.

편지로 안부를 전하던 형제들도 마을의 공동전화로 전화를 걸어왔다.

Các anh em vốn hay hỏi thăm qua thư từ cũng bắt đầu gọi về qua chiếc điện thoại công cộng của làng.

마을에 공동전화가 생긴 뒤부터는 식구를 타지로 내보낸 이들은 논에 있거나 밭에 있거나 아아, 마이크 소리가 들리면 모두들 누구를 찾나? 귀를 기울이곤 했다.

 Kể từ khi làng có điện thoại công cộng, những người có người thân đi làm xa, dù đang ở ngoài ruộng hay ngoài đồng, hễ nghe tiếng mic “Alo” là tất cả đều dỏng tai lên nghe xem đang gọi ai.

모녀관계는 서로 아주 잘 알거나 타인보다도 더 모르거나 둘 중 하나다.

Mối quan hệ mẹ con, hoặc là cực kỳ thấu hiểu nhau, hoặc là còn xa lạ hơn cả người dưng.

지난가을까지만 해도 너는 너의 엄마를 잘 안다고 생각했다.

Cho đến tận mùa thu năm ngoái, tôi vẫn nghĩ rằng mình rất hiểu mẹ.

엄마가 무엇을 좋아하는지, 엄마가 화났을 때 어떻게 해야 누그러지는지, 엄마가 무슨 말을 듣고 싶어하는지.

Mẹ thích cái gì, khi mẹ giận thì phải làm sao để mẹ nguôi ngoai, và mẹ muốn nghe những lời nói như thế nào.

누가 지금 엄마가 뭘 하고 있는지 아느냐고 물으면 고사리를 말리고 있을걸요, 일요일이니 성당에 가셨겠는데, 십초 내에 대답할 수 있었다.

Nếu ai đó hỏi liệu có biết giờ này mẹ đang làm gì không, tôi có thể trả lời ngay trong vòng mười giây rằng “Chắc mẹ đang phơi rau dớn đấy” hay “Hôm nay chủ nhật chắc mẹ đi nhà thờ rồi”.

그러나 너의 생각은 지난가을에 조각이 났다.

Thế nhưng, những suy nghĩ đó của tôi đã vỡ vụn vào mùa thu năm ngoái.

엄마에게 너란 존재가 딸이 아니라 손님이 된 듯한 기분을 느낀 것은 엄마가 네 앞에서 집을 치울 때였다.

Cảm giác tôi đối với mẹ không còn là một người con gái mà trở thành một người khách bắt đầu khi mẹ dọn dẹp nhà cửa trước mặt tôi.

어느날부터인가 엄마는 방에 떨어진 수건을 집어 걸었고, 식탁에 음식이 떨어지면 얼른 집어냈다.

Từ một ngày nào đó, mẹ bắt đầu nhặt chiếc khăn rơi dưới sàn phòng để treo lên, và nếu thức ăn rơi trên bàn, mẹ cũng nhanh chóng nhặt đi ngay.

예고 없이 엄마 집에 갈 때 엄마는 너저분한 마당을, 깨끗하지 못한 이불을 연방 미안해했다.

Mỗi khi tôi về nhà mà không báo trước, mẹ cứ liên tục tỏ vẻ áy náy vì sân vườn bừa bộn hay chăn mền không được sạch sẽ.

냉장고를 살피다가 네가 말려도 반찬거리를 사러 시장에 나갔다.

Mẹ kiểm tra tủ lạnh rồi dù tôi có ngăn cản, mẹ vẫn đi ra chợ để mua đồ về làm thức ăn.

가족이란 밥을 다 먹은 밥상을 치우지 않고 앞에 둔 채로도 아무렇지 않게 다른 일을 할 수 있는 관계다.

Gia đình vốn là mối quan hệ mà dù có để nguyên mâm cơm đã ăn xong trước mặt mà làm việc khác thì cũng chẳng thấy nề hà gì.

어질러진 일상을 보여주기 싫어하는 엄마 앞에서 네가 엄마에게 손님이 되어버린 것을 깨달았다.

Đứng trước người mẹ không muốn để lộ những bộn bề của cuộc sống thường nhật, tôi nhận ra mình đã trở thành khách trong mắt mẹ mất rồi.

어쩌면 너는 그보다 더 오래전 엄마가 너를 도시로 데려다준 뒤부터 엄마에게 손님이 되었는지도 모른다.

Có lẽ tôi đã trở thành khách của mẹ từ lâu hơn thế, kể từ ngày mẹ tiễn tôi lên thành phố.

너의 엄마는 너를 도시로 보낸 뒤로는 너를 혼내지 않았다.

Sau khi tiễn tôi lên thành phố, mẹ không còn mắng mỏ tôi nữa.

그전의 너의 엄마는 어땠는가. 네가 조금만 무엇을 잘못해도 세차게 꾸지람했다.

Trước đó mẹ tôi là người thế nào ư? Chỉ cần tôi làm sai một chút thôi là mẹ đã trách mắng rất dữ dội rồi.

아릇해졌다. 이 골목의 사람들을 다 먹여살리고도 항상 물이 고여 있던 그 우물은 저 캄캄한 속에서 어쩌고 있을까?

Ký ức dần mờ xa. Cái giếng từng nuôi sống tất cả mọi người trong con ngõ này và lúc nào cũng đầy ắp nước, giờ đây trong bóng tối sâu thẳm ấy đang ra sao nhỉ?

너는 그 우물이 메워지는 걸 보지 못했다. Tôi đã không được chứng kiến cảnh cái giếng ấy bị lấp đi.

어느날 모처럼 엄마의 집에 가보니 우물은 사라지고 시멘트길이 나 있었다.

Một ngày nọ, sau bao lâu mới về thăm nhà mẹ, tôi thấy cái giếng đã biến mất và thay vào đó là một con đường xi măng.

아직도 시멘트 저 아래 우물에 물이 찰랑찰랑 고여 있으리란 상상을 거두지 못하는 것은 우물이 메워지는 걸 너의 눈으로 보지 못해서일 것이다.

Sở dĩ tôi vẫn không thôi tưởng tượng rằng dưới lớp xi măng kia nước giếng vẫn đang dập dềnh, có lẽ là vì tôi đã không tận mắt thấy nó bị lấp lại.

메워진 우물 위에서 잠시 서성이다가 작은 문 안으로 들어서며 엄마! 하고 불렀으나 아무 대답이 없었다.

Đứng thẩn thờ một lát trên cái giếng đã bị lấp, tôi bước qua cánh cửa nhỏ và gọi “Mẹ ơi!” nhưng không có tiếng trả lời.

탁 기울기 시작한 가을볕이 서향집 마당에 가득 차 있었다.

Ánh nắng mùa thu đã bắt đầu nghiêng xế, tràn ngập khắp khoảng sân của ngôi nhà hướng Tây.

집 안으로 들어가 살폈지만 거실에도 방에도 엄마는 없었다.

Tôi vào trong nhà tìm nhưng cả phòng khách lẫn phòng ngủ đều không thấy mẹ đâu.

집 안은 어수선했다. 식탁 위 물병 뚜껑은 열려 있고 물컵은 개수대에 놓여 있었다.

Trong nhà trông thật lộn xộn. Nắp bình nước trên bàn ăn vẫn mở, còn cốc nước thì nằm trong bồn rửa bát.

거실 바닥에 깔린 돗자리엔 걸레바구니가 엎어져 있고 소파엔 아버지가 벗어놓은 듯 때묻은 셔츠가 팔을 벌리고 걸려 있었다.

Trên chiếc chiếu trải ở sàn phòng khách, giỏ đựng giẻ lau bị lật úp, còn trên ghế sofa, một chiếc áo sơ mi lấm bẩn chắc là của bố đang vắt vẻo như thể đang dang rộng cánh tay.

서향집인 탓에 사위어가능 중인데도 강한 빛이 빈 공간에 스며 있었다.

Vì là nhà hướng Tây nên dù trời đang dần tối, ánh sáng mạnh vẫn len lỏi vào không gian trống trải.

엄마! 텅 비었다는 걸 알면서도 너는 엄마! 하고 한번 더 불러보았다. “Mẹ ơi!” – Dù biết rõ là nhà trống trơn nhưng tôi vẫn thử gọi “Mẹ ơi!” thêm một lần nữa.

그러곤 현관문을 열고 되나오다가 옆마당의 문이 달리지 않은 헛간에 놓인 평상 위의 엄마를 발견했다.

Thế rồi tôi mở cửa chính đi ra, và phát hiện thấy mẹ đang nằm trên tấm phản đặt ở cái kho không cửa cạnh sân bên.

엄마는 평상에 누워 있었다. 엄마! 불렀으나 대답이 없었다.

Mẹ đang nằm trên phản. Tôi gọi “Mẹ ơi!” nhưng vẫn không có tiếng đáp lại.

신발을 고쳐신고 엄마를 바라보며 헛간 쪽으로 걸어갔다.

Tôi xỏ lại giày cho hẳn hoi rồi vừa nhìn mẹ vừa bước về phía cái kho.

헛간에선 마당을 내다볼 수 있었다. Từ trong kho có thể nhìn ra ngoài sân.

오래전 그곳에서 엄마는 누룩을 빚곤 했다. Ngày xưa, mẹ thường làm men rượu ở chính nơi đó.

헛간 옆의 돼지막을 터놓아서 헛간은 제법 쓸모 있게 변했다. Vì đã dẹp bỏ chuồng lợn bên cạnh nên cái kho đã trở nên khá hữu dụng.

벽에 선반을 달아 이제 사용하지 않는 부엌살림을 쌓아놓았고 그 아래 엄마가 담근 것들이 유리병에 담겨 있었다.

Trên tường có gắn kệ để xếp những đồ dùng nhà bếp không còn sử dụng nữa, và bên dưới là những bình thủy tinh đựng đồ do chính tay mẹ ngâm.

오래된 평상을 헛간에 옮겨놓은 건 엄마였다.

Chính mẹ là người đã chuyển tấm phản cũ vào trong kho.

옛집을 헐고 양옥집이 지어지면서 입식부엌에서는 편하게 하지 못하는 부엌일들을 그곳에서 하곤 했다.

Khi ngôi nhà cũ bị dỡ bỏ để xây nhà kiểu Tây, mẹ thường làm những việc bếp núc mà căn bếp hiện đại không tiện làm ở ngay tại đó.

김치를 담그기 위해 붉은 고추를 틀에 넣고 간다든지, 들쑥날쑥한 콩대를 베어와 앞뒤로 뒤져가며 찾아낸 콩을 깐다든지, 고추장을 담근다든지, 김장배추들을 간한다든지, 메주콩을 말린다든지.

Chẳng hạn như cho ớt đỏ vào máy xay để làm kim chi, hay cắt những cành đậu nhấp nhô rồi lật qua lật lại để tách hạt, hoặc làm tương ớt, muối cải thảo vụ đông, hay phơi đậu làm tương.

헛간 옆의 개집이 텅 비어 있었다. 개줄이 풀린 채 땅바닥에 널려 있었다.

Cái chuồng chó cạnh kho trống rỗng. Sợi dây xích chó tháo ra nằm vung vãi trên mặt đất.

그제야 엄마 집에 들어섰을 때 개의 기척이 없었다는 것도 깨달았다.

Đến lúc đó tôi mới nhận ra rằng khi bước vào nhà mẹ, tôi đã không hề nghe thấy tiếng động nào của con chó.

눈으로는 개를 찾으며 엄마 곁에 갔는데 엄마는 기척이 없었다.

Mắt tôi thì đảo quanh tìm con chó còn chân thì bước đến cạnh mẹ, nhưng mẹ vẫn không hề nhúc nhích.

엄마는 방금 전까지 볕에 말릴 호박을 썰고 있었는가보았다.

Có vẻ như mẹ vừa mới thái bí ngô để mang ra phơi nắng xong.

도마와 칼과 호박이 밀쳐져 있고 낡은 대바구니엔 고만고만하게 썰린 호박이 담겨 있었다. Thớt, dao và bí ngô bị đẩy sang một bên, còn trong chiếc rổ tre cũ là những miếng bí đã được thái đều đặn.

처음에 너는 엄마가 잠이 들었나? 생각했다.

Ban đầu tôi nghĩ: “Có phải mẹ đang ngủ không?”.

엄마는 낮잠을 자는 분이 아니었다는 생각에 엄마의 얼굴을 들여다보았다.

Nhưng sực nhớ ra mẹ vốn không phải người hay ngủ trưa nên tôi đã cúi xuống nhìn kỹ khuôn mặt mẹ.

엄마는 이마에 손등을 얹고서 무언가를 참기 위해 안간힘을 쓰고 있었다.

 Mẹ đang đặt mu bàn tay lên trán và dường như đang cố hết sức để chịu đựng một điều gì đó.

엄마의 입술은 벌어져 있고 어찌나 이마를 강하게 찌푸렸는지 미간에 굵은 철사 같은 주름이 져 있었다.

Đôi môi mẹ hé mở, và vì nhíu mày quá mạnh nên giữa hai lông mày hằn lên những nếp nhăn sâu hoắm như những sợi dây thép cứng.

— 엄마! — Mẹ ơi!

네가 불러도 엄마는 눈을 뜨지 않았다. Dù tôi có gọi, mẹ vẫn không mở mắt.

— 엄마! 엄마! — Mẹ ơi! Mẹ ơi!

네가 엄마 앞에 무릎을 꿇고 엄마를 마구 흔들자 너의 엄마가 실눈을 떴다.

Khi tôi quỳ xuống trước mặt mẹ và lắc mạnh người mẹ, mẹ tôi mới khẽ mở ti hí mắt ra.

눈이 붉게 충혈되고 이마에 땀방울이 송골송골 맺혀 있었다.

 Mẹ mở mắt ra. Đôi mắt đỏ rực vì xung huyết và trên trán lấm tấm những giọt mồ hôi.

너의 엄마는 네가 누군지 모르는 것 같았다. Có vẻ như mẹ không nhận ra tôi là ai.

고통에 짓눌린 채 엄마의 얼굴이 처참하게 일그러져 있었다.

Khuôn mặt mẹ biến dạng thảm hại vì bị cơn đau đè nặng.

보이지 않는 어떤 음흉한 것이 엄마의 머리를 찍어내리고 있지 않음해야 지을 수 없는 표정이었다.

Đó là biểu cảm mà nếu không phải bị một thứ gì đó hiểm độc và vô hình đang giáng xuống đầu thì không thể nào có được.

너의 엄마는 다시 눈을 감았다. Mẹ tôi lại nhắm mắt lại.

— 엄마! — Mẹ ơi!

너는 너도 모르게 평상에 올라 엄마의 비참한 얼굴을 너의 무릎에 올려놓았다.

Tôi vô thức leo lên phản rồi đặt khuôn mặt thê lương của mẹ lên đầu gối mình.

엄마의 얼굴이 무릎에서 미끄러져내리지 않도록 겨드랑이에 팔을 넣었다.

Tôi luồn tay vào nách mẹ để khuôn mặt mẹ không bị trượt khỏi gối mình.

어떻게 엄마를 이렇게 혼자 두는가. Sao có thể để mẹ ở một mình như thế này được chứ?

누가 엄마를 거기 헛간에 내버리고 간 듯 너의 의식에 분한 생각이 순간 스쳐갔다.

Một ý nghĩ tức giận xẹt qua tâm trí tôi, như thể ai đó đã bỏ mặc mẹ lại ở cái kho này mà đi mất.

인간이란 그렇게 이기적이다. Con người ta quả thật ích kỷ như vậy đấy.

그 순간 너는 엄마를 헛간에 내버린 사람이 따로 있기라도 한 듯 노여움을 느끼며 분개했으니 말이다.

Vào khoảnh khắc đó, tôi đã cảm thấy giận dữ và phẫn nộ như thể có một ai đó khác đã bỏ mặc mẹ trong kho vậy.

너의 엄마를 헛간에 혼자 둔 건 다름아닌 너이기도 한데. Trong khi chính tôi cũng là người đã để mẹ lại một mình trong căn kho này.

지나치게 놀라면 아무것도 할 수 없는 법이다.

Khi quá đỗi bàng hoàng, con người ta thường chẳng thể làm được gì cả.

앰뷸런스를 불러야 하나, 엄마를 방으로라도 옮겨야 하나, 아버진 어디 갔나? 생각들이 두서없이 오갔으나 너는 정작 아무것도 하지 못한 채 엄마를 무릎에 누이고 내려다보았다. Nên gọi xe cấp cứu, hay nên chuyển mẹ vào phòng, rồi bố đã đi đâu rồi? Các ý nghĩ cứ thế hỗn loạn hiện lên nhưng tôi lại chẳng thể làm được gì, chỉ biết để mẹ nằm lên gối và cúi xuống nhìn mẹ.

그토록 고통에 일그러진 엄마의 비참한 얼굴을 본 적이 없었다.

Tôi chưa bao giờ thấy khuôn mặt mẹ thê thảm và biến dạng vì đau đớn đến nhường ấy.

이마를 찍어누르는 듯한 엄마의 손이 바닥으로 툭 떨어졌다.

Bàn tay mẹ vốn đang ấn chặt vào trán bỗng rơi bộp xuống sàn.

엄마는 맥이 빠진 채 숨을 몰아쉬었다.

Mẹ kiệt sức thở hổn hển.

고통이 짓누를 때 안간힘을 쓰며 거기에서 벗어나보려고 했던 긴장이 한순간에 풀린 듯 엄마의 팔다리가 축 늘어졌다.

Mọi sự căng thẳng khi mẹ cố hết sức để thoát khỏi cơn đau đang đè nặng dường như tan biến trong tích tắc, tay chân mẹ buông thõng xuống.

엄마! 엄마! Mẹ ơi! Mẹ ơi!

육체를 끌어안으려 하는 너의 심장이 뛰었다.

Trái tim tôi đập liên hồi khi định ôm lấy cơ thể mẹ.

너는 처음으로 엄마가 이렇게 죽을 수도 있겠다고 생각했다.

Lần đầu tiên tôi nghĩ rằng mẹ có thể sẽ chết như thế này.

가만히 눈을 뜬 엄마의 동공이 네게서 멎었다.

Mẹ lặng lẽ mở mắt, đồng tử dừng lại ở phía tôi.

왜 네가 눈앞에 있는지 놀랄 만도 한데 너의 엄마의 동공은 동요가 없었다.

Dù đáng lẽ phải ngạc nhiên vì sao tôi lại ở ngay trước mắt, nhưng đồng tử của mẹ không hề dao động.

무엇에 반응하기에는 힘이 달려 보였다.

Có vẻ như mẹ đã không còn sức lực để phản ứng với bất cứ điều gì nữa.

얼마 뒤에야 엄마는 생기를 잃은 무감각한 얼굴로 너의 이름을 불렀다.

Phải một lúc sau, mẹ mới gọi tên tôi bằng khuôn mặt vô cảm và thiếu sức sống.

그리고 희미하게 중얼거렸다. 너는 귀를 기울였다.

Rồi mẹ lẩm bẩm một cách yếu ớt. Tôi dỏng tai lên nghe.

— 나는 니 이모가 죽었을 때 울 수조차 없었단다.

— Lúc dì của con mất, mẹ thậm chí còn không thể khóc nổi.

핏기를 잃은 엄마의 얼굴이 너무나 공허해서 너는 뭐라 위로조차 할 수 없었다.

Khuôn mặt tái nhợt của mẹ trông trống rỗng đến mức tôi không thể nói được bất kỳ lời an ủi nào.

엄마가 썰다 만 호박조각들이 도마 위에 그대로 있었다.

Những miếng bí ngô mẹ đang thái dở vẫn còn nằm nguyên trên thớt.

너는 엄마를 부축해 방으로 데리고 들어갔다. Tôi đỡ mẹ dậy rồi đưa mẹ vào trong phòng.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM –  0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM  – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM  – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM  – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM  –  0776 000 931   
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương  – 0778 748 418 
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo