TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ -Truyện ngắn DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ (CHƯƠNG 2)

TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA

LÊ HUY KHOA

TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW

SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ

Truyện ngắn

DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

Vũ Thị Ngọc Anh – CSTT Kanata Thủ Đức

 

2: 뜻밖의 모험 – 아이들 장난감이  줄도 모르고 – 또다시 시엔 턱에게서 새로운 교훈을 얻다

Chương 2: Cuộc phiêu lưu bất ngờ – Làm đồ chơi cho trẻ con mà không biết – Lại anh Xiến Tóc cho tôi một bài học mới

  1. 나는내 모든 행동에 대해 생각하는 연습을 하기 시작했다.
    Tôi tập suy nghĩ về mọi hành động của mình.
  2. 나는스스로에게 다짐했다. 이제부터는 장난스러운 행동과 생각 있는 행동을 구별해야 한다고.
    Lòng đoan với lòng rằng từ đây phải biết phân biệt hành vi lố lỉnh với những việc làm có suy nghĩ.
  3. 그래서나는 점점 차분하게 살아가기 시작했다.
    Như thế, tôi bắt đầu sống bình tĩnh.
  4. 하지만그런 평온한 날들은 오래 가지 않았다.
    Nhưng những ngày phẳng lặng đó cũng chỉ được ít lâu.
  5. 얼마나오래였는지는 나도 기억하지 못한다.
    Bao nhiêu lâu tôi cũng không nhớ.
  6. 그러다가나는 우연히 한 번의 파란만장하고 기묘한 모험을 겪게 되었다.
    Rồi tình cờ tôi phải trải qua một cuộc phiêu lưu sóng gió và kỳ lạ.
  7. 그것은어느 해 초여름의 일이었다.
    Ấy là vào đầu mùa hè một năm kia.
  8. 아침에나는 굴 밖에 서서 어린 풀을 뜯으며 아침 식사를 하고 있었다.
    Buổi sáng tôi đang đứng ngoài cửa gặm mấy ngọn cỏ non ăn điểm tâm.
  9. 그때들판 끝에서 두 소년이 다가오고 있었다. 한 손에는 막대기를 들고, 다른 손에는 물이 담긴 깡통을 들고 있었다.
    Bỗng đằng cuối bãi tiến lại hai cậu bé con, tay cầm que, tay xách cái ống bơ nước.
  10. 사람그림자를 보자 나는 급히 풀 속으로 몸을 숨기고 재빨리 굴로 들어갔다.
    Thấy bóng người, tôi vội lẩn xuống cỏ, chui nhanh về hang.
  11. 곧이어머리 위에서 쿵쿵거리는 발소리가 어지럽게 울렸다.
    Bỗng chốc tôi nghe tiếng chân bước thình thịch loạn trên đầu.
  12. 그리고재잘거리는 소리와 부르는 소리가 들려왔다.
    Và ríu rít những tiếng nói, tiếng gọi:
  13. “여기야! 이봐!”
    – Á này. Này!
  14. “뭐야?”
    – Cái gì?
  15. “여기가틀림없어. 흙이 새로 파여 있잖아!”
    – Chỗ này đích rồi. Đất đùn mới tinh!
  16. “그래, 맞아. 봐라, 얼마나새 흙이 많이 올라왔는지. 게다가 저 녀석이 드나든 발자국도 아직 반질반질해.”
    – Ờ ờ đúng. Gớm chửa, bao nhiêu đất mới đùn. Lại vết chân cu cậu mới ra vào còn nhẵn thin thín.
  17. “야, 칼좀 줘. 내가 구멍을 파볼게. 넌 물을 떠와. 빨리!”
    – Bé ơi! Đưa dao đây để tớ khoét lỗ, đằng ấy đi xách nước đi. Nhanh lên.
  18. 곧나는 칼로 흙을 찌르는 소리를 들었고, 흙이 우수수 내 머리 위로 떨어지는 것을 느꼈다.
    Lập tức tôi nghe tiếng thọc dao chuyển cả đất và thấy đất rơi lả tả xuống ngay đầu.
  19. 큰일이일어났다는 것을 깨달은 나는 급히 위쪽 갈래 통로로 올라가 숨었다.
    Biết có biến lớn, tôi vội nhảy lên nấp cao trên ngách thượng.
  20. 잠시후 물이 밀려 들어왔다.
    Đứng đấy một chốc thì có nước ộc tới.
  21. 아이들은물을 부어 나를 밖으로 몰아내려 했다.
    Bọn trẻ đổ nước định lùa tôi ra.
  22. 하지만물은 내 발끝까지만 차올랐다가 다시 빠져나갔다.
    Nhưng mỗi đợt nước vào chỉ dâng đúng đến vuốt chân tôi lại rút xuống.
  23. 그이유는 평소에 내가 일부러 여러 갈래의 옆길을 파 두었기 때문이다.
    Bởi vì khi bình thời, tôi đã cố ý đào ra nhiều đường ngang.
  24. 지금은물이 들어와도 굴 안에 고이지 못하고 그 갈래길을 따라 모두 밖으로 빠져나갔다.
    Bây giờ nước vào những không có chỗ đọng được trong hang mà nước theo ngách thoát cả ra ngoài.
  25. 하지만그 두 아이는 매우 영리했다.
    Hai đứa trẻ ranh lắm.
  26. 그들은쉽게 포기하지 않았다.
    Chúng không chịu bỏ.
  27. 이리저리뛰어다니며 흔적을 살펴보더니 이 굴 안에 반드시 귀뚜라미가 있다고 확신했다.
    Chúng huỳnh huỵch chạy quanh, xem xét dấu vết các mặt, chúng đoán đích trong tổ này có dế.
  28. 특히‘년’이라는 아이가 더욱 단호했다.
    Nhất cái cậu tên là Nhớn.
  29. 몇번이나 물을 부어도 귀뚜라미가 나오지 않자 다른 아이는 가려 했지만, 년은 고집을 꺾지 않았다.
    Mấy lần Bé đổ nước không thấy dế bò ra, đã toan đi, nhưng Nhớn cứ khăng khăng:
  30. “내가장담하는데, 반드시 있어. 게다가 아주 큰 놈이야.”
    – Tớ cam đoan thế nào cũng phải có. Mà lại dế to hạng nhất cơ.
  31. “이런놈은 물에 아주 강해서, 수염이 잠겨도 버티고, 몇 시간은 물에 담가야 기어나온다.”
    – Cái thứ dế cụ nó bạo nước lắm, ngập cả râu trong nước nó cũng vẫn đứng được, phải ngâm nước đến hàng giờ thì dế cụ mới chịu sặc mà nhoi ra.
  32. “그러니까지금부터는 주변의 모든 통로를 막아서 물이 빠지지 않게 해야 해. 그러면 숨이 막혀서 반드시 기어나올 거야.”
    – Bây giờ mình phải tìm cách lấp hết các ngách xung quanh cho nước đọng lại trong hang, cu cậu tắc thở, thế nào cũng tuồi ra thôi.
  33. 그말은 곧 행동으로 이어졌다.
    Nói như thế là làm y vậy.
  34. 나는소름이 돋았다.
    Nghe rợn gáy.
  35. 곧굴 안이 어둡게 변했다.
    Lập tức, tôi thấy hang tối sẫm.
  36. 내가파 놓은 모든 통로가 막혀 버렸다.
    Những ngách ngang ngách dọc vào hang tôi đều bị lấp cả.
  37. 이제밖으로 나갈 수 있는 길은 하나뿐이었다.
    Chỉ còn mỗi một đường chính để chui ra.
  38. 아이들은내가 그 길로 나오기를 기다리고 있었다.
    Chúng bắt tôi phải xộc ra con đường ấy cho chúng tóm cổ.
  39. 이제물은 들어오는 대로 고이기 시작했고 점점 차올랐다.
    Bây giờ, nước lùa vào đến đâu, đọng đến đấy và cứ dâng dần dần…
  40. 처음에는등에 닿았고, 나중에는 머리까지 잠겼다.
    Trước đến lưng, sau lủm cả đầu.
  41. 오직두 개의 더듬이만 물 위로 내밀고 흔들리고 있었다.
    Chỉ còn hai cái râu thò lên đụng đậy.
  42. 곧그 더듬이마저도 물에 잠겼다.
    Rồi râu cũng ngập nốt.
  43. 하지만나는 여전히 숨을 참고 머리를 내밀지 않으려 애썼다.
    Nhưng tôi vẫn cố nhịn thở, không chịu ló đầu ra.
  44. 나는생각했다. 물이 차올라도 잠깐일 것이고, 곧 땅속으로 스며들 것이라고.
    Tôi nghĩ nước có ngập, nước cũng chỉ ngập một chốc rồi lại thấm sâu vào đất.
  45. 이곳은모래땅이기 때문에 나는 숨을 참을 수 있다고 믿었다.
    Đất này là đất cát và tôi nhịn thở được.
  46. 하지만아무리 물이 잘 스며든다 해도 그것은 오래 버틸 방법이 아니었다.
    Song dù nhờ đất thấm nước khoẻ thế, cũng không phải cách bền vững.
  47. 과연얼마 지나지 않아 모래도 물을 가득 머금어 더 이상 스며들지 않았다.
    Quả nhiên, chẳng mấy chốc, đất cát cũng đã ngấm no nước, không chịu thấm nữa.
  48. 그래서물은 다시 차올랐다.
    Vậy là nước lại ứ lên.
  49. 나는너무 불안해졌다.
    Tôi lo quá.
  50. 이번에는반드시 밖으로 나가야 할 것 같았다.
    Phen này phải bò ra mất.
  51. 아, 만약지금 밖으로 나가면 내 인생은 끝이다!
    Ôi thôi, nếu bò ra bây giờ, đời tôi còn gì!
  52. 저두 아이는 나를 잡아서 닭이나 새의 먹이로 줄 것이다.
    Hai đứa trẻ kia sẽ bắt tôi đem về làm miếng mồi béo cho con gà chọi, con hoạ mi, con sáo mỏ ngà của chúng xơi ngon.
  53. 그새장 속의 새들과 어항 속 물고기들이 이런 기름진 먹이를 보면 얼마나 좋아하겠는가.
    Bọn cá chậu chim lồng ấy mà vớ được món ăn mỡ màng như thằng tôi thế này thì phải biết là thích.
  54. 하지만여기 그대로 버티고 있어도 결국 숨이 막혀 죽거나 물에 빠져 죽을 것이다.
    Mà cứ gan liền chôn chân ở đây rồi cũng đến chết ngạt, chết đuối mất.
  55. 그래서나는 완전히 나갈 생각은 아니었지만, 물이 들어올 때마다 조금씩 몸이 앞으로 밀려 나갔다.
    Rồi, tuy không định ra hẳn nhưng mỗi lần nước ộc vào, tôi cứ tự nhiên nhích người ra một mảy.
  56. 그덕분에 내 머리가 물 위로 살짝 올라왔다.
    Làm như vậy tôi thấy đầu tôi được thò lên mặt nước.
  57. 그렇게해서 나는 잠깐이나마 숨을 쉴 수 있었다.
    Như thế nghĩa là tôi lại hít được một chút không khí.
  58. 그것은훨씬 편안했다.
    Có dễ chịu hơn.
  59. 그래서아이들이 물을 부을 때마다 나는 조금씩 더 나왔다.
    Từ đấy hễ bọn trẻ đổ nước vào, tôi lại hơi nhoi ra một tí.
  60. 조금씩, 아주조금씩… 나도 모르게 점점 밖으로 나오고 있었다.
    Một tí, một tí mà không cảm thấy mình đương nhoi dần ra.
  61. 하지만나에게는 정말 불행한 일이었다!
    Không may cho tôi biết bao!
  62. 나는그렇게 하면 숨 쉬기는 쉬워지지만, 발을 들 때마다 앞으로 나간다는 것을 몰랐다.
    Tôi không biết rằng cứ như thế, có được dễ thở, nhưng nguy hiểm là mỗi lần nhấc chân lên, là nhích ra.
  63. 그러던어느 순간, 물이 무릎 아래로 빠져나가자, 굴 밖에서 아이들이 내 머리를 보았다.
    Thế rồi một lần nước vừa rút xuống khoeo, đột nhiên ở ngoài cửa hang bọn trẻ trông vào thấy cái đầu của tôi.
  64. “여기있다! 머리가 크고 번쩍번쩍해!”
    – Đây rồi! Đầu to gộc, bóng quá!
  65. 나는즉시 뒤로 움츠러들었다.
    Tôi rụt ngay vào.
  66. 하지만이미 늦었다.
    Song đã muộn.
  67. 그들은이미 나를 보았다.
    Họ trông thấy tôi rồi.
  68. 한번 본 이상, 반드시 잡으려 할 것이다.
    Đã trông thấy tất họ phải bắt cho kỳ được.
  69. 과연물은 더욱 세게 쏟아졌고, 아이들의 고함소리도 점점 거세졌다.
    Quả nhiên, nước càng dội vào, tiếng hò hét càng tợn.
  70. 때로는발을 구르고 손뼉을 치며 주변 땅이 흔들릴 정도였다.
    Có lúc tiếng chân tay vỗ, giậm doạn rung chuyển cả đất bốn bên.
  71. 나는온몸이 떨리고 숨이 막혔으며 물속에서 몸부림쳤다.
    Tôi run người lên, tôi bí thở, tôi vùng vẫy vì bức nước.
  72. 그리고의도하지 않았지만 내 발은 계속 앞으로 나아갔다.
    Rồi trong bụng không định mà chân lại cứ nhấc dần ra.
  73. 갑자기등 뒤에서 ‘쏴악’ 하는 소리가 들렸다. 마치 번개 같은 소리였다.
    Bỗng nghe một tiếng xoạt ngay sau lưng, như tiếng sét.
  74. 뒤를돌아보니, 대나무 막대와 칼날이 굴 안쪽을 가로막고 있었다.
    Quay lại, một thanh nứa, lại cả mũi dao nữa, đã thục xuống chắn ngang đường vào cuối hang.
  75. 아이들은물의 움직임을 보고 내가 입구에 있다는 것을 알아차린 것이다.
    Thì ra, hai đứa trẻ khôn ngoan, trông mặt nước động biết tôi đã chui ra đứng cửa tổ.
  76. 그래서뒤쪽을 막아 버렸다.
    Họ xiên dao xiên nứa xuống chặn lối sau lưng tôi.
  77. 만약맞았다면 나는 두 동강이 났을 것이다!
    Nếu trúng thì đứt đôi người!
  78. 나는놀랄 틈도 없이 그 대나무에 떠밀려 밖으로 밀려 나갔다.
    Nhưng tôi chưa kịp giật mình, đã có cảm giác cái thanh nứa chẹn lưng đương bẩy tôi ra.
  79. 한아이는 막대를 밀고, 다른 아이는 깡통을 두드리며 북소리 흉내를 냈다.
    Hai đứa trẻ, đứa thì đẩy thanh nứa, đứa thì ngồi gõ vào cái ống bơ đựng nước.
  80. 입으로는위협하는 소리를 질렀다.
    Mồm kêu thòm thòm giả làm trống ngũ liên doạ nạt.
  81. 온들판이 떠들썩했다.
    Thúc giục váng cả bãi.
  82. 나는더 이상 버틸 수 없어 밖으로 뛰쳐나왔다.
    Bị hất mạnh, bí quá tôi liền nhảy ra.
  83. “얘들아! 큰귀뚜라미다!”
    – Anh em ơi! Dế cụ! Dế cụ!
  84. “하하! 잡았다!”
    – Ha! Ha! Bắt được dế cụ!
  85. “매미네 마리만큼 크다!”
    – To bằng bốn thằng ve sầu!
  86. “정말큰 놈이야!”
    – Dế cụ mà lị!
  87. 그‘년’이라는 아이가 나를 붙잡았다.
    Nhớn tóm được tôi.
  88. 나는그 아이의 손가락을 한 번 세게 물었다.
    Tôi cắn cho cậu bé một miếng vào ngón tay.
  89. 아이는비명을 질렀다.
    Nó kêu thét.
  90. 나는이어서 뒷발로 한 번 세게 걷어찼다.
    Tôi bồi cho cái đạp hậu.
  91. 그는나를 놓아버렸다.
    Nó buông rời tôi ra.
  92. 그틈을 타 나는 급히 풀밭 속으로 도망쳤다.
    Được dịp, tôi vội nhảy trốn vào giữa bãi cỏ.
  93. 하지만두 아이는 곧바로 나를 뒤쫓았다.
    Nhưng cả hai đứa trẻ đuổi theo.
  94. 한아이는 바구니를 들고, 다른 아이는 깡통을 들고 나를 덮쳤다.
    Đứa cầm giỏ, đứa cầm ống bơ, đuổi theo úp tôi.
  95. 눈깜짝할 사이에 나는 바구니 안에 뒤집힌 채 갇히고 말았다.
    Chỉ loáng mắt, tôi đã nằm chỏng vó giữa giỏ.
  96. 나는바구니의 가느다란 틈을 물어뜯으려 했다.
    Tôi cố cắn nan giỏ mỏng rớt.
  97. 하지만아직 하나도 뜯지 못했는데,
    Nhưng chưa nhai được mắt nào,
  98. 그들은바구니 입구를 묶어버렸다.
    Họ đã đem buộc túm cái đít giỏ lại.
  99. 나는더 이상 움직일 수도 없었다.
    Khiến tôi không nhúc nhích, cựa quậy được nữa.
  100. 아이들은물통과 장난감들을 챙기고,
    Họ xếp ống bơ xách nước và các đồ chơi lại,
  101. 연못가로가서 손발을 씻었다.
    Ra bờ đầm rửa chân rửa tay.
  102. 그리고나를 들고 함께 돌아갔다.
    Và xách tôi theo.
  103. 그들은매우 즐거워 보였다.
    Họ vui vẻ ra về.
  104. 걸음은리듬을 타고, 손은 춤을 추듯 움직였다.
    Chân bước theo nhịp tay múa.
  105. 입으로는노래를 흥얼거렸다.
    Miệng hát ý ơ.
  106. 몹시신이 난 모습이었다.
    Vẻ khoái chí lắm.
  107. 바구니밑에 웅크린 채, 나는 마지막으로 내가 살던 풍경을 바라보았다.
    Nằm tròn trong đít giỏ, tôi đưa mắt nhìn lần cuối cùng phong cảnh nơi tôi ở.
  108. 연한풀은 푸르게 빛나고, 물은 넓게 은빛으로 펼쳐져 있었다.
    Cỏ non xanh rờn, mặt nước bạc mênh mông.
  109. 햇빛은나뭇잎 위에 황금빛으로 쏟아지고 있었다.
    Nắng vàng rải trên lá cây.
  110. 그빛은 너무나도 신비롭게 아름다웠다.
    Vàng một màu tươi lạ lùng.
  111. 내마음은 칼로 베인 듯 아팠다.
    Lòng tôi đau như cắt.
  112. 눈물이두 줄기 흘러내렸다.
    Hai hàng nước mắt tuôn rơi.
  113. 점점멀어졌다.
    Dần mỗi bước một xa.
  114. 뒤돌아보아도더 이상 보이지 않았다.
    Ngoảnh đầu lại không trông thấy nữa.
  115. 이제완전히 사라져 버렸다.
    Thế là khuất hẳn.
  116. 이번에는나는 틀림없이 죽을 것이다.
    Phen này tôi tất chết.
  117. 아이들은나를 들판 밖으로 데리고 나갔다.
    Hai đứa trẻ đem tôi ra khỏi bãi.
  118. 대나무가우거진 구불구불한 길을 지나,
    Qua một quãng đường ngoắt ngoéo bên thành tre rậm rạp,
  119. 작은길을 따라 어느 대문 앞에 도착했다.
    Tới một lối nhỏ đi men đến một cái cổng tán.
  120. ‘년’은집 안으로 들어가 물건들을 정리했고,
    Nhớn vào nhà cất mọi thứ đồ đạc “đúc” dế,
  121. ‘베’는바구니를 내려놓았다.
    Còn Bé thì đặt giỏ xuống.
  122. 내운명이 곧 결정될 것을 알자,
    Biết số phận mình sắp được định đoạt,
  123. 나는몹시 긴장되고 온몸이 차가워졌다.
    Tôi thấy hồi hộp và lạnh cả sáu gan bàn chân.
  124. 닭이나새의 먹이가 될까?
    Sắp làm mồi cho gà, cho chim chăng?
  125. 하지만주변에서는 새 소리도 들리지 않았고,
    Nhưng quanh đây, tôi không nghe tiếng móng chim họa mi cào vào nan lồng,
  126. 투계용닭도 보이지 않았다.
    Cũng không thấy con gà chọi nào.
  127. 나는조금 안심했다.
    Tôi hơi yên yên.
  128. 그때‘년’이 집 안에서 나왔다.
    Nhớn ở trong nhà ra.
  129. ‘베’가말했다.
    Bé nói:
  130. “이귀뚜라미를 연못에 던져서 우리 오리에게 먹이로 주자.”
    – Đem thằng dế này quẳng ra ao cho “xừ” vịt bầu của chúng mình “xực” một bữa, Nhớn ạ.
  131. 나는깜짝 놀랐다.
    Tôi giật mình đánh thót một cái.
  132. 하지만‘년’은 손을 저으며 말했다.
    Nhưng Nhớn xua tay bảo:
  133. “안돼! 이렇게 큰 귀뚜라미는 드물어.”
    – Không! Đúc được thằng dế cụ thế này hiếm lắm.
  134. “이건장군감이다.”
    – Dế này dế cụ, gan liền tướng quân đây.
  135. “저번에‘틴’이도 귀뚜라미 하나 있었는데, 자기 게 제일 세다고 자랑했어.”
    – Thằng Thịnh hôm nọ cũng có một con dế…
  136. “그럼이 녀석이랑 싸워보자!”
    – Chúng ta nên đem sang cho đánh nhau!
  137. “어느쪽이 이기는지 보자고!”
    – Để xem a…ha… “thắng bại như hà…”
  138. ‘베’는손뼉을 치며 말했다.
    Bé vỗ tay:
  139. “그래, 좋아!”
    – Phải, phải lắm.
  140. 그렇게해서 나는 죽지 않게 되었다.
    Ấy thế là tôi không chết.
  141. 이런행운은 전혀 예상하지 못했던 일이었다.
    Điều may mắn này không lường trước ra được.
  142. 두아이는 나를 대나무로 만든 단단한 우리에 가두었다.
    Hai cậu bé đem giam tôi vào một cái lồng tre gài then chắc chắn.
  143. 나는꼼짝없이 그 안에 누워 있어야 했다.
    Tôi đành nằm yên.
  144. 앞으로어떤 일이 일어날지 전혀 알 수 없었다.
    Chờ sự thay đổi nào đó mà tôi lại không thể tưởng tượng ra trước được.
  145. 나는단지 곧 싸움을 해야 한다는 것만 알고 있었다.
    Tôi chỉ biết thế là tôi sắp phải đi đánh nhau.
  146. 하지만싸움을 생각하면 나도 모르게 다리를 들썩이고 싶어졌다.
    Nhưng cứ nói đến đánh nhau, tôi lại cứ muốn múa chân lên.
  147. 자유를찾아야 한다는 생각조차 잊어버렸다.
    Quên cả cái thân tù đáng nhẽ phải tìm cách thế nào cho được tự do.
  148. 내오만한 성격이 다시 고개를 들기 시작했다.
    Tâm tính ngông nghênh của tôi muốn hung hăng trở lại như dạo trước.
  149. 그날오후, 예상대로 나는 다른 집 귀뚜라미와 싸우게 되었다.
    Buổi trưa, quả nhiên anh em nhà ấy đem tôi sang cho “giáp chiến”.
  150. ‘년’은골목 밖에서 소리쳤다.
    Nhớn đứng ngoài ngõ gọi:
  151. “틴! 틴!”
    – Thịnh ơi Thịnh!
  152. 틴이집 안에서 뛰어나왔다.
    Thịnh từ trong nhà chạy ra.
  153. “왜그래?”
    – Gì thế?
  154. “내귀뚜라미다! 싸워볼래?”
    – Dế cụ tao đây. Có giỏi đem dế mày ra chọi nào.
  155. 틴은비웃으며 안으로 들어가 자기 귀뚜라미를 가져왔다.
    Thịnh cười khanh khách, quay vào xách lồng dế ra.
  156. 아이들은과수원으로 모였다.
    Cả bọn rủ nhau đến giữa khu vườn.
  157. 낮은용안나무들이 드문드문 서 있었다.
    Lưa thưa những bóng cây nhãn lùn.
  158. 그들은엎드려 구경할 준비를 했다.
    Chúng nằm sấp xuống cỏ.
  159. 두개의 우리 문을 맞붙여 하나로 만든 뒤,
    Chúng giáp hai cánh cửa lồng dế làm một.
  160. 문을열어 두 귀뚜라미가 서로의 우리로 들어가게 했다.
    Rồi mới rút then ra, để hai thằng dế chúng tôi xông sang lồng của nhau.
  161. 상대귀뚜라미가 내 우리로 뛰어 들어왔다.
    Chàng dế nọ nhảy tót sang lồng tôi.
  162. 아, 정말건방진 태도였다!
    Ái chà, vẻ ta đây.
  163. 그는나보다 조금 작았지만 매우 오만했다.
    Hắn bé hơn tôi một chút nhưng ngạo mạn.
  164. 걸음걸이부터이미 거만함이 드러났다.
    Từ cái dáng chân đi khụng khiệng.
  165. 세상을우습게 보는 태도였다.
    Vẻ coi thiên hạ như rác.
  166. 나는보자마자 화가 치밀었다.
    Thoáng thấy đã lộn tiết.
  167. 그는수염을 떨며 말했다.
    Hắn vuốt rung hai sợi râu, nói:
  168. “너같은 놈이 내 발차기를 버틸 수 있겠냐?”
    – Chú mày liệu có chịu nổi nửa cái đá song phi của ta không?
  169. 정말귀에 거슬리는 말이었다!
    Rõ chối tai!
  170. 나는몹시 화가 났다.
    Tôi đã cáu lắm.
  171. 하지만이상하게도 겉으로는 차분하게 말했다.
    Nhưng lạ sao lúc ấy tôi vẫn tỏ ra dịu dàng.
  172. 아마도너무 경멸했기 때문일 것이다.
    Có lẽ vì lòng quá khinh bỉ.
  173. “이봐, 그렇게떠들지 마. 현명한 사람은 미리 떠벌리지 않는다.”
    – Này anh kia! Đứa khôn ngoan ở đời thì không nên nói trước.
  174. 그는이를 드러내며 화를 냈다.
    Hắn nhe răng ra, hầm hè:
  175. “닥쳐! 싸울거면 나와!”
    – Có giỏi thì ra đây chơi nhau!
  176. 내피가 끓어올랐다.
    Máu nóng trong người tôi sôi sùng sục.
  177. 이녀석은 말로 통할 상대가 아니었다.
    Biết quân này không phải quân ăn lời.
  178. 나는즉시 달려들었다.
    Tôi bèn nhảy phắt đến.
  179. 우리는싸우기 시작했다.
    Chúng tôi bắt đầu đánh nhau.
  180. 아이들은웃고 박수를 치며 환호했다.
    Giữa những tiếng cười reo, vỗ tay của bọn trẻ.
  181. 몇차례 싸운 뒤 나는 상대의 실력을 파악했다.
    Mới quần thảo vài hiệp, tôi đã rõ sức hắn.
  182. 그는나와 상대가 되지 않았다.
    Chọi với tôi, không được mấy nả sức.
  183. 나는한 번 강하게 공격했다.
    Tôi chỉ thọc mạnh một cái.
  184. 그리고발로 차버렸다.
    Đạp càng.
  185. 그는뒤로 넘어졌다.
    Hắn ngã bổ ngửa ra.
  186. 나는한 번 더 차자,
    Tôi bồi thêm chiếc đá nữa.
  187. 그는피를 토하며 다리가 부러지고 쓰러졌다.
    Hắn ộc máu mồm đen sì, gãy một cẳng, lăn quay.
  188. 나는더 이상 공격하지 않았다.
    Tôi chẳng thèm đánh thêm.
  189. 그의귀에 대고 차갑게 말했다.
    Chỉ ghé xuống tận tai hắn, lạnh lùng bảo:
  190. “오만함에대한 교훈을 배워라.”
    – Cho mày bài học về sự hống hách nhé!
  191. “이제부터는조심해라.”
    – Từ giờ chừa đi.
  192. 그는온몸을 떨며 다리를 모아 나에게 연신 절을 했다.
    Hắn chỉ còn biết run rẩy chắp chân lạy rối rít.
  193. 하지만그 이후로 그 귀뚜라미가 오만한 성격을 고쳤는지는 알 수 없다.
    Nhưng nếu từ đấy chàng dế kia có thể chừa cái thói ngông nghênh thì tôi lại…
  194. 오히려그 나쁜 성격이 나에게 옮겨 붙은 것 같았다.
    Bệnh ngông nghênh của hắn lây sang tôi.
  195. 정말이상한 일이었다.
    Thế mới kỳ quặc cho tôi.
  196. 어째서내가 이렇게 변했는지 나도 설명할 수 없었다.
    Làm sao mà tôi đâm đốn kiếp như vậy, tôi không cắt nghĩa được.
  197. 자만심과허영심이 얼마나 복잡한지 알 수 없었다.
    Cái khúc khuỷu của tính tự kiêu và tự đại.
  198. 나는단지 내가 점점 거만해지고 있다는 것만 느꼈다.
    Tôi chỉ biết mình ngày càng kiêu căng.
  199. 그귀뚜라미를 쓰러뜨린 뒤 나는 속으로 이렇게 생각했다.
    Sau khi đá ngã nó, tôi nghĩ thầm:
  200. “와, 나는정말 대단하다.”
    “Ồ mình giỏi thật.”
  201. “살짝건드렸을 뿐인데 저 녀석이 나가떨어졌네.”
    “Chỉ gảy khẽ một cái mà hắn đã ngã lăn chiêng.”
  202. 그한 번의 싸움 덕분에 나는 금세 유명해졌다.
    Chỉ nhờ cái đá xoàng ấy mà tôi trở nên nổi tiếng.
  203. 동네아이들은 서로 경쟁하듯 귀뚜라미를 잡아와 나와 싸우게 했다.
    Trẻ con trong xóm thi nhau đi bắt dế đem về cho chọi với tôi.
  204. 나는점점 ‘명수’로 알려졌다.
    Tôi đã trở nên tay võ khét tiếng.
  205. 어떤귀뚜라미라도 내가 몇 번만 발로 차면 바로 도망쳤다.
    Dế nào tôi cũng chỉ cần vài cái đạp hậu là chạy bán xác.
  206. 그때나는 한창 젊고 힘이 넘쳤다.
    Hồi ấy tôi đang giữa tuổi thanh xuân, sức lực cường tráng.
  207. 게다가오만함까지 더해져서 더욱 거만하게 행동했다.
    Lại thêm cái tính kiêu, tính hợm nên càng làm bộ.
  208. 나는계속 이겼기 때문에, 두 소년은 나를 매우 아꼈다.
    Vì tôi thắng tợn nên hai cậu chủ bé nhỏ yêu quý tôi lắm.
  209. 싸움에서이길 때마다,
    Mỗi bận đá ngã kẻ địch,
  210. 나는아주 부드럽고 신선한 풀을 먹을 수 있었다.
    Tôi lại được tẩm bổ bao nhiêu là cỏ ấu rất non.
  211. 밤이되면,
    Đêm đến,
  212. 그들은나를 담장 위에 올려놓고 이슬을 마시게 했다.
    Tôi được cho lên giàn mồng tơi uống sương.
  213. 하지만내 다리에는 실이 묶여 있었다.
    Nhưng vẫn bị một sợi chỉ buộc vào càng.
  214. 사실나는 그 실을 쉽게 끊을 수 있었다.
    Tôi có thể cắn đứt sợi chỉ dễ như chơi.
  215. 하지만나는 끊지 않았다.
    Mà tôi không cắn.
  216. 나는그저 반짝이는 이슬을 마시며 노래를 불렀다.
    Tôi uống từng giọt sương lóng lánh rồi ung dung ca hát.
  217. 속박된상태에서도 만족해했다.
    Trong cảnh trói buộc như thế.
  218. 더나쁜 것은,
    Tệ quá nữa,
  219. 나는두 소년을 기쁘게 하기 위해
    Muốn làm đẹp lòng hai cậu bé,
  220. 하루종일 성냥갑 같은 내 집 주변만 맴돌았다.
    Tôi chỉ quanh quẩn cạnh cái hộp diêm, buồng ngủ của tôi.
  221. 멀리가지도 않았다.
    Không đi đâu xa một bước.
  222. 가끔기분이 좋으면,
    Thỉnh thoảng cao hứng,
  223. 나는다리를 들어 올리고 소리를 냈다.
    Tôi đạp hai càng, cất tiếng gáy.
  224. “리이이…”
    Riii…riii…
  225. 아, 나는내가 장난감이 되었다는 사실조차 잊고 있었다.
    Ôi, tôi đã quên cái thân bị đem làm trò chơi.
  226. 몇잎의 풀과 나의 오만함이 나를 이렇게 어리석게 만들었다.
    Mấy lá cỏ non và thói ngông đã khiến tôi ngu tối đến thế.
  227. 하지만어느 날,
    Nhưng đến một ngày kia,
  228. 나는우연한 사건 덕분에 눈을 뜨게 되었다.
    Tôi phải cảm ơn một sự tình cờ đã đến mở mắt tôi.
  229. 나는여전히 싸움을 하며 사람들을 즐겁게 하고 있었다.
    Tôi vẫn đi đánh nhau mua vui.
  230. 그리고또 한 번 싸움에 나가게 되었다.
    Tôi vẫn được đem đi chọi nhau như thế.
  231. 이번상대는
    Đối thủ lần này
  232. 등껍질도완전히 자라지 않은 작은 귀뚜라미였다.
    Là một anh chàng có bộ cánh chưa kín lưng.
  233. 몸집은나의 절반 정도밖에 되지 않았다.
    Người mới dài bằng nửa tôi.
  234. 그는나를 보자마자 겁에 질려 울부짖었다.
    Vừa thấy tôi, anh ta đã hoảng sợ kêu lên:
  235. “살려주세요! 제발 살려 주세요!”
    – Em lạy bác, em lạy bác.
  236. “당신은이미 강하고 저는 아직 태어난 지 얼마 안 됐어요!”
    – Bác là người lớn, còn em mới ra đời có mấy hôm.
  237. “어제겨우 어머니와 떨어져 나왔어요!”
    – Mới hôm qua được mẹ dắt cho đi ở riêng thôi.
  238. 나는 태연했다.
    Tôi thản nhiên.
  239. 나는 곧바로 그 꼬마 녀석을 공격했다.
    Tôi xông vào chiến ngay thằng bé.
  240. 녀석은 엉엉 울며 통 안을 뱅뱅 돌았다.
    Nó khóc hu hu rồi chạy quanh lồng.
  241. 귀뚜라미 싸움을 구경하던 아이들은 하하하 웃어댔다.
    Mấy đứa trẻ xem chọi dế cười ha hả.
  242. 나는 더욱 기세등등해졌다.
    Tôi lại càng nổi hăng.
  243. 하늘에서 윙윙 소리를 내며 날아오던 하늘소 한 마리가 근처 용안나무 가지에 내려앉아 귀뚜라미들이 싸우는 모습을 지켜보았다.
    Có một anh Xiến tóc bay xè xè trên trời rồi đậu xuống cành nhãn gần đấy, nhìn đám dế chọi nhau.
  244. 공작 깃털처럼 길고 마디마디가 굽은 두 개의 뿔을 치켜세운 하늘소는 아래를 내려다보며 나를 꾸짖었다.
    Anh Xiến tóc vểnh hai cái sừng dài như hai chiếc lông công cong có khấc từng đốt, chõ xuống mắng tôi:
  245. “이 어리석은 제멘(Dế Mèn)아! 덩치도 큰 놈이 어찌 저 조그만 아이를 괴롭히느냐?”
    – Dến Mèn nghếch ngác kia! Mày to đầu thế mà mày nỡ đánh thằng bé bằng ngần ấy à?
  246. “남을 괴롭히는 버릇을 버려야 한다.”
    Không được quen thói bắt nạt.
  247. 나는 고개를 들어 위를 보았다. 구리색 갑옷을 입은 늠름하고 위풍당당한 하늘소의 모습은 무척 사나워 보였다.
    Tôi ngoảnh đầu nhìn lên: anh Xiến tóc lực lưỡng và uy nghi bọc mình trong bộ áo giáp đồng hun rất cứng, bộ hung tợn dữ dội lắm.
  248. 하지만 나는 전혀 겁나지 않았다.
    Nhưng tôi cóc sợ.
  249. 나에게 아무것도 할 수 없을 것 같았다!
    Coi bộ chẳng làm gì nổi tôi tốt!
  250. 그 역시 아이들을 무서워해서 나무 위에만 있을 뿐 감히 내려오지 못한다는 것을 알고 있었기 때문이다.
    Bởi tôi biết anh ta cũng hãi lũ trẻ, chỉ đứng trên cây, không dám xuống.
  251. 나는 코방귀를 뀌며 한마디 내뱉었다: “참견 마쇼!”
    Tôi hích mũi ra một câu: – Ngứa mồm!
  252. 그리고 다시 예전처럼 그 꼬마를 쫓아가 때렸다.
    Rồi tôi lại đuổi đánh đứa bé như thường.
  253. 나는 거만하게 앞으로 튀어나가 턱을 치켜들고 길을 막았다.
    Tôi ngổ ngáo vụt lên trước, hếch cằm, chặn.
  254. 가엾게도 뒷발질 한 번에 꼬마 녀석은 쓰러져 숨만 겨우 헐떡이고 있었다.
    Thảm hại, mới nếm thêm có cái đá hậu, thằng bé đã quay đơ và chỉ còn thoi thóp thở.
  255. 나는 동정심이라곤 전혀 몰랐다.
    Tôi cũng chẳng biết thế nào là thương xót.
  256. 그저 아이들의 요란한 환호성만 들릴 뿐이었다.
    Tại tôi chỉ nghe có tiếng hoan hô râm ran của bọn trẻ.
  257. 내가 멈추기는커녕 작은 귀뚜라미를 죽일 듯이 때리는 것을 본 하늘소는 이를 갈며 긴 뿔 두 개를 내리꽂듯 소리쳤다.
    Thấy không những không ngăn nổi tôi mà tôi còn đánh gần chết chú dế nhỏ, Xiến tóc nghiến răng ken kết, chõ cả hai cái sừng dài xuống, quát:
  258. “오냐, 두고 보자! 바른 말을 해도 듣지 않으니, 조만간 본때를 보여주마.”
    – A được, mày giờ hồn! Bảo lời phải không nghe, rồi sẽ biết tay.
  259. 나는 오히려 약을 올리며 이빨을 드러냈다: “자신 있으면 내려와서 한판 붙어보시지!”
    Tôi còn trêu tức, ngước răng lên: – Có giỏi thì xuống đây chọi nhau.
  260. 그러고는 아이들이 서로 넣어준 풀줄기를 유유히 씹었다.
    Rồi tôi đứng ung dung nhắm nhánh cỏ của lũ trẻ vừa tranh nhau tuồn vào thưởng cho tôi.
  261. 마치 사소한 일 따위엔 신경도 쓰지 않는다는 듯이.
    Làm như không thèm để ý đến câu chuyện vặt.
  262. 하늘소는 분노로 뿔과 이빨을 떨었지만, 풀밭에 아이들이 많이 앉아 있어 어쩔 도리가 없었다.
    Xiến tóc tức rung sừng, rung răng, nhưng không biết làm thế nào, vì có lũ trẻ ngồi đông trên bãi cỏ.
  263. 결국 하늘소는 휭 하니 날아가 버렸다.
    Cuối cùng Xiến tóc cất cánh vù đi.
  264. 나는 신경도 쓰지 않았다.
    Tôi chẳng thèm để ý.
  265. 힘이야 좀 세겠지만 나를 어쩌지는 못할 테니까.
    Ừ anh chàng khoẻ thì có khoẻ đấy, nhưng đâu có thể làm gì nổi tôi.
  266. 그날 밤, 평소처럼 아이들은 내가 이슬을 마시고 맑은 공기를 쐬도록 나를 모닝글로리 선반 밖으로 내놓았다.
    Đêm hôm ấy, theo thường lệ, bọn trẻ đem tôi ra ngoài giàn mồng tơi, để tôi uống sương tẩm bổ và hít thở khí trời trong lành.
  267. 밤하늘엔 달이 휘영청 밝았다.
    Trên cao, mặt trăng sáng vằng vặc.
  268. 바람에 흔들리는 대나무 잎에 맺힌 이슬이 달빛 아래 날카로운 빛을 내고 있었다.
    Làn gió đưa đẩy những chiếc lá tre dài và nhọn dẫm sương óng ánh thành một nét sắc trong bóng trăng.
  269. 나는 다리와 날개를 쭉 펴고 무술 연습을 하며 노래를 불렀고, 달밤을 우러러보는 내 표정은 분명 자만심으로 가득 차 있었을 것이다.
    Tôi duỗi thẳng cả hai chân, cả cánh, vừa ôn một bài võ, vừa hát, ngẩng đầu nhìn vòm trời trăng sáng và chắc là vẻ mặt tôi lúc ấy có tự đắc, tự mãn lắm đấy.
  270. 그렇게 여유를 부리고 있는데, 어디선가 윙윙거리는 소리가 들려오더니 점점 가까워졌다.
    Đương ung dung thế, lắng nghe tiếng cái máy gì xè xè đâu dần dần tới bên cạnh.
  271. 그러더니 낮에 보았던 그 위엄 있는 하늘소가 갑자기 내 옆구리 쪽으로 내려앉았다.
    Rồi anh Xiến tóc oai linh ban chiều vụt hạ cánh xuống ngay bên nách tôi.
  272. 나는 비명을 질렀다.
    Tôi rú lên một tiếng kinh khủng.
  273. 다리가 굳어 움직일 수조차 없었다.
    Tôi cứng cả khoeo, không nhích chạy được.
  274. 전혀 예상치 못한 일이었다.
    Tôi không ngờ.
  275. 이번에는 정말 죽었구나 싶었다.
    Phen này chết thật chứ không chơi.
  276. 철근 같은 이빨과 칼날 같은 발톱을 보니 눈앞이 캄캄했다.
    Răng nó như sắt thế kia, cái vuốt chân như dao thế kia.
  277. 아무도 없는 이곳에서 나는 죽은 목숨이나 다름없었다.
    Một mình tôi ở nơi vắng vẻ thế này. Tất chết!
  278. 입술을 굳게 깨물었지만 날개와 다리, 집게발이 사정없이 떨렸다.
    Tôi cố mím môi, mà cánh, mà chân, mà càng tôi vẫn nẩy lên bần bật.
  279. 하늘소는 뿔을 비스듬히 기울이며 비웃듯이 말했다: “정말 겁쟁이로구나! 낮에는 그렇게 기고만장하더니!”
    Xiến tóc ghé nghiêng hai cái sừng cười chế nhạo: – Rõ đồ hèn! Sao lúc chiều hống hách thế!
  280. 그러고는 나의 죄를 물었다: “자, 묻겠다. 네가 무슨 죄를 지었는지 아느냐?”
    Rồi Xiến tóc lục tội: – Này ta hỏi: mày đáng khép tội gì?
  281. “살려주세요, 형님…”
    – Lạy anh…
  282. 아마 그때 나의 비굴하고 우스꽝스러운 몸짓이 하늘소로 하여금 내 피를 묻혀 검을 더럽히고 싶지 않게 할 만큼 경멸스러웠던 모양이다.
    Có lẽ lúc bấy giờ tôi cuống quít những điệu bộ đáng xấu hổ và nực cười, đã khiến Xiến tóc khinh bỉ đến nỗi không thèm giết tôi cho bẩn gươm.
  283. 하늘소는 두 뿔을 내 얼굴 가까이 대고 내 코를 치켜세우며 말했다.
    Bởi vậy tôi chỉ thấy Xiến tóc cúi hai cái sừng sát mặt tôi, kênh mũi tôi lên và bảo rằng:
  284. “흥, 이제야 꼬리를 내리는구나… 힘을 믿고 남을 괴롭히는 것만큼 나쁜 짓은 없다.”
    – À, bây giờ thì co vòi lại rồ, phải không… Còn gì xấu bằng cậy sức mà đi bắt nạt.
  285. “밖에서 싸울 줄도 모르면서 안에서만 센 척하다니… 이번 한 번만은 용서해주마.”
    Không ngoan đá đáp người ngoài… Mày có giỏi thì… Ta tha cho lần này.
  286. “하지만 네 더듬이 두 개는 담보로 가져가겠다.”
    Nhưng ta hãy mượn tạm đi của mày hai cái râu.
  287. “앞으로 나쁜 짓을 하려 할 때마다 이 잘린 더듬이를 만지며 나 하늘소의 말을 기억해라.”
    Để từ đây mỗi khi mày định làm việc gì bậy bạ, hãy sờ lên chiếc râu cụt, lúc ấy nhớ lại lời ông Xiến tóc nhé.
  288. 말을 마치자마자 하늘소는 이빨로 내 머리 위의 윤기 나는 두 더듬이를 잘라 버렸다.
    Nói rồi Xiến tóc đưa răng lên cắn cụt luôn hai sợi râu mượt óng trên đầu tôi.
  289. 너무 아팠지만 나는 감히 입도 뻥끗하지 못하고 참아야 했다.
    Đau điếng, mà tôi đành ngậm tăm không dám hé răng.
  290. 인생에는 많은 교훈이 있고 그 형태도 다양하다. 생각할 줄 아는 자는 배우겠지만, 그렇지 않으면… 나처럼 비참해지는 법이다.
    Đường đời nhiều bài học, mỗi bài học một kiểu, chịu nghĩ thì học được, học giỏi, bằng không thì… khốn khổ như thế này đây.
  291. 그날 밤 비싸고 고통스러운 교훈을 얻은 뒤로, 내 머리는 지금까지도 더듬이 없이 매끈하다.
    Cho đến bây giờ đầu tôi vẫn trọc lông lốc bởi mất hai sợi râu từ cái tích tôi được thêm bài học mới vừa đắt vừa đau đêm ấy.
  292. 하지만 그 덕분에 나는 깨달음을 얻었다.
    Nhưng, cũng nhờ thế mà tôi tỉnh ngộ.
  293. 세상에, 두 아이에게 잡혀 어둠 속에 갇힌 이후로, 나는 사람들의 구경거리가 되어 싸우며 내가 나쁜 짓을 하고 있다는 사실조차 몰랐던 것이다.
    Trời ơi, thế ra từ khi bị hai đứa trẻ bắt vào vòng u tối, tôi đi đánh nhau làm trò cười cho thiên hạ, tôi chỉ làm ác mà tôi không biết.
  294. 게다가 내가 때린 이들은 모두 나의 먼 친척뻘 되는 귀뚜라미들이었다.
    Mà những kẻ bị tôi đánh cũng là họ hàng xa gần nhà dế cả.
  295. 나는 한숨을 쉬며 생각했다: “전에도 잘못을 저질렀는데, 이제 또 잘못을 범했구나… 아, 나는 정말 비겁하다.”
    Tôi thở dài thầm nghĩ: – Hôm trước ta đã vướng điều lầm lỗi. Bây giờ lại mắc lỗi nữa… Ôi, ta hèn quá.
  296. “하늘소 어르신이 나를 단칼에 죽이지 않은 것이 천만다행이다.”
    Cũng may bác Xiến tóc không giết ngoém ngay ta đi.
  297. “이 세상에서 누가 누구를 쉽게 괴롭힐 수 있단 말인가.”
    Mới biết đời này hồ dễ ai bắt nạt nổi ai.
  298. “내가 약한 자를 때리면, 나보다 강한 자가 나타나 나를 때리는 법을.”
    Ta đánh kẻ yếu hơn ta thì lại kẻ khác mạnh hơn ta đánh ta.
  299. “이제야 그 어리석은 꿈에서 깨어났다.”
    Thôi thôi, giấc mơ kia đã tỉnh ra rồi.
  300. 그렇게 생각하니 마음이 겨우 진정되었다.
    Nghĩ được thế, lòng tôi mới tạm yên.
  301. 하지만 솔직히 말해서, 이 난폭한 성격을 완전히 버리려면 나는 반드시 이 아이들을 떠나야 한다.
    Nhưng nói cho hết nhẽ, nếu bây giờ tôi muốn bỏ đi tính hung hăng xằng bậy đi thì tôi phải nhất quyết rời hai đứa bé này ra.
  302. 그들이 나를 기르는 목적은 오직 자기들의 즐거움을 위해 싸움을 시키는 것이기 때문이다.
    Bởi vì mục đích của họ nuôi tôi là bắt tôi làm trò choảng nhau, cho họ cười.
  303. 나의 귓가에 ‘탈출’이라는 소리가 희미하게 울려 퍼졌다.
    Văng vẳng bên hai tai tôi tiếng thoát ly.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo