TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
LÊ HUY KHOA
TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
Truyện ngắn
DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Trịnh Nguyệt Hân – CSTT Kanata Tân Bình
Chương 7: Tâm sự bác Xiến Tóc chán đời – cái cớ khiến cho Mèn lại lên đường
제7장: 삶에 회의를 느낀 하늘소 아저씨의 하소연 – 메인이 다시 길을 떠나게 된 계기
- Ròng rã mấy mùa rồi, không nhớ mà cũng không nghe được một tin tức gì về Trũi.
여러 계절이 속절없이 흘러갔지만, 쭈이에 대한 소식은 기억조차 나지 않을 만큼 전혀 들리지 않았습니다.
- Càng đi càng thăm thẳm, càng sốt ruột.
길을 가면 갈수록 막막해졌고, 마음은 더욱 초조해졌습니다.
- Đã qua nhiều miền khác nhau, đã hỏi thăm nhiều dân cư dọc đường.
여러 지역을 거치며 길가에 사는 많은 이들에게 물어보았습니다.
- Chẳng ai biết tông tích đoàn Châu Chấu Voi bí mật kia.
하지만 그 비밀스러운 왕메뚜기 무리의 행방을 아는 이는 아무도 없었습니다.
- Lủi thủi một mình, chán không!
홀로 터덜터덜 걷고 있자니, 얼마나 지루하고 쓸쓸했겠습니까!
- Nghĩ lại xưa kia, điếm cỏ cầu sương, vui buồn anh em có nhau, gian nan biết mấy cũng vẫn vững lòng tin, mà lúc cùng nhau sung sướng thì càng hể hả, nức lòng.
풀밭을 숙소 삼고 이슬을 마시며 형제처럼 동고동락하던 예전 일을 떠올려 봅니다. 아무리 고난이 닥쳐도 서로 믿음이 굳건했고, 기쁠 때는 더할 나위 없이 즐거워하며 가슴 벅차했었지요.
- Than ôi! Giờ một mình tôi lẽo đẽo đường dài, đơn thân độc bóng.
아아! 이제는 나 혼자 먼 길을 꾸역꾸역 걷는 외로운 처지가 되었습니다.
- Có lúc nhớ lại cái lần cùng nhau trên chiếc bè sen nhật lênh đênh lạc ra nước lớn, Trũi khẩn khoản đưa càng của mình cho tôi ăn; nước mắt tôi muốn ứa ra.
언젠가 부레옥잠 뗏목을 타고 큰 강물에 휩쓸려 떠내려갔을 때, 배고픈 나를 위해 쭈이가 자기 앞다리를 먹으라고 간곡히 내밀던 일이 생각나 눈물이 핑 돌았습니다.
- Thấm thoắt, lại đã hết một mùa đông. Những ngày xuân mới bắt đầu.
어느덧 또 한 번의 겨울이 지나고, 새로운 봄날이 시작되었습니다.
- Chim hót ơi ới đầu cành. Ánh nắng lụa nõn nà phủ trên cây.
나뭇가지 끝에서는 새들이 지저귀고, 부드러운 비단 같은 햇살이 나무 위를 덮었습니다.
- Những vạt cỏ trở lại non tươi, xanh mơn mởn khắp mặt đất, cỏ xuân nhấm ngọt như đường phèn.
대지 위에는 다시 파릇파릇한 풀들이 돋아나 온 세상을 초록빛으로 물들였고, 봄풀의 맛은 마치 얼음사탕처럼 달콤했습니다.
- Một hôm tôi dừng chân bên dòng nước nhỏ.
어느 날 나는 작은 시냇가에 발걸음을 멈추었습니다.
- Bỗng nghe trên những cây dó đã nở hoa như treo đèn thơm khắp cánh rừng trước mặt, có tiếng ồn ào.
문득 앞쪽 숲속에 향기로운 등불을 매달아 놓은 듯 꽃이 만발한 침향나무 위에서 시끌벅적한 소리가 들려왔습니다.
- Không phải tiếng ong rạo rực tìm hoa làm mật mà những tiếng nhịp nhàng khi xa khi gần, khi réo rắt như ai đàn hát.
그것은 꿀을 찾으러 분주히 움직이는 벌들의 날갯짓 소리가 아니라, 멀어졌다 가까워졌다 하며 때로는 악기 연주처럼, 때로는 노래 소리처럼 들리는 리드미컬한 소리였습니다.
- Trèo lên tảng đá, nhìn sang bờ bên kia thì thấy trên một đám cỏ non, có đàn các cô Bướm Vàng, Bướm Trắng, Bướm Hồng, Bướm Nhung đang nối cánh nhau, nhảy thành vòng.
바위 위로 올라가 건너편 기슭을 바라보니, 부드러운 풀밭 위에서 노랑나비, 흰나비, 분홍나비, 검은단비나비들이 서로 날개를 맞대고 원을 그리며 춤을 추고 있었습니다.
- Vừa nhảy vừa hát. Thì ra đấy là tiếng hát ca ngợi mùa xuân.
춤을 추며 노래도 불렀는데, 알고 보니 그것은 봄을 찬양하는 노래였습니다.
- Cảnh hay như vẽ / Gió hây hây / Đào mỉm miệng / Liễu giương mày / Bướm nhặng bay / Trong bụi / Oanh vàng ríu rít / Đầu nhà / Én đỏ hót hay
그림 같은 풍경에 / 산들바람 불어오고 / 복사꽃은 미소 짓고 / 버들은 눈썹 치켜뜨네 / 수풀 속엔 나비 날고 / 처마 끝엔 꾀꼬리 지저귀며 / 붉은 제비 노래 솜씨 뽐내누나.
- Có mấy anh chàng Ve Sầu, mặt mũi vằn vèo và sần sùi mà lại ăn mặc chải chuốt, đứng nghẹo đầu cạnh các ả Bướm, đương giơ cái mõ dưới cánh lên kéo bài o o i i dài dằng dặc, hoà nhịp với lời ca trong trẻo của các cô Bướm.
얼굴은 얼룩덜룩하고 거칠지만 옷차림은 한껏 부린 매미 몇 마리가 나비들 옆에서 고개를 갸우뚱거리며 서 있었습니다. 그들은 날개 밑의 울림통을 들어 올려 ‘오-오-이-이’ 하고 긴 가락을 뽑아내며 나비들의 맑은 노랫소리에 장단을 맞추고 있었습니다.
- Chắc bọn này đương tiệc múa hát mừng xuân mới.
이들은 분명 새봄을 축하하는 가무 잔치를 벌이고 있는 모양이었습니다.
- Đầu mùa xuân, đâu đâu cũng tưng bừng tết nhất. Lòng tôi bỗng vui lây.
초봄이라 어디를 가도 명절 분위기로 들떠 있었고, 나의 마음도 덩달아 즐거워졌습니다.
- Tôi bèn leo lên cao để nghe tiếng hát cho được thú vị hơn.
나는 노랫소리를 더 잘 감상하기 위해 높은 곳으로 기어올라갔습니다.
- Tôi trông thấy bên cạnh các ả Bướm và chàng Ve Sầu còn có những đàn Bướm khác ở các Bãi cỏ phía xa cũng đương múa hát.
나비들과 매미들 곁뿐만 아니라 저 멀리 떨어진 풀밭에서도 다른 나비 무리들이 춤추고 노래하는 것이 보였습니다.
- Tiếng hát mùa xuân trong như nước chảy, ngân vào mãi rừng xanh.
봄의 노랫소리는 흐르는 물처럼 맑게 울려 퍼져 푸른 숲속 깊숙이 메아리쳤습니다.
- Tôi trông kỹ lại thấy ra đàn Bướm nhảy múa xung quanh một bác Xiến Tóc to gồ, cao lêu đêu.
더 자세히 살펴보니 나비 떼가 몸집이 크고 키가 훌쩍 큰 어느 하늘소 아저씨 주위에서 춤을 추고 있었습니다.
- Mỗi chân bác Xiến Tóc nắm một Bướm Trắng, sáu chân bác Xiến tóc nắm sáu chị Bướm Trắng, tất cả Bướm Trắng cùng múa cánh lên như tung hoa.
하늘소 아저씨는 다리마다 흰나비를 한 마리씩 붙잡고 있었는데, 여섯 개의 다리에 여섯 마리의 흰나비가 매달려 날개를 펄펄 휘저으니 마치 꽃가루를 뿌리는 듯했습니다.
- Lúc cái đầu kềnh càng của bác Xiến Tóc ngả xuống, khiến cho chiếc đàn tự nhiên xưa nay bác vẫn đeo trong cổ bỗng kêu lên kin kít, thì hai ả Bướm Trắng khác lại đến nghịch ngợm leo lên vít khấc râu cứng quếu của bác.
하늘소 아저씨가 커다란 머리를 숙일 때마다 목에 달린 천연 악기에서 ‘찌륵찌륵’ 소리가 났고, 그러면 다른 두 마리의 흰나비가 장난스럽게 다가와 아저씨의 딱딱한 더듬이 마디에 매달려 아래로 끌어당겼습니다.
- Họ nhảy và hát linh tinh vui nhộn như trẻ nhỏ chơi.
그들은 마치 어린아이들이 노는 것처럼 유쾌하고 시끌벅적하게 춤추고 노래했습니다.
- Tôi nghển xem bác Xiến Tóc ấy thế nào, già trẻ ra sao mà nghịch lối con nít thế.
나는 저 하늘소 아저씨가 대체 어떤 사람이기에, 나이가 몇이기에 저토록 어린애처럼 노는지 궁금하여 고개를 내밀어 살펴보았습니다.
- Xưa nay, các tay Xiến Tóc vẫn được tiếng đạo mạo cơ mà.
원래 하늘소들은 점잖기로 소문난 이들이 아니었던가요.
- Nhìn kỹ… Tưởng ai! Hoá ra cái bác Xiến Tóc năm xưa.
자세히 보니… 아는 얼굴이었습니다! 바로 몇 년 전의 그 하늘소 아저씨였습니다.
- Vẫn nét mặt nghiêm nghiêm và trầm tĩnh, vẫn hai tảng răng đen sắc ghê gớm, xiến đứt cả tóc – vì thế mà bác được tên là Xiến Tóc, và bác đã chỉ xiến một cách nhẹ nhàng mà hai sợi râu tốt đẹp trên đầu tôi đã đứt béng từ ngày ấy.
여전히 엄격하고 침착한 표정에, 머리카락도 잘라버릴 만큼 무시무시하고 날카로운 두 개의 검은 턱을 가지고 있었습니다. 그래서 ‘하늘소(Xiến Tóc – 머리카락을 자르는 이)’라 불리는 것이지요. 예전에 아저씨가 살짝만 움직였는데도 내 머리 위의 멋진 두 더듬이가 단번에 잘려 나갔던 기억이 났습니다.
- Tôi xin thưa cùng bạn đọc yêu quý của tôi rằng, từ ngày bị bác Xiến Tóc cắt mất râu, tuy vì thế mà vẻ mặt tôi có già đi một tẹo, nhưng không, tôi chẳng mảy may thù oán bác Xiến Tóc.
사랑하는 독자 여러분께 말씀드리자면, 아저씨 때문에 더듬이가 잘린 뒤로 얼굴이 조금 늙어 보이게 되긴 했지만, 나는 하늘소 아저씨를 조금도 원망하지 않았습니다.
- Mà tôi còn phục bác là người giỏi, bụng dạ rộng rãi, đường đường một đấng anh hào côn quyền đủ sức, lược thao gồm tài, tôi đã học được ở bác ấy nhiều điều lắm.
오히려 아저씨를 실력 있고 도량이 넓은 분이라 존경했습니다. 무술과 지략을 겸비한 당당한 영웅이라 생각했고, 그분에게서 많은 것을 배웠으니까요.
- Thế mà thật lạ lùng chẳng ngờ cái bác Xiến Tóc gai ngạnh, khắc khổ, tư lự, mấy năm chả gặp, bây giờ hoá ra ngây ngô, nhí nhảnh nỡm đời, đi rong chơi dông dài với lũ Ve Sầu và Bướm.
그런데 몇 년 만에 만난 그 거칠고 고지식하며 생각이 깊던 하늘소 아저씨가, 지금은 바보처럼 천방지축으로 매미나 나비들과 어울려 유랑이나 하고 있다니 정말 뜻밖이고 이상한 일이었습니다.
- Mà điệu bộ này thì họ tiệc tùng thâu đêm suốt sáng đây.
이 모양새를 보니 아마 밤새도록 잔치를 벌일 기세였습니다.
- Tôi đã từng chơi những trò phí thì giờ này, tôi chẳng lạ!
나도 예전에 이런 시간 낭비하는 놀이를 해본 적이 있기에 낯설지는 않았습니다!
- Còn đương phân vân, biết có nên sang ra mắt bác Xiến Tóc hay là lủi đi, thì bỗng cả mấy ả Bướm cùng im bặt tiếng.
하늘소 아저씨에게 인사를 하러 갈지 아니면 그냥 슬쩍 지나갈지 고민하던 찰나, 갑자기 나비들이 일제히 입을 다물었습니다.
- Rồi các ả hốt hoảng chạy trốn hết vào nép im trong bụi.
그리고는 겁에 질려 모두 숲속으로 숨어버렸습니다.
- Xiến Tóc lừ đừ ngẩng đầu lên, ề à hỏi:
하늘소 아저씨가 느릿느릿 머리를 들며 느릿한 말투로 물었습니다.
- – Ai đâu mà các em sợ thế?
“누가 왔길래 얘들이 이리 겁을 먹느냐?”
- Xiến Tóc cũng đảo đầu tìm kiếm, ngơ ngác.
하늘소 아저씨도 어리둥절해하며 머리를 돌려 주위를 살폈습니다.
- Chợt trông thấy tôi, bác ta định thần nhìn kỹ rồi reo lên:
그러다 문득 나를 발견하고는 정신을 차려 자세히 보더니 외쳤습니다.
- – A Dế Mèn! Đi đâu thế? Xuống đây đã nào! Có phải Dế Mèn đấy không?
“아, 제멘! 어디 가는 길인가? 우선 이리로 내려오게나! 자네 정말 제멘 맞나?”
- Dáng chơi bời, thức đêm nhiều, mắt Xiến Tóc có phần toét nhoèn, nhìn mãi vẫn chưa nhận rõ hẳn ra tôi.
밤낮없이 놀고 밤을 지새운 탓인지 아저씨의 눈은 침침해져서 한참을 보고서야 나를 알아보는 듯했습니다.
- Tôi liền bay sang.
나는 곧장 그곳으로 날아갔습니다.
- Bấy giờ bọn Bướm núp trong bờ cỏ mới ngấp nghé mon men ra gần.
그제야 풀숲에 숨어있던 나비들이 조심스럽게 밖으로 기어 나왔습니다.
- Lúc nãy, đương hát, thoáng thấy tôi lạ, họ sợ xấu hổ, bỏ chạy.
조금 전 노래를 부르다 낯선 나를 보고 부끄러워 도망쳤던 것이었습니다.
- Bây giờ biết quen, lại sấn đến và quá bạo, cứ khoác vai tôi ra nhảy múa.
이제 아는 사이라는 걸 알자, 그들은 아주 대담하게 다가와 내 어깨동무를 하며 춤을 추자고 졸라댔습니다.
- Nhưng tôi từ chối khéo.
하지만 나는 정중히 거절했습니다.
- Cả bọn họ lại chạy ra bãi nô giỡn, những chàng Ve Sầu lại lên tiếng nhạc mõ o o i i rầu rĩ nhức tai.
그들은 다시 들판으로 달려가 장난을 쳤고, 매미들은 다시 울림통을 울리며 귀가 따가울 정도로 처량한 ‘오-오-이-이’ 소리를 내기 시작했습니다.
- Còn lại hai chúng tôi, Xiến Tóc nhìn tôi, hỏi đùa:
우리 둘만 남게 되자, 하늘소 아저씨는 나를 바라보며 농담조로 물었습니다.
- – Thế ra bộ râu chú mình không mọc nữa nhỉ?
“거 봐라, 자네 더듬이는 결국 다시 자라지 않는 모양이구먼?”
- Tôi lắc đầu mỉm cười.
나는 미소 지으며 고개를 가로저었습니다.
- Tôi hỏi thăm Xiến Tóc độ rày ra sao mà coi bộ rỗi rãi nhàn hạ thế.
그리고 요즘 어떻게 지내시기에 이토록 한가하고 여유로워 보이시는지 안부를 물었습니다.
- Bác Xiến Tóc thở dài, đàn răng đàn cổ lên điệu xiến ken két, rồi im, ra chiều tư lự.
하늘소 아저씨는 한숨을 내쉬더니, 이빨과 목을 비벼 ‘드득드득’ 소리를 냈습니다. 그러고는 생각에 잠긴 듯 잠시 침묵을 지켰습니다.
- Một lát sau bác cất tiếng buồn buồn kể rằng:
잠시 후, 아저씨는 가라앉은 목소리로 이야기를 시작했습니다.
- – Có phải anh trông tôi bây giờ khác trước nhiều lắm không. Chính tôi, tôi cũng tự cảm thấy khác lắm.
“자네가 보기에도 지금 내 모습이 예전과는 많이 다르지 않은가? 나 스스로도 내가 너무 많이 변했다고 느낀다네.”
- Tôi cũng biết tôi đổ đốn đâm ra chơi bời dông dài, thế mà tôi buồn bã không muốn xoay chuyển nữa.
“나도 내가 타락해서 하릴없이 놀기만 한다는 걸 잘 알지만, 마음이 너무 우울해서 다시 예전으로 돌아갈 의욕조차 생기지 않는구먼.”
- Cuộc đời éo le đã khiến tôi chán lắm, chán quá. Sau ngày gặp anh, tôi đương rất khoái vì ngày ấy tôi đã làm được nhiều việc ngẫm nghĩ thấy có ích.
“얄궂은 인생사가 나를 너무나도 지치게 만들었어. 자네를 만난 직후만 해도, 보람 있는 일들을 많이 해냈다는 생각에 아주 의욕이 넘쳤었지.”
- Một lần, tôi đến xóm kia. Không dè ở đấy đương có cuộc săn đuổi do bọn trẻ nghịch ngợm khởi xướng, cũng như cái bọn trẻ đã bắt anh để đem đi đánh chọi và làm giải thưởng bóng đá ấy.
“한번은 어느 마을에 갔었지. 그런데 생각지도 못하게 그곳에서 개구쟁이 아이들이 벌이는 사냥에 휘말리고 말았어. 자네를 잡아다가 싸움을 붙이고 축구 대회 상품으로 삼았던 그 아이들 같은 녀석들 말일세.”
- Đó là mấy cậu bé trong thành phố về quê mùa hè, chúng đi rình bắt Xiến Tóc về chơi. Chẳng may, tôi bị bắt một buổi sớm trên một cành dướng.
“여름방학을 맞아 시골에 내려온 도시 아이들이었는데, 하늘소를 잡아 놀려고 숨어 기다리고 있었던 거야. 운 나쁘게도 어느 이른 아침, 닥나무 가지 위에 있다가 붙잡히고 말았지.”
- Bọn trẻ đem tôi về thành phố. Đường xa những bao nhiêu ngày, tôi không biết.
“아이들은 나를 도시로 데려갔어. 길이 너무 멀어 며칠이나 걸렸는지도 모르겠군.”
- Vì họ nhốt tôi vào một cái hộp kín bưng cùng với năm bạn xấu số nữa và cứ nhốt mãi như thế.
“그놈들이 나를 불운한 동료 다섯 마리와 함께 꽉 막힌 상자 안에 가둬두고는 계속 그렇게 방치했거든.”
- Có bạn tôi chết vì ngạt thở. Vốn quen ăn vỏ cây, giờ bọn trẻ ngớ ngẩn không biết gì về thức ăn Xiến Tóc, cứ nhét đầy cỏ, có khi cả cục cơm, miếng xương, tôi không nuốt được.
“어떤 동료는 질식해 죽기도 했지. 원래 우리는 나무껍질을 먹고 사는데, 그 어리석은 아이들은 하늘소의 먹이에 대해 전혀 몰라서 풀만 가득 넣어주거나, 때로는 밥덩이나 뼈다귀를 넣어주더군. 도저히 삼킬 수가 없었어.”
- Tôi nhịn ăn hàng tháng trời mà họ cũng vô tình, không biết nốt.
“한 달 내내 굶다시피 했는데도 아이들은 무심하게 전혀 눈치를 채지 못하더군.”
- Rồi may quá, trốn thoát. Bởi vì, tôi để ý xem xét biết cái giam tôi bằng giấy bìa cứng.
“그러다 다행히 탈출에 성공했어. 나를 가둔 상자가 딱딱한 판지라는 걸 눈여겨봐 두었거든.”
- Từ hôm ấy tôi cứ nhả nước bọt vào một chỗ rồi lấy chân bới, cái tưởng giấy mủn dần.
“그날부터 한곳에 계속 침을 뱉고 다리로 긁어댔더니 종이 벽이 서서히 눅눅해지더군.”
- Một hôm tôi cố lấy tất cả bao nhiêu hơi sức còn lại, húc một cái, thế là cả người tôi bật lọt ra ngoài hộp.
“어느 날, 남은 힘을 다 짜내어 머리로 한 번 들이받았더니 몸이 상자 밖으로 튕겨 나갔지.”
- Tôi giương cánh, bay thẳng. Phúc đức mà tôi vẫn còn nguyên hai chiếc cánh lót lụa.
“나는 날개를 펴고 곧장 날아올랐어. 천만다행으로 안쪽의 비단 같은 속날개가 멀쩡했거든.”
- Các bạn khác đều bị lũ trẻ nghịch ngợm bứt cụt hai cánh lụa mỏng ở trong thành thử, dang hai cánh tàu bay vỏ gỗ ở ngoài ra, không thể cất mình lên được, không bay được. Rồi các bạn ấy bò trốn đi đâu tôi không biết.
“다른 동료들은 그 장난꾸러기 녀석들이 속날개를 다 뜯어버리는 바람에, 겉날개만 벌린 채 몸을 띄우지 못해 날 수가 없었어. 그 친구들이 어디로 기어서 도망갔는지는 나도 모르겠네.”
- “Tôi bay bất kể ngày đêm. Ròng rã lâu ngày lắm mới vượt ra khỏi được cái thành phố xù xì u ám gớm ghiếc ấy.”
“나는 밤낮없이 날았어. 아주 오랜 시간이 흐른 뒤에야 그 거칠고 어두침침하며 끔찍한 도시를 벗어날 수 있었지.”
- “Khi ra đến vùng có vườn bãi xanh tươi, thì, vì lao lực quá không cố hơn được nữa, tôi ốm mất mấy tháng.”
“푸른 들판이 있는 곳에 도착했을 때는 너무 지친 나머지 더는 움직일 수가 없어서 몇 달 동안이나 앓아누웠다네.”
- “Không hiểu sao lúc ốm khỏi thì tính nết thay đổi dần, tôi sinh chán đời, không thiết gì nữa. Có lẽ vì đã có phen quá sợ, có lẽ vì buồn.”
“이상하게도 병이 낫고 나니 성격이 서서히 변하더군. 삶에 회의가 느껴지고 아무것도 하고 싶지 않아졌어. 아마 너무 큰 공포를 겪었거나 슬픔 때문이었겠지.”
- “Thôi tôi mặc kệ cả. Tôi tìm về nơi am thanh cảnh vắng này. Tôi bỏ ăn vỏ cây, tập ăn cỏ thanh đạm cho dễ kiếm và tự coi như mình đã đi tu.”
“그래서 이젠 다 상관없기로 했어. 이 조용하고 한적한 곳을 찾아 들어왔지. 나무껍질 대신 구하기 쉬운 풀을 먹으며 소박하게 지내고 있네. 스스로 출가한 셈 치고 말이야.”
- “Ngày tháng tiêu dao, bạn cùng mây nước, khong gặp ai, không quản ai, chỉ còn biết rong chơi với bồn mùa cảnh, bốn mùa tình, bỏ thói quen soi gương ngắm mặt, cố quên biết trời đất ngoài kia bây giờ thay đổi vần xoay thế nào… Từ bấy tới nay…”
“구름과 물을 벗 삼아 세월을 보내며, 누구도 만나지 않고 누구에게도 간섭하지 않은 채 사계절의 풍경과 정취에 몸을 맡기고 유람만 할 뿐이라네. 거울을 보는 습관도 버렸고, 바깥 세상이 어떻게 돌아가는지도 잊으려 노력하며 지내온 게… 지금까지라네.”
- Im lặng. Nghe mà não lòng! Cái lão chán đời này bị một vố đau điếng thì kệch chứ gì.
침묵이 흘렀습니다. 듣고 있자니 마음이 아렸습니다! 이 염세적인 노인네는 큰 시련 한 번 겪고 나더니 완전히 겁쟁이가 되어버린 것 아니겠습니까.
- Có thế mà không cắt nghĩa được tại sao, rõ chán! Rồi Xiến Tóc gật gù hỏi tôi, vẫn giọng rầu rĩ:
겨우 그 정도 일로 인생을 포기하다니, 정말 한심했습니다! 하늘소 아저씨는 고개를 끄덕이며 여전히 구슬픈 목소리로 내게 물었습니다.
- – Còn anh, chẳng hay bấy lâu nay anh mưa gió đường đời ra sao?
“그건 그렇고, 자네는 그동안 험난한 세상 풍파를 어떻게 견디며 지냈는가?”
- Tôi cũng kể gót đầu cho Xiến Tóc nghe.
나도 아저씨에게 그간의 우여곡절을 처음부터 끝까지 들려주었습니다.
- Chốc chốc, bác chán đời lại điểm vào câu chuyện một tiếng thở dài nghe đến phát phiền.
이야기 도중, 이 염세적인 아저씨는 자꾸만 한숨을 내쉬어 듣는 사람을 짜증 나게 했습니다.
- Tới đoạn tôi bỏ khe dứa trú đông đi dò la tin tức Châu Chấu Voi để tìm Trũi thì Xiến Tóc nói:
내가 겨울을 나던 파인애플 숲을 떠나 쭈이를 찾으려고 왕메뚜기들의 소식을 수소문하고 다녔다는 대목에 이르자, 하늘소 아저씨가 말했습니다.
- – Châu Chấu Voi? Châu Chấu Voi! Nhớ ra rồi. ờ ờ… Cách đây ít lâu. Châu Chấu Voi đi qua có tạt vào đây. Ừ thấy có cả một gã Dế Trũi…
“왕메뚜기? 왕메뚜기라고! 기억났다. 어, 어… 얼마 전에 왕메뚜기 무리가 여기를 들렀었지. 그래, 땅강아지 한 녀석도 같이 있었던 것 같군…”
- – Thế a?
“정말입니까?”
- – Ừ Dế Trũi
“그래, 땅강아지였어.”
- – Em tôi, em tôi rồi! Thế bây giờ cả bọn… Khổ em tôi bị bắt…
“내 아우, 내 아우가 맞군요! 그럼 지금 그들은… 불쌍한 내 동생이 붙잡혀 간 건가요…”
- – Không, Trũi có phải tù đâu. Nó đi đứng cũng như Châu Chấu Voi thôi. Phải rồi, không…
“아니, 쭈이는 죄수가 아니었네. 왕메뚜기들과 대등하게 다니더군. 그래, 맞아, 아니었어…”
- – Không thế nào?
“아니라니요, 뭐가요?”
- – Không, không… Chà Chà, ít lâu nay tôi hay quên quá. Phải, tôi nhớ ra rồi.
“아니, 그게 아니라… 에구, 요새 건망증이 심해져서 말이야. 그래, 이제 기억나는군.”
- Cái hôm Châu Chấu Voi và Trũi qua đây, mục đích họ muốn rủ tôi cùng đi làm một công việc.
“왕메뚜기들과 쭈이가 여기를 지날 때, 나에게 같이 어떤 일을 하자고 권하러 왔었지.”
- Chao ôi! Cái công việc tưởng tượng là sẽ đi khắp quê hương các loài trên trái đất. Nghe khó lắm!
“세상에나! 온 지구상에 있는 모든 생물들의 고향을 찾아 돌아다니겠다는 상상 같은 일이었네. 듣기만 해도 험난해 보이더군!”
- Tôi kêu lên:
나는 외쳤습니다.
- – Hay lắm!
“멋진 일이군요!”
- Xiến Tóc thong thả nói tiếp:
하늘소 아저씨는 느긋하게 말을 이었습니다.
- – Tôi xua tay, lắc đầu và bảo với những kẻ viển vông ấy rằng “tôi xin thôi nghe việc đó”.
“나는 손사래를 치며 고개를 저었지. 그리고 그 몽상가들에게 ‘나는 사양하겠네’라고 말했어.”
- Tôi đã sợ đời rồi. Tôi bây giờ đội mũ ni. Sự đời đã bỏ nó ra ngoài hai cái râu. Sự đời đã tắt lửa lòng, còn chen vào chốn bụi hồng làm chi.
“나는 이미 세상이 무섭다네. 이제는 속세를 떠난 몸이지. 세상만사는 내 두 더듬이 밖의 일일 뿐이야. 마음의 불꽃이 꺼졌는데, 이 번잡한 세상에 끼어들어 무엇하겠나.”
- Tôi sốt ruột:
나는 애가 타서 물었습니다.
- – Thế bây giờ họ đâu?
“그래서 지금 그들은 어디에 있습니까?”
- – Không rủ được tôi, họ đi.
“나를 설득하지 못하자 그냥 떠났네.”
- – Đi đâu?
“어디로요?”
- – Họ có hẹn đi một vòng cánh đồng bên kia rồi họ sẽ trở lại, qua đây sang phía tây. Anh cứ ở đây mà đợi, chắc sẽ gặp.
“건너편 들판을 한 바퀴 돌고 다시 돌아와서, 이곳을 거쳐 서쪽으로 가겠다고 하더군. 자네가 여기서 기다리면 분명 만날 수 있을 걸세.”
- Trũi không hề gì đâu. Nhưng anh cũng thích bay nhảy thế thì anh thật là ngông cuồng. Chao ôi!
“쭈이는 무사하네. 하지만 자네도 그렇게 쏘다니는 걸 좋아하다니 참으로 무모하구먼. 어휴!”
- Bác Xiến Tóc không biết rằng công việc Châu Chấu Voi đương mưu đồ cũng chính là điều tôi mơ tưởng.
하늘소 아저씨는 알지 못했습니다. 왕메뚜기들이 계획하고 있는 그 일이 바로 내가 꿈꾸던 일이라는 사실을 말입니다.
- Từ khi mẹ tôi căn dặn lúc ra đi, dần dà tôi đã hiểu rộng ra ý nghĩa cuộc sống.
어머니께서 길을 떠나는 제게 당부하신 뒤로, 나는 점차 삶의 의미를 넓게 이해하게 되었습니다.
- Tôi và Trũi cũng định đi khắp thế gian này.
나와 쭈이 또한 이 온 세상을 주유하기로 마음먹었었지요.
- Vậy nên, dù chỉ nghe mang máng, tôi đã cảm tình ngay với Châu Chấu Voi.
그래서 비록 어렴풋이 들었을 뿐이지만, 나는 곧바로 왕메뚜기들에게 호감을 느꼈습니다.
- Và tôi ân hận quá chừng về cuộc đánh nhau dạo trước.
그리고 지난날 그들과 싸웠던 일이 너무나도 후회되었습니다.
- Cũng lại chỉ vì tôi nóng nảy và nông nổi nên mới nên nỗi thế.
그저 나의 성급함과 경솔함 때문에 벌어진 일이었으니까요.
- Nếu tôi chịu khó thăm hỏi trước thì đã chẳng sao.
내가 미리 정중하게 물어보았더라면 아무 문제도 없었을 것입니다.
- Tuy vậy, tôi cũng đỡ phần áy náy vì chắc Trũi được vô sự.
그래도 쭈이가 무사하다는 소식에 마음의 짐을 조금이나마 덜 수 있었습니다.
- Ở lại đây đợi hay đi? Tôi phân vân.
여기 남아서 기다릴 것인가, 아니면 떠날 것인가? 나는 망설였습니다.
- Tôi có tranh luận việc đời với bác Xiến Tóc mấy lần nữa.
나는 하늘소 아저씨와 세상 돌아가는 이치에 대해 몇 번 더 논쟁을 벌였습니다.
- Nhưng óc bác Xiến Tóc dễ đã mủn ra thành miếng bột, không gợn một nếp nghĩ.
하지만 하늘소 아저씨의 뇌는 이미 가루처럼 흐물흐물해졌는지, 아무런 생각의 기척조차 없었습니다.
- Tuy nhiên nếu ở lại đây mà gặp được Trũi như Xiến Tóc mách thì tôi cũng chịu khó đợi.
하지만 이곳에 머물다가 아저씨의 말대로 쭈이를 만날 수 있다면 기꺼이 기다려 볼 용의가 있었습니다.
- Thế là tôi dừng chân và nương náu trong cái lều cỏ của ẩn sĩ Xiến Tóc vừa chán đời vừa đá lẩm cẩm.
그렇게 나는 삶에 환멸을 느끼며 노망기까지 보이는 은둔자 하늘소 아저씨의 풀집에 몸을 의탁하며 발길을 멈추었습니다.
- Ngày ngày bên tôi vo ve lèo nhèo những cuộc ca hát vẩn vơ của các nàng Bướm và chàng Ve Sầu.
날마다 내 곁에는 나비 아가씨들과 매미 총각들의 부질없는 노랫소리가 앵앵거리며 맴돌았습니다.
- Nghe mãi, và chỉ nghe đàn hát và chơi không thì cũng chối tai.
종일 악기 연주와 노랫소리, 그리고 노는 모습만 보고 있자니 슬슬 귀가 따가워졌습니다.
- Ở đây, không một cái gì đáng gọi là công việc cả.
이곳에는 ‘일’이라고 부를 만한 것이 단 하나도 없었습니다.
- Nói tóm lại, những ngày trú chân chỗ này tôi thấy cảnh sống xung quanh không khác thủa còn bé tỉ ti khi tôi mới được mẹ cho ra ở riêng, cứ tối đến, mê mải đi nhảy múa hát hỏng với bè bạn, ngày tháng ăn chơi lêu lổng.
요컨대, 이곳에서의 생활은 내가 아주 어릴 적 어머니로부터 독립했을 때, 밤마다 친구들과 춤추고 노래하며 허송세월하던 그때와 다를 바가 없었습니다.
- Chơi không thì bao giờ cũng chóng chán – tất nhiên.
놀기만 하는 것은 언제나 금방 질리기 마련입니다. 당연한 일이지요.
- Tôi không ưa bọn này.
나는 이 무리들이 마음에 들지 않았습니다.
- Huống chi, tôi là kẻ hay bay nhảy, lại càng lấy việc phải dừng chân là khó chịu.
하물며 돌아다니기를 좋아하는 내게 한곳에 머물러야 한다는 사실은 더욱 견디기 힘든 일이었습니다.
- Dần dà, tôi thấy thì giờ tôi với họ thậm vô tích sự.
시간이 흐를수록, 그들과 함께 보내는 시간이 참으로 무의미하게 느껴졌습니다.
- Bướm và Ve Sầu là lũ ăn hại, trốn việc.
나비와 매미는 일하기 싫어하는 게으름뱅이들일 뿐이었습니다.
- Bác Xiến Tóc đã từ lâu sinh mất nết, đâm lười, ăn hại nốt.
하늘소 아저씨 또한 오래전부터 품행이 나빠져 게을러졌고, 똑같이 베짱이 신세가 되어 있었습니다.
- Nếu không mong chút hy vọng ở lại có thể gặp Trũi thì chắc tôi đã cuốn gói đi rồi.
쭈이를 만날 수 있다는 실낱같은 희망이 아니었다면, 나는 진작에 짐을 싸서 떠났을 것입니다.
- Nhưng ngày ngày, nếu đời sống biếng nhác xung quanh càng khiến tôi bực dọc thì ý nghĩ về việc của Châu Chấu Voi định đi khắp nơi để kết giao với người tốt càng nung nấu, thấm thía trong tôi, tưởng tượng ra tôi sắp được đi cùng đoàn bè bạn có chí lớn ấy.
하지만 날마다 주변의 나태한 생활이 나를 화나게 할수록, 온 세상을 돌아다니며 훌륭한 이들과 교류하겠다는 왕메뚜기들의 계획은 내 마음속에서 더욱 뜨겁게 타올랐습니다. 그 큰 뜻을 품은 친구들과 함께 길을 떠나는 상상을 하곤 했습니다.
- Ngày mai, ngày kia hay chốc nữa? Mỗi buổi sáng, bừng mắt lại thấy bồn chồn và tha thiết muốn đi.
내일일까, 모레일까, 아니면 곧일까? 매일 아침 눈을 뜰 때마다 나는 안달이 났고 간절히 떠나고 싶었습니다.
- Chẳng còn mấy ngày nữa thì mùa xuân đã hết.
어느덧 봄도 며칠 남지 않았습니다.
- Rồi mùa hạ qua đi, bây giờ hoa sen trong đầm nước cũng tàn rồi.
어느새 여름도 지나고, 늪의 연꽃들도 이제는 시들어버렸습니다.
- Lá xanh bắt đầu úa đỏ. Trời đã ngả sang mùa thu.
푸른 잎들이 붉게 물들기 시작하더니, 하늘은 이미 가을로 접어들었습니다.
- Buổi sớm ấy, các ả Bướm rủ tôi vào rừng dự cuộc múa hát thi.
그날 아침, 나비들이 내게 숲속에서 열리는 가무 경연 대회에 같이 가자고 제안했습니다.
- Tôi lắc đầu từ chối rồi một mình lững thững dạo ra bờ suối, đứng ngẩng trông chờ.
나는 고개를 저어 거절하고는 혼자 터덜터덜 시냇가로 산책을 나가 고개를 들고 누군가를 기다렸습니다.
- Lòng hiu hiu nhớ Trũi và bâng khuâng mong ước xa xôi.
쭈이에 대한 그리움이 아련히 밀려왔고, 멀리 떠나고 싶은 열망에 마음이 설레었습니다.
- Bỗng đằng phương tây tràn đến những tiếng reo à à.
갑자기 서쪽에서 ‘와-‘ 하는 함성 같은 소리가 들려왔습니다.
- Một đàn ong bay ào đến đậu trên những bụi trúc và những cây cối xay nở hoa vàng choé.
꿀벌 떼가 우르르 날아와 대나무 숲과 노란 꽃이 활짝 핀 어저귀 나무 위에 내려앉았습니다.
- Đi kiếm ăn về, nghỉ chân đấy, ong nào cũng nặng phấn và đầy những tiếng vo ve chuyện vui, những bài hát hùng tráng thúc giục của ngày đường.
먹이를 구하고 돌아오던 길에 휴식을 취하는 벌들은 저마다 꽃가루를 무겁게 싣고 있었고, 즐거운 대화와 길 위의 여정을 재촉하는 웅장한 노랫소리로 가득했습니다.
- Không khí yên tĩnh nơi quạnh vắng, bỗng nhộn nhịp hẳn lên.
고요하고 적막하던 분위기가 순식간에 활기로 넘쳐났습니다.
- Nghỉ một lát, đàn ong lại bay vù. Tấm lòng náo nức của tôi nhộn nhịp cũng như bay theo.
잠시 휴식을 마친 벌 떼가 다시 윙 소리를 내며 날아갔습니다. 나의 들뜬 마음도 그들을 따라 날아가는 것 같았습니다.
- Tôi ngơ ngẩn nhìn. Đàn ong đó hẳn vừa qua một quãng đường dài.
나는 멍하니 그들을 바라보았습니다. 저 벌 떼는 분명 먼 길을 지나왔을 것입니다.
- Họ đi xây dựng đời sống, họ đổi chỗ ở. Phải sống ở đời có biết đi đây đi đó, biết làm việc thì mới là đáng sống.
그들은 삶을 일구기 위해 터전을 옮겨 다니는 것이었습니다. 세상을 살면서 여기저기 다녀보고, 일할 줄 알아야 비로소 살 가치가 있는 삶이라 할 수 있습니다.
- Tôi bồi hồi, khao khát. Những tiếng: giang hồ hoạt động, đi hết anh em trong thiên hạ, đến nhảy múa trong óc tôi.
나는 가슴이 벅차올라 갈망했습니다. ‘강호를 누비는 활동’, ‘천하의 모든 형제들을 찾아가는 길’ 같은 단어들이 머릿속에서 춤을 추었습니다.
- Chân tôi ngứa ngáy, giậm giật. Lại đi, lại đi thôi!
발이 근질거려 가만히 있을 수 없었습니다. 다시 떠나자, 다시 떠나는 거야!
- Tiếng gọi tôi lên đường mà đàn ong vừa thổi kèn vừa bay tung trời kia đương vang vang trước mắt tôi.
나팔을 불며 하늘로 솟구치던 벌 떼의 부름이 내 눈앞에서 쟁쟁하게 울려 퍼졌습니다.
- Vả chăng, tôi cũng đã chán cảnh, ngấy tình ở đây lắm.
게다가 나 또한 이곳의 풍경과 분위기에 이미 진저리가 난 터였습니다.
- Tôi còn đương suy tính, lưỡng lự khi bước qua rừng thưa.
듬성듬성한 숲을 지나며 여전히 고민하고 망설이고 있을 때였습니다.
- Cạnh bụi trúc, tôi thấy bác Xiến Tóc gật gù trầm ngâm.
대나무 숲 옆에서 하늘소 아저씨가 고개를 끄덕이며 깊은 생각에 잠겨 있는 것을 보았습니다.
- Bác ta vốn lực lưỡng, vai rộng vuông vắn, rất khoẻ mà nay lúc nào cũng ủ dột, trông thật không khớp với dáng vốn nhanh nhẹn, thành thử nom bác ta đâm ra vẻ buồn cười.
원래는 건장한 체구에 넓은 어깨를 가진 힘센 분이었는데, 이제는 늘 침울한 기색이어서 본래의 민첩한 모습과는 전혀 어울리지 않았고, 그 모습이 오히려 우스꽝스럽게 보였습니다.
- Bác ta ngước mắt nhìn vơ vẩn rồi gật gù cất giọng vịt đực ngâm ư ử?
아저씨는 멍하니 허공을 바라보더니 쉰 목소리로 흥얼거리며 읊조렸습니다.
- …Chi bằng / đến thẳng / giậu cúc / thơm / Ngồi khểnh / vỗ đàn / gảy một / khúc “
…차라리 / 향기로운 / 국화 울타리로 / 곧장 가서 / 비스듬히 앉아 / 거문고 타며 / 한 곡조 뽑아보세.”
- Cha mẹ trời đất! Những nghe đã phát ngán.
세상에나! 듣기만 해도 지긋지긋했습니다.
- Hai cảnh nối nhau vừa bày ra trước mắt tôi: đàn ong mải mê rầm rộ; một bác Xiến Tóc to xác, quá lười cứ ra ngẩn vào ngơ.
내 눈앞에는 두 가지 장면이 대조적으로 펼쳐졌습니다. 열정적이고 활기찬 벌 떼와, 덩치만 컸지 너무 게을러서 넋을 놓고 있는 하늘소 아저씨의 모습이었습니다.
- Tôi vốn ít mơ mộng, không thích lối sống phất phơ. Càng thêm ngấy và bực.
나는 본래 몽상가 체질도 아니고, 정처 없이 부유하는 삶을 좋아하지도 않습니다. 그래서 더욱 짜증이 나고 화가 났습니다.
- Tôi quyết bỏ các bọn vô tích sự này và lại ra đi ngay hôm ấy.
나는 이 무익한 무리들을 떠나기로 결심하고 바로 그날 다시 길을 나섰습니다.
- Không từ biệt ai, không ai trông thấy, tôi cứ thế đi.
아무에게도 작별 인사를 하지 않고, 누구의 눈에도 띄지 않게 그렇게 떠났습니다.
- Đi mươi hôm thì đến chân một con đê. Dốc đê cao, leo mãi mới tới được mặt đê.
열흘쯤 걷자 어느 제방 기슭에 다다랐습니다. 제방의 경사가 가팔라 한참을 기어올라가서야 꼭대기에 닿을 수 있었습니다.
- Đứng nhìn ra sông thấy làn nước đỏ ngòm băng băng chảy.
강물을 내려다보니 시뻘건 물줄기가 세차게 흘러가고 있었습니다.
- Lắng nghe có tiếng hét “quých quých!” dữ dội ngay trên đầu.
귀를 기울이니 머리 위에서 “뀌익, 뀌익!” 하는 날카로운 울음소리가 들렸습니다.
- Ngẩng đầu thì thấy một lão chim Trả loắt choắt mà rất diện vừa bay tới.
고개를 들어보니 조그맣지만 아주 멋을 부린 물부엉이(물까마귀/물새류) 영감이 날아오고 있었습니다.
- Ôi chao, lão ta làm bộ điệu mới bảnh bao và oai vệ làm sao!
어이쿠, 그 영감의 차림새와 태도가 어찌나 번드르르하고 위풍당당하던지요!
- Tên lão là Trả. Có lẽ vì lão chỉ ăn cá – chả cá và gỏi cá!
그의 이름은 ‘짜(Trả)’였습니다. 아마 생선(Cá)만 먹어서 붙여진 이름일지도 모르겠습니다!
- Mỗi khi định bắt một con cá, lão vỗ cánh đứng ngắm nghía trên không rồi thình lình đâm bổ xuống mặt nước, túm cá lên.
물고기를 잡으려 할 때면, 그는 공중에서 날갯짓을 하며 지켜보다가 갑자기 물속으로 곤두박질쳐 물고기를 낚아챘습니다.
- Vì cách câu cá đặc biệt ấy, lão còn có biệt hiệu là tiên sinh Bói Cá.
그 특별한 사냥 방식 때문에 그는 ‘물소새(물방개새) 선생’이라는 별명도 가지고 있었습니다.
- Tôi trông lão này có nhẽ cũng nhiều tuổi, người đã hom hem quắt lại rồi.
내가 보기에 이 영감은 나이가 꽤 지긋해 보였고, 몸은 수척하게 말라 있었습니다.
- Song lão Bói Cá xưa nay nổi tiếng là già mà hay làm đỏm trái mùa.
하지만 물소새 영감은 예부터 늙어서 주책맞게 멋을 부리기로 유명했습니다.
- Đã hóp má rồi lại hay tỏ vẻ hơ hớ trai tơ.
볼은 움푹 패었으면서도 마치 팔팔한 청년인 양 행세하곤 했지요.
- Lão sắm đâu được bộ cánh màu sặc sỡ không hợp tí nào với bộ mặt âm thầm của lão.
그는 어디서 구했는지 자신의 침울한 얼굴과는 전혀 어울리지 않는 화려한 색깔의 옷을 입고 있었습니다.
- Bụng trắng, lưng xanh thắt đáy, đôi cánh nuột nà biếc tím.
배는 하얗고 등은 푸른빛이었으며, 매끄러운 날개는 보랏빛이 감돌았습니다.
- Chân lão đi đôi hia đỏ hắt.
발에는 새빨간 장화를 신고 있었습니다.
- Lão sẽ đôi chút đẹp trai đấy nếu lão có cái mỏ vừa phải.
만약 부리가 적당한 크기였다면 그도 제법 미남이었을 것입니다.
- Nhưng, cơ khổ, lão phải vác giữa mặt một cặp mỏ kếch xù mà đen quá, dài quá, xấu quá.
하지만 가엽게도, 그는 얼굴 한복판에 너무 검고, 너무 길고, 너무나 못생긴 거대한 부리를 달고 다녀야 했습니다.
- Mỏ lão dài hơn người lão và to đến nỗi trông giống như có ai nghịch ác đem đóng cả một chiếc cọc tre gộc vào giữa mặt lão.
그의 부리는 몸집보다 길었고, 마치 누군가 심술궂게 얼굴 한가운데에 커다란 대나무 말뚝을 박아놓은 것처럼 컸습니다.
- Cả ngày, lão nhăn nhó méo mặt vác mỏ chẳng khác gì anh cu Sên suốt đời phải đội toà đình đá nặng trên lưng vậy.
종일 부리를 지고 다니느라 일그러진 그의 얼굴은, 평생 무거운 돌집을 등에 지고 살아야 하는 달팽이와 다를 바 없었습니다.
- Tôi ngắm cái mỏ lão chim Trả mà cười thầm là đáng đời cái anh già hay làm điệu mà không thể cất cái mỏ xấu xí kia đi đâu.
나는 물소새 영감의 부리를 보며, 멋부리기 좋아하는 노인네가 저 못생긴 부리는 어쩌지 못하니 참 꼴 좋다고 속으로 비웃었습니다.
- Nhưng, quả báo, cái mỏ to tướng tôi đương chế nhạo thầm đó sắp sửa đến hỏi tội tôi đây.
하지만 인과응보였을까요, 내가 속으로 비웃던 그 거대한 부리가 이제 곧 나에게 죄를 물으러 다가오고 있었습니다.
- Duyên do thế này:
사연은 이렇습니다.
- Lão chim Trả đương bay, bỗng sà xuống đậu trên tấm phên nứa cửa cống trước mặt tôi.
날아가던 물소새 영감이 갑자기 내 앞에 있는 수문의 대나무 울타리 위에 내려앉았습니다.
- Cái phên lung lay, lão cứ ngất ngưỡng đứng lấy đà nhưng vẫn không quên chăm chú trông ra mặt nước rình cá.
울타리가 흔들거리자 그는 비틀거리며 중심을 잡으면서도 물속의 물고기를 살피는 것을 잊지 않았습니다.
- Gật gù một lát lão chợt trông thấy tôi nhô lên trên đê.
고개를 까닥이던 영감은 문득 제방 위로 올라온 나를 발견했습니다.
- – Đây rồi! Đây rồi!
“찾았다! 여기 있었구나!”
- Như gặp lại bạn chí thân! ( Rồi tôi mới biết lão kêu lên thế vì đấy là lão vừa nảy một ý rất hay của lão ).
마치 절친한 친구라도 만난 듯 말입니다! (나중에야 알았지만, 영감이 그렇게 외친 것은 아주 기발한 생각이 떠올랐기 때문이었습니다.)
- Hai tròng mắt lão đỏ lòm lộn lên rất nhanh.
그의 시뻘건 두 눈동자가 빠르게 굴러갔습니다.
- Lão bay chéo thẳng xuống đầu tôi. Lão giương cặp mỏ to tướng ra.
영감은 내 머리 위로 곧장 날아 내려와 거대한 부리를 벌렸습니다.
- Tôi trông vào thấy cả cái lưỡi lão nhọn hoắt và thắm như máu.
들여다보니 뾰족하고 피처럼 붉은 혀가 보였습니다.
- Tôi hơi luống cuống.
나는 조금 당황했습니다.
- Nhưng có điều danh dự đáng tự hào này, xin thưa cùng bạn đọc yêu quý: tôi thường đắc ý rằng đã từ lâu, dù trong cơn nguy hiểm, dù chết ngay tôi cũng không hề một lần nào nữa hạ mình lạy lục ai, như hồi xưa tôi có lần lạy bác Xiến Tóc khi bị Xiến Tóc doạ nạt.
하지만 사랑하는 독자 여러분, 제게는 자랑스러운 자부심이 하나 있습니다. 아무리 위험한 순간이라도, 설령 죽음이 닥칠지라도, 예전에 하늘소 아저씨의 협박에 못 이겨 빌었던 것처럼 다시는 누군가에게 비굴하게 굴지 않겠다고 다짐해 왔다는 사실입니다.
- Bây giờ, trước mặt lão chim Trả, tôi loay hoay tìm cách chống đỡ.
지금 이 물소새 영감 앞에서도 나는 맞서 싸울 방법을 찾아 분주히 움직였습니다.
- Lão chim Trả đã có tiếng là cục tính, khi lão phát cáu hoặc khi ham muốn điều gì.
물소새 영감은 화가 나거나 무언가 욕심이 생길 때 성격이 아주 괴팍하기로 유명했습니다.
- Nhưng tôi nhất quyết không sợ. Tôi lấy hết gân, bạnh người, giương cánh, giang chân khuỳnh càng ra.
하지만 나는 결코 겁내지 않았습니다. 나는 온 힘을 다해 몸을 부풀리고 날개를 세우며 다리를 꼿꼿이 폈습니다.
- Cả thân mình tôi nở bung, như con cua càng.
내 몸 전체가 마치 집게발을 세운 게처럼 팽팽하게 부풀어 올랐습니다.
- Thấy chưa chi tôi đã tỏ ý kháng cự, lão chim Trả gầm lên:
내가 저항하려는 기색을 보이자 물소새 영감이 포효했습니다.
- – Hè…hè…Oắt! Oắt!… Giỏi! Giỏi!
“헤헤… 꼬마 녀석! 제법이군! 그래, 잘한다!”
- Lão bổ thượng xuống một mỏ. Chưa bao giờ tôi bị một đòn khiếp thế.
영감이 위에서 아래로 부리를 내리찍었습니다. 그렇게 무시무시한 일격은 처음이었습니다.
- Nhưng đầu tôi vốn đội mũ trụ, nổi tảng, cứng lắm.
하지만 내 머리는 원래 투구처럼 아주 딱딱한 갑옷으로 덮여 있었습니다.
- Tôi chỉ đau mà không xây xát tí gì. Thấy không đánh ngã nổi tôi, đáng lẽ phải cáu hơn, nhưng lão chợt nhớ lại cái ý hay mà lão đã kêu “đây rồi, đây rồi” lúc nãy.
조금 아프긴 했지만 상처 하나 나지 않았습니다. 나를 쓰러뜨리지 못하자 더 화를 낼 법도 한데, 영감은 아까 “찾았다”라고 외치게 만들었던 그 기발한 생각을 떠올린 모양이었습니다.
- Lão bèn quắp tôi, bay bổng lên. Chao chao. Gió rú trên cao đến lộng óc.
영감은 나를 낚아채더니 허공으로 솟구쳐 올랐습니다. 어질어질했습니다. 머리가 핑 돌 정도로 높은 곳에서 바람 소리가 윙윙거렸습니다.
- Từ lọt lòng mẹ chưa bao giờ tôi bị tung lên tận lưng trời như thế!
태어나서 단 한 번도 이토록 높은 하늘 끝까지 올라가 본 적이 없었습니다!
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823




