TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
LÊ HUY KHOA
DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN
DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÍ
Chương 9: Lại một chuyện rủi ro với các bạn Kiến – Sự tức giận của mấy cô bé học trò – ai có công nhất?
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS: NGUYỄN HUỲNH MINH ANH
CSTT: KANATA BIÊN HÒA
Chương 9: Lại một chuyện rủi ro với các bạn Kiến – Sự tức giận của mấy cô bé học trò – ai có công nhất?
제9장: 개미 친구들에게 닥친 또 다른 불행 – 어린 여학생들의 분노 – 누구의 공이 가장 큰가?
Đến đây, tôi xin mở dấu ngoặc nói về Châu Chấu Voi.
여기서 잠시 괄호를 열어 조주보이(코끼리 메뚜기)에 대해 이야기하고자 합니다.
Đây là những tay có bản lĩnh trước tiên xướng xuất lên những ý nghĩ cao cả về việc đi giang hồ du lịch.
이들은 강호를 유람하며 여행하겠다는 고결한 포부를 가장 먼저 내세운 본령 있는 자들이었습니다.
Khi Châu Chấu Voi gặp tôi và Trũi ở vùng cỏ may và khi xảy ra cuộc lưu huyết là lúc Châu Chấu Voi bắt đầu thực hiện chí lớn.
조주보이가 나와 트루이(땅강아지)를 가마이 풀밭에서 만나 유혈 사태가 벌어졌을 때, 그때가 바로 조주보이가 자신의 큰 뜻을 펼치기 시작한 시점이었습니다.
Nếu ngày ấy tôi biết thì đã chẳng phiêu bạt đến cái lều cỏ của cư sĩ Xiến Tóc rồi lại đến nỗi phải tù trong hang chim Trả.
만약 그날 제가 그 사실을 알았더라면, 시엔똑(하늘소) 거사의 풀막사까지 떠돌다 결국 비취조의 동굴에 갇히는 신세가 되지는 않았을 것입니다.
Đoàn Châu Chấu Voi cùng Trũi đi đã nhiều đường đất, nhiều nơi.
조주보이 군단은 트루이와 함께 참으로 많은 길을 걷고 수많은 곳을 다녔습니다.
Ở đâu, ai ai cũng đều coi tình bạn tốt đẹp ấy là lẽ phải nhất trên thế gian.
가는 곳마다 모든 이들이 그 아름다운 우정이야말로 세상에서 가장 고귀한 이치라고 여겼습니다.
Đã qua nhiều vùng, trò chuyện và bạn bè đã nhiều ai cũng nghiệm ra rằng những ai có lòng tốt, đều thích làm ăn yên ổn.
여러 지방을 거치며 수많은 대화를 나누고 친구를 사귀어 본 결과, 선한 마음을 가진 이라면 누구나 평온하게 일하며 살아가길 원한다는 것을 깨닫게 되었습니다.
Đâu đâu cũng thế, thật phấn khởi.
어딜 가나 마찬가지였기에 참으로 고무적인 일이었습니다.
Chỉ có cái khó là bàn chân và cả cánh bay, cũng không thể đi cùng trời cuối đất để mau chóng nói rộng những điều quan trọng ấy ra.
다만 아쉬운 점은, 가녀린 발과 날개만으로는 이 넓은 세상 끝까지 다닐 수 없어 그 소중한 가르침들을 속히 널리 알릴 수 없다는 것이었습니다.
Không ai bảo ai, các bạn đều thấy nếu thế thì không gì hay hơn tìm đến vùng Kiến.
누가 먼저랄 것도 없이, 친구들은 개미들의 나라를 찾아가는 것보다 더 좋은 방법은 없다는 사실을 깨달았습니다.
Chỉ có anh em Kiến vẫn chịu khó cẩn thận- và khắp thế giới, đâu cũng có Kiến.
오직 개미 형제들만이 변함없이 성실하고 신중했으며, 이 세상 어디를 가도 개미가 없는 곳은 없었기 때문입니다.
Đó là cái cớ khiến Châu Chấu Voi và các sang vùng Kiến, đi qua của hang chim Trả vừa rồi.
그것이 바로 조주보이(코끼리 메뚜기) 일행이 조금 전 비취조의 동굴을 지나 개미들의 영토로 향하게 된 이유였습니다.
Từ đấy, trong bọn có tôi cùng đi.
그때부터 저 또한 그 무리에 합류하여 함께 길을 떠나게 되었습니다.
Lại nói về Kiến.
이제 다시 개미들에 대해 이야기해 보지요.
Xưa nay, dù cho đấy là một họ Kiến to gồ thì Kiến cũng vẫn là bé nhỏ, mảnh dẻ, tuy vậy, kiến lại sống đông đúc nhất trên toàn cầu.
예부터 아무리 덩치가 큰 개미 가문이라 할지라도 개미란 본디 작고 가냘픈 존재였으나, 그럼에도 불구하고 개미는 온 지구상에서 가장 번성하며 무리 지어 사는 족속입니다.
Thử để ý mà xem, từ xó bếp đến bàn ăn, chiếu ăn, mâm ăn, từ đồng ruộng đến rừng núi thành phố không đâu không có kiến.
주변을 한번 살펴보십시오, 부엌 구석부터 식탁과 밥상 위, 그리고 논밭에서부터 깊은 산속과 도심에 이르기까지 개미가 없는 곳이란 단 한 군데도 없습니다.
Con kiến rất nhỏ mà ở đâu cũng có, hạt thóc, hạt kê bé li ti là cái nuôi người hàng ngày… Kiến tí hon mà kiến đi khắp thế gian.
개미는 비록 아주 작지만 어디에나 존재하며, 마치 인간을 매일 먹여 살리는 아주 작은 쌀알이나 수수알과도 같습니다. 이토록 작은 개미들이 온 세상을 누비고 다니는 것입니다.
Nhiều thứ kiến: Kiến Gió, Kiến Mun, Kiến Càng, Kiến Cỏ, Kiến Cánh, Kiến Bọ Dọt, Kiến Đen, Kiến Vàng… trăm nghìn chỉ phái nhà kiến nhiều không kể xiết.
바람개미, 검은개미, 집게개미, 풀개미, 날개개미, 불개미, 흑개미, 황금개미 등등… 수만 가지에 달하는 개미 가문의 종파는 이루 다 헤아릴 수조차 없습니다.
Kiến có nhều đức tính: chăm chỉ, cần cù, biết lo xa, và cũng bướng bỉnh nhất trần gian, ở đâu cũng vậy, Kiến xây thành đắp luỹ kiên cố, riêng biệt một nơi.
개미는 근면 성실하고 앞날을 대비할 줄 아는 여러 미덕을 지녔지만, 한편으로는 세상에서 둘째가라면 서러울 만큼 고집통이들이라 어디서든 자신들만의 견고한 성벽과 보루를 쌓고 따로 떨어져 지내곤 합니다.
Kiến đánh nhau với ai thì chết ngay cũng đánh, không biết sợ.
개미는 누군가와 싸움이 붙으면 설령 그 자리에서 죽을지언정 결코 물러서지 않으며, 두려움이라곤 조금도 모르는 족속입니다.
Nhưng cùng nhau một chí hướng rồi, Kiến sẽ đem những điều tốt đẹp truyền bá đi khắp thế gian.
그러나 일단 한뜻으로 뭉치기만 하면, 개미들은 세상의 온갖 좋은 가르침들을 온 천하에 전파할 것입니다.
Như thế chẳng bao lâu nữa, đâu đâu cũng sẽ biết hết.
그렇게 된다면 머지않아 세상 어느 곳이든 그 소식을 모르는 곳이 없게 되겠지요.
Kiến cứ gặp nhau chụm đầu lại, đưa tin rồi lại đi.
개미들은 서로 만나기만 하면 머리를 맞대고 소식을 전한 뒤 다시 제 갈 길을 가곤 합니다.
Bao giờ cũng vậy. Tin Kiến truyền thật nhanh.
언제나 그랬듯, 개미들이 전하는 소식은 실로 신속하기 그지없습니다.
Chỉ có các bạn đại gian khổ như Kiến Gió mới kham nổi công việc to rộng như thế.
바람개미처럼 크나큰 고초를 견뎌내는 이들만이 이토록 방대한 과업을 감당할 수 있는 법입니다.
Các bạn Kiến Gió chân cao chuyên nghề đưa tin, nhanh như gió.
다리가 긴 바람개미들은 소식을 전하는 일을 전문으로 하며, 그 속도는 가히 바람처럼 빠릅니다.
Đường vào vùng Kiến xa lăng lắc, rồi lại mỗi thành luỹ hiểm hóc khác, cứ phải hỏi thăm suốt dọc đường.
개미들의 영토로 들어가는 길은 아득히 멀었고, 요새마다 지형이 험난하여 내내 길을 물어가며 나아가야 했습니다.
But đi lâu cũng phải tới.
하지만 오래 걷다 보니 결국 목적지에 닿게 되었습니다.
Bây giờ chúng tôi đã qua nhiều làng và cánh đồng, trông thấy vùng Kiến trên trái đồi trước mặt.
수많은 마을과 들판을 지나온 우리는 이제 눈앞의 언덕 너머로 개미들의 땅을 마주하게 되었습니다.
Trời đất giờ đây lại sắp sang xuân. Gió nhẹ. Thinh không cao cao.
어느덧 천지는 다시 봄을 맞이하려 하고 있었습니다. 바람은 부드러웠고, 하늘은 높고 푸르렀습니다.
Mỗi năm gặp lại mùa xuân, trong lòng lại thấy hai câu thơ tự nhiên trở lại, thật xinh tươi thay: Cỏ non xanh rợn chân trời. Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
매년 봄을 맞이할 때마다 마음속에는 두 줄의 시구가 자연스레 떠오르니, 참으로 싱그럽기 그지없습니다. “푸른 풀은 지평선 끝까지 우거지고, 배꽃 가지에는 하얀 꽃송이들이 몇 점 수놓아졌구나.”
Ai nấy đều ca hát.
모두가 흥겨워 노래를 불렀습니다.
Riêng bác Xiến Tóc đi cạnh tôi vẫn còn than thở và ân hận về cái thời nhàn cư cho qua ngày ở xó rừng một cách vô lý, thậm vô lý.
다만 제 곁을 걷던 시엔똑(하늘소) 아저씨만은 숲 구석에서 무의미하게, 실로 덧없이 세월을 보내던 지난날을 한탄하며 후회하고 있었습니다.
Bây giờ được đi đứng, bôn tẩu đây đó, thì lạ thay lại thấy khỏi lừ khừ và khoẻ mạnh hơn xưa.
이제 이렇게 사방을 분주히 누비고 다니니, 신기하게도 예전의 나른함은 사라지고 전보다 훨씬 건강해진 기분이라고 했습니다.
Mới biết chẳng việc khó nào khiến ta nản lòng được.
어떤 고난도 우리를 낙담시킬 수 없음을 새삼 깨닫게 됩니다.
Kể đâu đến thành bại mục đích ở đời là hoạt động.
성패를 따지기에 앞서, 삶의 진정한 목적은 끊임없이 움직이는 데 있는 것이니까요.
Đường đi khúc khuỷu dần.
길은 갈수록 구불구불해졌습니다.
Chúng tôi leo lên trên lưng một trái đồi thì đến địa đầu vùng Kiến.
언덕 능선을 타고 오르자 마침내 개미 영토의 접경지에 도착했습니다.
Chúng tôi dừng lại đưa mắt trông vào thấy một màu đất đỏ trùng trùng nhấp nhô những thành trì nối nhau đi liên tiếp, không biết đâu phân biệt được đường đi.
걸음을 멈추고 바라보니 붉은 흙더미가 첩첩이 쌓여 있고, 수많은 성채가 끝없이 이어져 있어 도무지 길을 분간할 수 없었습니다.
Đáng khen phục kỳ công kiến trúc của các kỹ sư Kiến.
개미 설계사들이 일구어낸 기막힌 건축술에 그저 감탄이 절로 나올 뿐이었습니다.
Hôm sau chúng tôi bắt đầu đi vào.
다음 날, 우리는 마침내 안으로 발을 들여놓았습니다.
Từ hôm ấy, chúng tôi qua biết bao nhiêu khó khăn.
그날 이후, 우리는 이루 다 말할 수 없는 난관들을 헤쳐나가야 했습니다.
Để bạn đọc yêu quý rõ từng ngày gian khổ ra sao, tôi xin trích vài dòng nhật ký của tôi, ở tập thứ tư, những trang 151, 154, cho đến trang 158 chép về “Những ngày Mèn đi vào đất Kiến”:
친애하는 독자 여러분께 그 고난의 나날들을 생생히 전해드리고자, 제 일기장 제4권 151쪽부터 158쪽에 기록된 “제멘의 개미 땅 입성기” 중 몇 구절을 발췌해 봅니다.
“Mùa xuân, ngày 79 – Kiến ở đông quá. Câu tục ngữ “đông như kiến” thật đúng.
“봄, 제79일 – 개미들이 너무나 많다. ‘개미 떼 같다’는 속담이 참으로 빈말이 아니다.
Đường ngang lối dọc chỗ nào cũng đầy kiến.
길목마다 사방이 개미들로 가득하다.
Đầu tiên chúng tôi trông thấy từng bọn Kiến Gió.
가장 먼저 우리 눈에 띈 것은 바람개미 무리였다.
Kiến Gió có nghề xây đắp rất giỏi, lại đi nhanh theo cách không phải đi.
바람개미들은 토목 공사에도 능하지만, 걷는 것이 아니라 거의 날아가는 수준으로 빠르게 이동한다.
Kiến nghiêng mình vào làn gió, gió thổi bay.
바람에 몸을 맡기면 바람이 그들을 실어 나른다.
Kiến tự dưng sa xuống chớp nhoáng hơn gió.
그러다 어느 순간 바람보다 더 빠르게 잽싸게 내려앉는 것이다.
Màu áo nâu lẫn với đất, các chàng đi dày đặc quanh chúng tôi.
흙빛과 닮은 갈색 옷을 입은 그들이 우리 주변을 빽빽하게 에워싸고 지나갔다.
Thấy chúng tôi to lớn, thân hình mỗi Kiến Gió chỉ bằng cẳng chân tôi, nhưng họ không sợ hãi, vẫn thản nhiên ngửa mặt đứng thò hai râu ra nghe ngóng chốc lát rồi lại chăm chú làm.
우리의 덩치가 바람개미 한 마리의 몸집보다 몇 배나 컸지만, 그들은 전혀 두려워하지 않고 태연히 고개를 들어 더듬이를 내밀고 동태를 살피더니 다시 자기 일에 몰두했다.
Kiến Gió giỏi khuân vác và xây dựng, đôi khi chạy tin cần kíp.
바람개미들은 운반과 건설에 능하며, 때로는 긴급한 전령 역할을 수행하기도 한다.
Một tốp Kiến Lửa quần áo vàng khè, Kiến Lửa lầm lì hì hục đào đất xây hào luỹ.
누런 옷을 입은 불개미 한 무리가 보였는데, 그들은 묵묵히 흙을 파내며 해자와 성벽을 쌓고 있었다.
Họ dựng lũy đào hào rất khéo.
성벽을 세우고 해자를 파는 솜씨가 아주 정교했다.
Các đường hầm phủ mảng đất luyện thật mỏng trên mặt thành đều do Kiến Lửa xây.
성벽 표면에 아주 얇게 다진 흙을 덮어 만든 지하 터널들은 모두 불개미들의 작품이다.
Cả làng đi trong những đường chìm ấy, ít khi ló ra.
마을 전체가 이 지하 통로로만 다녀서 밖으로 모습을 드러내는 일이 거의 없다.
Bởi thế, vào vùng Kiến thoạt trông chỉ thấy cao thấp những mảng đất vắng vẻ, nhưng trong đường hầm, làng Kiến qua lại tấp nập chen chúc đông vui suốt đêm ngày.
그 때문에 개미 영토에 들어서면 겉보기에는 황량한 흙더미만 보이지만, 지하 터널 안에서는 개미들이 밤낮없이 북적이며 활기차게 오가고 있다.
Tôi hỏi thăm đường. Gã Kiến Lửa nhìn chúng tôi không nói.
내가 길을 묻자, 불개미 한 녀석이 우리를 빤히 쳐다볼 뿐 아무 말이 없다.
Vẻ bí mật ghê! Đã thế, cũng không cần, bọn tôi cứ đi.
참으로 비밀스러운 태도다! 그렇다면 됐고, 우리끼리 그냥 가기로 했다.
Mùa xuân, ngày 82 – Gặp việc rắc rối.
봄, 제82일 – 문제가 생겼다.
Vô tình, Xiến Tóc thụt chân xuống một đường hầm.
부주의하게도 시엔똑 아저씨가 지하 터널 쪽으로 발을 빠뜨리고 말았다.
Mọi hôm đi cả ngày không sao.
며칠 동안은 아무 탈 없이 잘 다녔는데 말이다.
Dù Kiến đi đông đảo quanh chúng tôi, nhưng không ai đụng vào ai, thì ai cứ việc nấy, chẳng lôi thôi đến nhau.
수많은 개미들이 우리 주변을 오갔지만 서로 부딪히지만 않으면 각자 자기 할 일을 할 뿐, 아무런 간섭도 없었다.
Bây giờ, bọn kiến dưới đường hầm tưởng có kẻ đến phá hoại nhà cửa của họ.
그런데 이제 터널 아래의 개미들은 누군가 자신들의 집을 부수러 온 줄로 오해한 모양이다.
Gã Kiến Kim ngoi lên, chẳng biết nếp tẻ thế nào xông vào đánh nhau liền.
바늘개미(Kiến Kim) 하나가 기어 올라오더니 앞뒤 가릴 것 없이 다짜고짜 싸움을 걸어왔다.
Thám tử Kiến Đen chạy đi cấp báo khắp vùng.
검정개미 정찰병은 사방으로 소식을 알리러 뛰어갔다.
Lập tức vô vàn Kiến Lửa rầm rĩ hung hăng kéo đến.
순식간에 수많은 불개미들이 소란을 피우며 사납게 몰려들었다.
Nhưng anh chàng Kiến Lửa nào nhảy tới, vừa nhe răng ra đều bị chúng tôi hất đá ngã.
하지만 달려들어 이빨을 드러내는 불개미들을 우리는 발로 차서 모조리 쓰러뜨렸다.
Chúng vẫn kéo đến. Chúng cậy đông, vây bọn tôi lại.
그럼에도 그들은 숫자를 믿고 계속해서 우리를 포위해 왔다.
Mùa xuân, ngày 83 – Tự nhiên trên trời rơi xuống đầu chúng tôi hằng hà sa số những anh kiến to thô lố, áo đỏ và có cánh.
봄, 제83일 – 갑자기 하늘에서 빨간 옷을 입고 날개가 달린 커다란 개미들이 셀 수 없이 많이 우리 머리 위로 떨어졌다.
Đó là Kiến Cánh nhảy dù. Đoàn Kiến Cánh nhảy dù tới tấp đến.
바로 날개개미 낙하산 부대였다. 날개개미 군단이 쉴 새 없이 쏟아져 내려왔다.
Kiến Cánh rất hăng. Có gã bị cắn đứt đuôi, rơi bụng ra mà vẫn chạy ton ton.
날개개미들의 기세가 대단했다. 어떤 녀석은 꼬리가 잘리고 배가 터져 나갔는데도 여전히 쌩쌩하게 뛰어다녔다.
Trận đánh đương tơi bời thì Trũi sa vào đường mai phục, bị bắt sống.
한창 치열하게 싸우던 중, 트루이(땅강아지)가 매복에 걸려 생포되고 말았다.
Nhưng nửa đêm Trũi trốn được.
그러나 한밤중에 트루이는 탈출에 성공했다.
Chúng giam Trũi vào một hầm đất. Hầm đất của Kiến thì mỏng mảnh thôi.
놈들이 트루이를 흙구덩이에 가두었지만, 개미들의 흙벽이란 게 워낙 얇았다.
Và chúng không ngờ tài đào khoét ngạch của Trũi.
게다가 놈들은 구멍을 파는 트루이의 장기를 예상치 못했다.
Chỉ dùng hai càng gạt mấy phát đã hổng một lỗ to, Trũi ẩy đất, đổ bẹp cậu Kiến gác, thế là ung dung về.
앞다리로 몇 번 긁어내자 커다란 구멍이 뚫렸고, 트루이는 흙을 밀어젖혀 보초 서던 개미를 깔아뭉개버린 뒤 유유히 돌아왔다.
Trũi về nói trông thấy bọn cứu viện kéo đến nhiều lắm.
돌아온 트루이의 말에 따르면 구원병들이 엄청나게 몰려오고 있다고 한다.
Chao ôi! Giảng giải thế nào cho những gã đương nóng đầu nghe được.
아아! 잔뜩 화가 난 저들에게 대체 어떻게 설명을 해야 알아듣겠는가.
Mùa xuân, ngày 84 – Như Trũi biết, bữa nay thêm viện binh: Kiến Bọ Dọt.
봄, 제84일 – 트루이의 말대로 오늘은 집게개미(Kiến Bọ Dọt)라는 증원군이 가세했다.
Kiến Bọ Dọt to, khoẻ hơn tất cả.
집게개미들은 다른 어떤 개미들보다 크고 힘이 셌다.
Chỗ nào cũng có Kiến Bọ Dọt chen vào, đi oai phong như bò tót đầu đàn.
어디를 가나 집게개미들이 끼어들었는데, 마치 우두머리 들소처럼 위풍당당하게 행진했다.
Lại có Kiến Kim và Kiến Cánh.
거기에 바늘개미와 날개개미까지 가세했다.
Đương đánh nhau hăng, bỗng Xiến Tóc đứng sững lên, giương thẳng cả hai cặp cánh lụa, co múa rối rít chân và kêu rống từng hồi ghê rợn.
한창 격렬한 전투 중에 갑자기 시엔똑 아저씨가 우뚝 서더니, 두 쌍의 비단 날개를 곧게 펴고 다리를 허우적거리며 소름 끼치는 괴성을 지르기 시작했다.
Thì ra, thấy Xiến Tóc mình đồng da sắt, đấm đánh bác ta như đấm đánh bị bông, cứ trơ ra, chẳng mùi gì, Kiến Bọ Dọt lập mưu chui vào trong vành cổ Xiến Tóc.
알고 보니, 시엔똑 아저씨의 몸이 무쇠처럼 단단하여 아무리 공격해도 솜방망이 치듯 타격이 없자, 영리한 집게개미들이 아저씨의 목덜미 틈새로 파고들어 간 것이었다.
Khắp người Xiến Tóc đều bọ giáp sắt kể cả các khấc bụng.
아저씨의 몸은 배 마디까지 온통 철갑으로 덮여 있었다.
Chỉ có chỗ khe cổ rất hiểm là chỗ phạm. Bị đâm vào đó, Xiến Tóc có thể đứt cổ.
오직 목 주변의 틈새만이 치명적인 약점이었는데, 그곳을 찔리면 목이 잘릴 수도 있는 위험한 상황이었다.
Chúng tôi khiêng Xiến Tóc chạy lùi.
우리는 아저씨를 들쳐메고 뒤로 후퇴했다.
Châu Chấu Voi rịt cho bã thuốc, buộc lại.
조주보이가 약초를 짓이겨 상처를 처치하고 싸매주었다.
Cổ Xiến Tóc như quàng cái phu la chàm.
아저씨의 목은 마치 짙은 남색 스카프를 두른 것처럼 부풀어 올랐다.
Không chết, nhưng vết thương tấy, sưng vù.
죽지는 않았으나 상처가 욱신거리고 퉁퉁 부어올랐다.
Xung quanh đánh nhau, Xiến Tóc ngồi khư khư một xó.
주변에서 싸움이 벌어지는 동안, 아저씨는 구석에 처박혀 꼼짝도 못 하고 앉아 있었다.
Tuy vậy, cũng chẳng ai làm gì nổi.
그럼에도 누구 하나 아저씨를 어쩌지 못했다.
Thấy Xiến Tóc ốm, có cậu Kiến tưởng bở, xông vào, Xiến Tóc giơ chân ra đỡ.
아저씨가 아픈 것을 보고 만만하게 여긴 개미 하나가 덤벼들자, 아저씨가 다리를 들어 막아냈다.
Chân Xiến Tóc cứng như cây tre đực, Xiến Tóc cứ để yên cho Kiến cắn.
아저씨의 다리는 단단한 대나무처럼 견고했고, 아저씨는 개미가 물도록 그냥 내버려 두었다.
Chẳng ăn thua mà lại có thể gãy răng, kiến chạy.”
아무리 물어봐야 이빨만 부러질 판이니, 개미는 결국 줄행랑을 쳤다.”
<Dế Mèn Phiêu Lưu Ký> (귀뚜라미 여행기) 제9장의 결말 부분입니다. 오해로 시작된 개미들과의 전쟁이 ‘인간 소녀들’이라는 거대한 자연재해(?)를 거쳐 화해와 연대로 마무리되는 극적인 장면입니다. 요청하신 형식대로 번역해 드립니다.
Trên đây là những ngày gian nan và rắc rối của chúng tôi.
이상은 우리들이 겪었던 고난과 복잡한 나날들에 대한 기록입니다.
Và còn lôi thôi nữa.
상황은 더욱 뒤엉켜만 갔습니다.
Mỗi buổi sớm, trông trước mặt, ngó sau lưng chỉ thấy man mác lớp lớp những thành lũy mà Kiến Lửa, Kiến Gió mới đắp thêm, vòng vây càng dày nữa.
매일 아침 앞뒤를 둘러보면 불개미와 바람개미들이 새로 쌓아 올린 성벽들이 층층이 에워싸고 있었고, 포위망은 갈수록 두터워졌습니다.
Đoàn Kiến Đen, Kiến Gió thông tin thì lảng vảng đi ngoài cùng.
정보를 담당하는 검정개미와 바람개미 부대는 대열의 가장 바깥쪽을 배회했습니다.
Chúng chạy, những cái chân lênh khênh phóng đi.
그들은 길쭉한 다리를 휘저으며 빠르게 달려나갔습니다.
Chúng thông hiệu.
그들은 서로 신호를 주고받았습니다.
Anh này đương chạy liên liến, gặp anh khác, đứng dừng phắt, gí râu móc vào nhau ấy thế là hai bên đã báo cho nhau đủ tin hỏa tốc, rồi lại chạy biến.
한 녀석이 쉴 새 없이 달리다 다른 전령을 만나면 갑자기 우뚝 서서 더듬이를 맞대는데, 그것만으로도 서로에게 긴급한 소식을 모두 전달하고는 다시 번개처럼 사라졌습니다.
Cứ thế truyền mãi.
소식은 그런 식으로 끊임없이 전달되었습니다.
Tình hình trước mắt thì quả gay go thật.
눈앞의 상황은 참으로 막막하기만 했습니다.
Chúng tôi biết có Kiến Chúa trong vùng này, cần phải gặp Kiến Chúa.
우리는 이 지역에 개미 여왕이 있다는 것을 알고 있었고, 반드시 그녀를 만나야 했습니다.
Muốn gặp nhưng không biết đích xác chỗ nào.
만나고 싶었지만 정확히 어디에 있는지 알 길이 없었습니다.
Đâu cũng coi chúng tôi là thù mà Kiến Chúa thì ở trong thành kiên cố, chúng tôi không biết tìm đến chỗ nào được.
어딜 가나 우리를 적대시했고, 여왕은 견고한 성채 안에 머물고 있었기에 우리는 어디로 가야 할지 갈피를 잡을 수 없었습니다.
Tôi bàn cố thủ đây, còn Trũi thì vượt vòng vây ra ngoài tìm về vùng cỏ may gọi các bạn Chuồn Chuồn.
나는 이곳을 사수하기로 하고, 트루이(땅강아지)에게 포위망을 뚫고 나가 가마이 풀밭에 있는 잠자리 친구들을 불러오라고 제안했습니다.
Các bạn Chuồn Chuồn đến đây sẽ giúp chúng ta được nhiều: tải lương, đưa tin, đi liên lạc.
잠자리들이 온다면 식량 운반, 정보 전달, 연락책 역할까지 우리에게 큰 도움이 될 것이기 때문입니다.
Chuồn Chuồn sẽ bay đi tìm gọi Kiến Chúa.
잠자리들이 날아가 개미 여왕을 찾아 부를 것입니다.
Chuồn Chuồn vốn tháo vát.
잠자리들은 본래 수완이 좋기 때문입니다.
Các loài Chuồn Chuồn suốt đời kiếm ăn nơi đầu sông cuối bãi, những tay Chuồn Chuồn giang hồ ấy mà mở hết tốc lực phi cơ thì phải biết.
평생을 강가와 벌판에서 먹이를 찾으며 살아온 그 강호의 잠자리들이 비행기 같은 속력을 내기 시작하면 실로 대단할 것입니다.
Nửa đêm. Trũi lẻn được ra ngoài.
한밤중, 트루이는 몰래 밖으로 빠져나가는 데 성공했습니다.
Trong khi ấy, vòng vây càng ngày càng thắt chặt thêm.
그사이 포위망은 날이 갈수록 더욱 옥죄어 왔습니다.
Vì Kiến đã tin cho Kiến Chúa rằng bọn ngỗ nghịch chúng tôi ở đâu đến reo rắc sự phá hoại.
개미들이 여왕에게 우리 같은 무뢰한들이 어디선가 나타나 파괴를 일삼고 있다고 보고했기 때문입니다.
Kiến Chúa tức giận ra xem, thấy đúng hào lũy đồn ải tan hoang như lời báo.
노한 개미 여왕이 직접 나와 보니 과연 보고대로 해자와 보루들이 처참하게 부서져 있었습니다.
Kiến Chúa ra lệnh cho cả vùng vây hãm cho kỳ đến chúng tôi chết đói hay phải bỏ chạy đi mới thôi.
여왕은 우리가 굶어 죽거나 도망칠 때까지 온 지역을 봉쇄하라는 명령을 내렸습니다.
Bất cứ kẻ nào, cả đến những tay bọ hung sừng sỏ, lỡ chân lạc vào tổ kiến, thường đều có đi không có về, nếu không cũng sợ chết khiếp suốt đời.
악명 높은 소똥구리라 할지라도 실수로 개미굴에 발을 들이면 살아 돌아오지 못하거나, 평생 죽음의 공포에 떨며 살아야 했습니다.
Sự hiểu lầm tai hại, càng tai hại.
참으로 치명적인 오해는 갈수록 깊어만 갔습니다.
Chẳng bao lâu, Trũi đã trở lại, kìa!
머지않아, 보십시오! 트루이가 돌아왔습니다.
Trũi báo tin các bạn sắp đến. Chúng tôi sẽ có cứu viện. Chúng tôi vẫn tin tưởng.
트루이는 친구들이 곧 도착할 것이며 구원병이 올 것이라고 전했습니다. 우리는 여전히 희망을 가졌습니다.
Nhưng sao chưa thấy vân mòng! Mà vòng vây kiến thì mỗi lúc một chật ních thêm.
하지만 어찌 된 일인지 기미조차 보이지 않았고, 개미들의 포위망은 매 순간 더욱 빽빽해졌습니다.
Kiến ở đâu kéo về đông đặc đen sẫm như dòng sông mật quấn quanh trước mặt sau lưng chúng tôi.
어디선가 몰려온 개미들이 마치 검은 꿀의 강물처럼 우리 앞뒤를 가득 메웠습니다.
Ôi! Chẳng nhẽ chịu chết ở đất này?
아! 정녕 이 땅에서 죽음을 맞이해야 한단 말입니까?
Bạn đọc yêu quý! Có một biến đổi – tôi hay nói biến đổi quá, nhưng thật có một biến đổi, tôi không biết nói thế nào khác.
친애하는 독자 여러분! 어떤 변화가 일어났습니다. 제가 ‘변화’라는 말을 너무 자주 쓰지만, 정말로 변화가 생겼고 달리 표현할 길이 없습니다.
Xin để tập sách xuống đó, lặng nghe tôi kể cho một chuyện khác.
잠시 책을 내려놓고, 제가 들려주는 다른 이야기에 귀를 기울여 보십시오.
Thoạt nghe bạn sẽ cho tôi là dài lời, nhưng kỳ tình câu chuyện có quan hệ đến cái cảnh đương gay go như lửa cháy này.
처음에는 제 말이 길다고 느끼시겠지만, 사실 이 이야기는 불길처럼 긴박한 지금의 상황과 밀접한 관련이 있습니다.
Có năm cô bé học trò, tên là cô Mai, cô Điển, cô Mến và hai cô nữa, không nhớ tên.
마이, 디엔, 멘이라는 이름의 소녀들과 이름을 잊어버린 다른 두 소녀까지, 다섯 명의 여학생이 있었습니다.
Cũng như bọn các cậu Nhớn, cậu Bé, cậu Thịnh ngày trước ấy mà, bạn lúc để chỏm thì nhều lắm, ai nhớ hết tên được.
예전의 년, 베, 팅 일행처럼 어릴 적 친구들은 워낙 많으니 이름을 다 기억하기란 어려운 법이지요.
Các cô đi học, ngày chủ nhật được nghỉ thì đi chơi. Năm cô học trò đi chơi, có năm cô học trò đi chơi.
그 소녀들은 학교에 다녔고, 일요일 휴일을 맞아 놀러 나갔습니다. 다섯 명의 여학생이 산책을 나선 것입니다.
Các cô học trò đi chơi đôi khi khác kiểu các cậu học trò.
여학생들의 나들이는 때때로 남학생들과는 그 방식이 달랐습니다.
Cũng chơi ngày chủ nhật nhưng các cô rủ nhau vừa đi chơi vừa kiếm củi.
똑같은 일요일 나들이였지만, 소녀들은 놀면서 땔감도 줍기로 했습니다.
Củi sưởi trong mùa đông tới, củi thổi cơm.
다가올 겨울의 난방용 땔감이자 밥을 지을 때 쓸 땔감이었습니다.
Một cô nói thêm: hái hoa. Mùa này, bao nhiêu là hoa.
한 소녀가 꽃도 꺾자고 덧붙였습니다. 이 계절은 꽃이 만발하는 시기였으니까요.
Đến đỗi trên đầu cây chua me đất bé bỏng và gày gùa cũng đội cái mũ hoa tim tím cơ mà.
작고 가녀린 괭이밥조차 머리 위에 보랏빛 꽃 모자를 쓰고 있을 정도였으니 말입니다.
Vậy thì chúng ta đi chơi, kiếm củi và hái hoa.
그렇게 그들은 놀며, 땔감을 줍고 꽃을 꺾으러 떠났습니다.
Các cô bước qua nhịp cầu bắc bằng hai cây tre ngang lạch nước sang trái đồi bên này.
소녀들은 개울 위에 대나무 두 그루로 만든 다리를 건너 이쪽 언덕으로 넘어왔습니다.
Trái đồi bên ấy đương bay nhiều Bướm Vàng, Bướm Trắng, phấp phới lẫn với hoa hồng bụi đỏ rực và hoa tầm xuân hồng nhạt.
그 언덕에는 노랑나비와 흰나비들이 붉은 장미 넝쿨과 연분홍 찔레꽃 사이를 어지러이 날아다니고 있었습니다.
Cả bọn vừa hát vừa cười, nhảy chân sáo lên đồi.
일행은 노래하고 웃으며 가벼운 발걸음으로 언덕을 올랐습니다.
Góc đồi đó là nơi bọn tôi và kiến đương giã nhau túi bụi mấy hôm nay.
그 언덕 모퉁이는 바로 우리와 개미들이 며칠째 치열하게 싸우고 있던 곳이었습니다.
Nghe tiếng động lạ, ngẩng lên thấy những bàn chân người đương thoăn thoắt tới.
낯선 소리에 고개를 들어보니 인간의 발이 빠르게 다가오고 있었습니다.
Đối với chúng tôi thì những bàn chân ấy ví như một trận mưa đá, toàn đá tảng, những hòn đá tảng to thật to choảng tôi.
우리에게 그 발들은 마치 거대한 바위들이 쏟아지는 우박과도 같았습니다. 나를 짓누르려는 엄청나게 큰 바위 덩어리들이었습니다.
Không làm thế nào chống được, phải nhanh chân không thì chết mất ngáp!
도저히 저항할 방법이 없었으니, 서둘러 피하지 않으면 꼼짝없이 죽을 판이었습니다!
Tôi hô lớn: – Anh em ơi! Chạy đi!
나는 크게 외쳤습니다. “형제들아! 도망쳐!”
Bọn tôi nhất tề bay giạt vào nấp trong bụi cỏ ấu.
우리는 일제히 마름 풀숲 속으로 날아가 몸을 숨겼습니다.
Các cô vừa tới, vô ý, đương nghếch mắt và với tay rón rén hái hoa tầm xuân.
도착한 소녀들은 아무것도 모른 채 눈을 높이 뜨고 조심스레 손을 뻗어 찔레꽃을 꺾으려 했습니다.
Thế là bàn chân loay hoay rồi giẫm vào tổ kiến.
그러다 보니 발을 이리저리 움직이다 개미집을 밟고 말았습니다.
Kiến vốn cục tính, như chúng ta đã biết.
우리가 알다시피 개미는 본래 성격이 급하고 사납습니다.
Thấy động đến là kháng cự liền, bất cứ ai.
누구든 자신들을 건드리면 즉시 반격에 나섭니다.
Phải đương cơn va chạm kịch liệt với bọn chúng tôi, thế là kiến cong đít nhọn hoắt lên, nhè chân các cô bé mà cắn.
우리와 격렬하게 대치 중이던 개미들은 뾰족한 꽁무니를 치켜들고는 소녀들의 발을 마구 물어뜯기 시작했습니다.
Cậu Kiến Lửa thì leo lên ngoặp hai làn răng nanh dữ dội vào bắp chân.
불개미 녀석들은 종아리까지 기어 올라가 날카로운 턱으로 사납게 물었습니다.
Hai cô giật mình, buông cành hoa tầm xuân, nhảy choi choi lên kêu, ba cô bạn đăng kia nghe tiếng kêu vội chạy tới.
깜짝 놀란 두 소녀는 찔레꽃 가지를 내던지고 비명을 지르며 펄쩍펄쩍 뛰었고, 저만치 있던 세 친구가 비명을 듣고 급히 달려왔습니다.
Một cô nhón chân vào dắt hai cô bạn đương lúng túng ra khỏi đám kiến rồi đưa xuống suối rửa chân.
한 소녀가 발을 조심하며 당황해하는 두 친구를 개미 떼 속에서 끌어낸 뒤, 개울로 데려가 발을 씻겨주었습니다.
Nước mát làm nọc kiến dịu đi.
시원한 물이 개미 독의 통증을 달래주었습니다.
Hai cô nữa, mỗi người cầm một chiếc nón.
다른 두 소녀는 각자 모자를 하나씩 들었습니다.
Họ tức tốc chạy xuống vục nước suối lên đổ ào ào vào vùng tổ kiến.
그들은 급히 아래로 달려가 개울물을 퍼 올리더니 개미집 쪽으로 마구 쏟아부었습니다.
Những nón nước xối như trời đổ xuống hàng nghìn cây nước khủng khiếp làm ngập lụt khắp thế gian.
모자에서 쏟아지는 물줄기는 마치 하늘이 무너져 내리는 듯 수천 개의 거대한 물기둥이 되어 온 세상을 집어삼킬 듯한 대홍수를 일으켰습니다.
Thành quách, nhà cửa, của cải và dân cư, trong nháy mắt, trôi vèo mất cả.
성채와 집, 재산과 주민들이 순식간에 모두 휩쓸려 내려갔습니다.
Chỉ một lát, quang cảnh chỗ đánh nhau ban nãy đã đổi ra khoảng đất trơ trụi, lênh láng nước.
잠시 후, 아까까지 싸움이 벌어지던 곳은 물이 흥건한 황폐한 땅으로 변해버렸습니다.
Hàng nghìn hàng vạn kiến bị trôi suối đương ngoi vẫy trong dòng nước.
개울로 떠내려간 수만 마리의 개미들이 물결 속에서 허우적거리고 있었습니다.
Bây giờ là buổi chiều rồi.
어느덧 오후가 되었습니다.
Các cô bé học trò đi kiếm củi và hái hoa về từ lâu.
땔감을 줍고 꽃을 꺾던 소녀들은 이미 오래전에 돌아갔습니다.
Đối với các cô, không có gì đáng nghĩ, vì mỗi cô đã làm đủ kết quả, vác về một bó củi với những cụm tầm xuân hoa phơn phớt hồng nhạt xinh.
소녀들에게는 대수로운 일이 아니었습니다. 각자 충분한 땔감 묶음과 예쁜 연분홍 찔레꽃 다발을 챙겨 돌아갔으니까요.
Nhưng ở vùng kiến hôm ấy thì phải nói rằng trận bão lụt qua từ lâu rồi mà tất cả còn bàng hoàng.
하지만 그날 개미들의 영토는 폭풍우가 지나간 지 한참이 지났음에도 여전히 큰 충격에 빠져 있었습니다.
Chập tối, trăng lên, trăng cuối mùa xuân, sáng trong và dịu dàng lạ lùng.
해 질 녘, 달이 떠올랐습니다. 늦봄의 달은 신비로울 정도로 맑고 부드러웠습니다.
Chúng tôi đứng nép trong bụi cỏ, dưới chân nước ướt nham nháp.
우리는 발밑의 물기가 축축하게 느껴지는 풀숲 사이에 몸을 숨기고 서 있었습니다.
Lúc bị dội nước, nước chỉ ào qua bụi cỏ.
물이 쏟아졌을 때, 다행히 풀숲 쪽으로는 물이 휩쓸고 지나가기만 했습니다.
Cũng may, nếu chúng tôi bị trúng những cây nước từ nón dội xuống chắc cũng trôi băng ra suối rồi.
운이 좋았습니다. 만약 모자에서 쏟아지는 물줄기를 정면으로 맞았다면 우리도 개울로 떠내려갔을 것입니다.
Trước mặt chúng tôi, một vùng im lặng ghê rợn.
우리 앞에는 오직 소름 끼치는 정적만이 감돌았습니다.
Chúng tôi suy nghĩ đến những khủng hoảng thiên nhiên đầy rẫy quanh mình.
우리는 우리를 둘러싼 자연의 거대한 재앙들에 대해 깊이 생각했습니다.
Bỗng đâu Chuồn Chuồn bay đến trong ánh trăng.
그때 달빛 속에서 잠자리들이 날아왔습니다.
Đấy là đàn Chuồn Chuồn Tương bay rất đông, cánh quệt cả vào bóng mặt trăng.
그것은 수많은 된장잠자리 무리였는데, 그 날개짓이 달 그림자에 닿을 듯했습니다.
Cánh nâu chấm đen.
검은 점이 박힌 갈색 날개를 가진 녀석들이었습니다.
Chuồn Chuồn Tương cũng yếu và không bao giờ bay đêm, tuy vậy, Chuồn Chuồn nhiều tình cảm nhất, khi nghe Trũi kể vầy cái khó khăn nguy hiểm chúng tôi gặp phải dọc đường, Chuồn Chuồn Tương đã bay đi ngay, bay thong thả, nhưng bay luôn và suốt đêm không nghỉ nên đến sớm nhất.
된장잠자리는 체구도 작고 밤에는 비행하지 않지만, 정이 무척 많았습니다. 트루이로부터 우리가 겪고 있는 위험과 난관을 듣자마자 그들은 즉시 길을 나섰고, 비록 느렸지만 밤새 쉬지 않고 날아와 가장 먼저 도착한 것입니다.
Bọn Chuồn Chuồn Ngô, Chuồn Chuồn Chúa cậy sức khoẻ, họ cũng đi ngay đấy, nhưng còn nhởn nhơ đâu chưa tới.
힘을 과시하는 왕잠자리나 장수잠자리들도 곧장 출발은 했겠지만, 어디선가 빈둥거리느라 아직 도착하지 않았습니다.
( Có khi lạc đường cũng nên – các cậu láu táu nhanh nhảu đoảng mà! ).
** (아마 길을 잃었을지도 모릅니다. 녀석들은 성미가 급하고 덜렁대니까요!) **
Chuồn Chuồn Tương bay tới trong ánh trăng, bốn cánh rập rờn, nhịp nhàng, đương bay bỗng quẫy lại, rất nhanh và đẹp mát.
된장잠자리들은 달빛 속에서 네 날개를 리듬감 있게 펄럭이며 날아왔고, 비행 중에 갑자기 방향을 트는 모습이 아주 빠르고 아름다웠습니다.
Họ lượn đi lượn lại mấy vòng trên ngọn cỏ ấu tìm chúng tôi.
그들은 우리를 찾기 위해 마름 풀 위를 몇 바퀴나 맴돌았습니다.
Chuồn Chuồn Tương đã tới! Hoan hô các bạn!
“된장잠자리들이 왔다! 친구들아, 만세!”
Các anh ơi! – Bạn ơi! Hãy bay khắp đồi, các bạn hãy gọi to lên xem Kiến Chúa ở đâu mau mua ra cho chúng mình hỏi chuyện.
“형님들! 친구들아! 온 언덕을 돌며 개미 여왕이 어디 있는지 크게 불러주렴. 그녀를 모셔 와서 우리가 대화할 수 있게 해줘.”
Chuồn Chuồn Tương lại thong thả bay đi trong từng làn ánh trăng chảy lênh láng trên mặt lá, sáng đẹp như ban ngày.
된장잠자리들은 잎사귀 위로 낮게 흐르는 달빛 속을 다시 유유히 날아갔습니다. 밤은 대낮처럼 밝고 아름다웠습니다.
Trăng sáng gây cho lòng ta một cảm tưởng dịu dàng và yêu đời – dù đang trong cảnh đau khổ.
밝은 달빛은 고통스러운 처지에서도 마음속에 부드러움과 삶에 대한 애착을 불러일으켰습니다.
Lát sau Chuồn Chuồn Tương quay trở lại, nói to: – Thấy Kiến Chúa rồi.
잠시 후 된장잠자리가 돌아와 크게 외쳤습니다. “개미 여왕을 찾았어!”
Thế sao? – Kiến Chúa hẹn sáng mai đi gặp.
“정말이야?” “내일 아침에 만나기로 약속했어.”
Ở đâu? – Chúng em sẽ dẫn đường.
“어디서?” “우리가 길을 안내할게.”
Sớm hôm sau, Chuồn Chuồn Tương đã rập rờn bay từ lúc còn tờ mờ.
다음 날 이른 새벽, 된장잠자리들은 벌써 날개를 펄럭이며 날아올랐습니다.
Các bạn trong bọn đã ủy cho tôi làm sứ giả tối quan trọng hôm đó.
일행은 나를 그날의 가장 중요한 사절로 임명했습니다.
Trên trời, Chuồn Chuồn Tương bay tầng trên tầng dưới, liệng cao liệng thấp, chao cánh vừa múa vừa bay như mừng như giỡn.
하늘 위에서 된장잠자리들은 위아래로 층을 이루며 높낮이를 조절해 날았고, 마치 기뻐하며 장난치듯 날개를 흔들며 춤추듯 비행했습니다.
Tiếng đồn Chuồn Chuồn Tương hồn nhiên và yêu đời bấy lâu quả không sai!
된장잠자리가 천진난만하고 삶을 사랑한다는 소문은 과연 틀린 말이 아니었습니다!
Tôi ngắt một chiếc lá tre để che nắng và cũng để giơ cao lên đầu, tỏ dấu hoà bình; và tôi bước sâu vào làng xóm kiến.
나는 햇볕을 가릴 겸, 평화의 상징으로 머리 위로 높이 들기 위해 대나무 잎 하나를 꺾어 들고 개미 마을 깊숙이 발을 들였습니다.
Phải như mọi khi, có cầm mấy cái lá tre mang hình ảnh yên lành của lũy tre xanh ngõ xóm thì bọn kiến cục tính kia cũng có thể lăn xả ra đả ngay.
평소 같았으면 마을 어귀의 평화로운 대나무 숲을 떠올리게 하는 잎을 들고 갔어도 성미 급한 개미들이 달려들어 공격했을 것입니다.
Nhưng sớm nay, đường ngang lối dọc cứ trống trơn.
하지만 오늘 아침, 길목마다 사방이 텅 비어 있었습니다.
Trong cảnh trơ trọi ấy, thế mà đã lổm ngổm những anh kiến xây dựng – Kiến Gió và Kiến Lửa, những tay thợ chăm chỉ và cần mẫn, có anh trôi suối bơi suốt đêm mới trở về được, mình còn ướt lướt thướt mà đã ra đào lũy mới.
그 황량한 풍경 속에서도 바람개미와 불개미 같은 건설 일꾼들이 꾸물꾸물 움직이고 있었습니다. 부지런한 그들은 개울에 떠내려갔다 밤새 헤엄쳐 돌아온 녀석도 있었는데, 몸이 흠뻑 젖은 채로 벌써 새 보루를 파고 있었습니다.
Nhẫn nại và chăm việc quá.
참으로 인내심 강하고 부지런한 이들이었습니다.
Mải miết cắm cúi làm, chẳng anh nào ngó ra.
자기 일에만 몰두하느라 누구 하나 나를 쳐다보지 않았습니다.
Sự gian khổ và chịu đựng còn in trên từng cái bóng kiến lủi thủi, đều đều vác đất.
고난과 인내의 흔적이 흙을 나르는 개미들의 고독하고 규칙적인 그림자마다 새겨져 있었습니다.
Và trông vào trong các lỗ, kiến còn kéo ra đi dòng dài tưởng không bao giờ ngớt.
구멍 안쪽을 들여다보니, 개미들이 끝없이 긴 줄을 지어 계속해서 나오고 있었습니다.
Kiến có thói quen đi một hàng, trước sau nghiêm ngặt.
개미들은 앞뒤 차례를 엄격히 지키며 한 줄로 가는 습관이 있습니다.
Sấm sét mưa gió khủng khiếp tưởng chết hết đêm qua, nhưng không phải, lúc nào kiến cũng kỷ luật nghiêm.
어젯밤의 무시무시한 폭풍우에 모두 죽었을 줄 알았건만, 개미들은 언제나처럼 엄격한 규율을 유지하고 있었습니다.
Và bao giờ kiến cũng có hai thành trì để ở.
개미들은 언제나 두 개의 성채를 가지고 있습니다.
Như đã biết lo xa. Một thành trên mặt đất và một ngầm dưới đất, có lỗ vào hang rất sâu.
미래를 대비할 줄 아는 그들은 지상 성채와 아주 깊은 굴로 연결된 지하 성채를 가졌습니다.
Bây giờ, trên mặt đất bãi cỏ trống, hàng vạn kiến bị trôi xuống suối mới tìm về được và hàng vạn kiến trong các lỗ các hang bò ra tấp nập và đắp thành lũy.
지금 지상의 빈터에는 개울에서 돌아온 수만 마리의 개미들과 굴속에서 기어 나온 수만 마리의 개미들이 북적이며 성벽을 쌓고 있었습니다.
Đông đặc, nhưng khác mấy hôm trước, không ai hằm hè, không ai chú ý tới tôi.
빽빽하게 모여 있었지만 며칠 전과는 달리 누구도 나를 위협하거나 주목하지 않았습니다.
ất cả lặng lẽ đều đặn tha đất, nhỏ bọt đắp lũy.
모두가 묵묵히 흙을 나르고 침을 뱉어 성벽을 쌓는 일에만 전념했습니다.
Chuồn Chuồn Tương chỉ đường cho tôi vào thẳng tận nơi Kiến Chúa.
된장잠자리는 개미 여왕이 있는 곳으로 나를 곧장 안내했습니다.
Chỗ lù lù xao ấy là bức tường kiên cố còn sót lại sau trận lụt.
저기 우뚝 솟은 곳이 홍수 이후에도 남은 견고한 벽이었습니다.
Đấy cũng là dinh lũy Kiến Chúa. Tôi xưng tên rồi vào. Hai Kiến Càng dẫn tôi đi.
그곳이 바로 개미 여왕의 관저였습니다. 나는 이름을 밝히고 안으로 들어갔습니다. 두 마리의 집게개미가 나를 인도했습니다.
Các hang lúc này đều vẫn xâm xấp nước. Tôi thấy bùn lấm ngang khoeo chân Chúa Kiến.
굴 안에는 여전히 물이 찰랑거리고 있었습니다. 나는 여왕의 다리 관절까지 진흙이 묻은 것을 보았습니다.
Chúa Kiến cũng đương làm.
개미 여왕 또한 일을 하고 있었습니다.
Bà Kiến Chúa tất tả khuân đất đắp lại bờ lũy cửa hang.
여왕은 분주하게 흙을 옮겨 굴 입구의 보루를 다시 쌓고 있었습니다.
Kiến Chúa lớn gấp đôi gấp ba Kiến Bọ Dọt, vẻ tháo vát và lanh lợi.
여왕은 집게개미보다 두세 배는 컸으며, 매우 영리하고 수완이 좋아 보였습니다.
Cái đầu đỏ bóng như gỗ gụ, lấp ló trong chiếc khăn vuông lụa nâu nhỏ.
붉은 머리는 마호가니 나무처럼 윤이 났고, 작은 갈색 비단 수건을 두른 듯한 모습이었습니다.
Chân dài và cao, nhanh nhẹn lắm.
다리는 길고 높았으며 매우 민첩했습니다.
Dưới đuôi, đeo thanh kiếm nhọn sáng như cây kim.
꽁무니 아래에는 바늘처럼 날카롭고 빛나는 검을 차고 있었습니다.
Đôi mắt lúc nào cũng long lanh rực rỡ đụng đậy nhô ra như hai mắt cua.
게의 눈처럼 툭 튀어나온 두 눈은 언제나 영롱하게 빛나며 기민하게 움직였습니다.
Trông thấy tôi, Kiến Chúa nói: – Chúng tôi xưa nay chỉ biết làm ăn, sao các ông độc ác đến sinh sự rồi lại dội nước gây lụt lột đánh đuổi chúng tôi đi?
나를 보자 여왕이 말했습니다. “우리는 예부터 오직 일만 하며 살아왔는데, 당신들은 어찌 그리 독하게 시비를 걸고 물을 끼얹어 홍수를 일으켜 우리를 쫓아내려 하는가?”
Tôi ngạc nhiên.
나는 깜짝 놀랐습니다.
Câu chuyện tai nọ sang tai kia cứ lạc đi như thế đấy.
이야기가 입에서 입으로 전달되며 이렇게나 와전된 것이었습니다.
Bọn Kiến lầm lì đã gây sự thì có.
먼저 시비를 건 쪽은 무뚝뚝한 개미들이었는데 말입니다.
Tôi bèn trình bày đầu đuôi câu chuyện cho Kiến Chúa nghe, chúng tôi không gây sự, chúng tôi chỉ vụng về không biết hỏi han để hiểu nhầm.
나는 여왕에게 사건의 전말을 설명했습니다. 우리가 시비를 건 것이 아니라, 단지 서툴러서 제대로 묻지 못해 오해가 생긴 것이라고 말입니다.
Còn việc lụt lội việc của người ta, không nên tưởng chúng tôi xui mấy cô bé học trò làm ra mưa gió.
또한 홍수는 인간들의 일이지, 우리가 소녀들에게 비바람을 일으키라고 시킨 것이 아니라고 강조했습니다.
Rồi tôi nói: – Chị đây lịch lãm, hiểu biết rộng rãi, rất mong thông cảm chúng tôi lặn lội khó nhọc, không quản đi sông về núi, chỉ vì chúng tôi nghĩ đến những việc ích lợi ngoài tấm thân mình.
그리고 덧붙였습니다. “여왕님은 기품이 있고 견문이 넓으시니, 저희가 자신의 안위보다는 세상을 위한 이로운 일을 생각하며 산 넘고 물 건너 이 고생을 하며 온 뜻을 부디 헤아려 주시길 바랍니다.”
Nghe tôi nói xong, Kiến Chúa khóc mà rằng: – Thưa anh, em đã lầm.
내 말을 다 듣고 난 개미 여왕은 눈물을 흘리며 말했습니다. “오라버니, 제가 오해했습니다.”
Em chỉ nghe nói có kẻ cướp đến phá nhà.
“집을 부수러 온 강도들이 있다는 말만 들었을 뿐입니다.”
Mà anh biết, chúng em không bao giờ để ai bắt nạt.
“아시다시피 저희는 누구에게도 괴롭힘당하며 살지 않습니다.”
Dù là thằng cướp hung dữ nhất có đi qua tổ kiến thì kiến vẫn đốt cho rất đau đánh đuổi đi như thường.
“아무리 흉악한 강도라도 개미집을 지나가면 고통스럽게 물어뜯어 쫓아버리는 게 저희 방식이니까요.”
Thế ra không phải các anh đến phá tổ kiến.
“당신들이 집을 부수러 온 것이 아니었군요.”
Chao ôi, việc làm của các anh to lớn khắp thế gian, quý báu thay! Sức chúng em giúp rập được bao nhiêu, xin chẳng từ nan.
“아아, 당신들이 하시는 일은 온 세상에 걸친 참으로 거창하고 귀중한 일입니다! 저희의 힘이 닿는 데까지 기꺼이 돕겠습니다.”
Tôi cười, sung sướng cảm động: – Các bạn kiến sẽ làm được tất cả, làm được rất nhiều, thế nào chúng ta cũng thành công.
나는 기쁘고 감격하여 웃으며 말했습니다. “개미 친구들은 모든 것을 할 수 있고, 아주 큰 힘이 될 것입니다. 우리는 반드시 성공할 것입니다.”
Tôi kể Kiến Chúa nghe những nơi mà Châu Chấu Voi đã đi qua mục đích chúng tôi đến đất Kiến.
나는 여왕에게 조주보이가 거쳐온 곳들과 우리가 개미 땅에 온 목적을 들려주었습니다.
Kiến Chúa gật đầu khâm phục có vẻ nghĩ ngợi khi hình dung ra cái việc quan trọng mà họ sắp ghé vai gánh vác.
여왕은 감탄하며 고개를 끄덕였고, 자신들이 짊어지게 될 중대한 과업을 떠올리며 생각에 잠긴 듯 보였습니다.
Ngay lúc ấy, Kiến Chúa cho mời cả Trũi, cả Xiến Tóc các bạn Châu Chấu voi vào.
그 즉시 여왕은 트루이와 시엔똑, 그리고 조주보이 친구들을 모두 불러들였습니다.
Cũng ngay lúc ấy, câu chuyện quan trọng đã lọt ra.
동시에 이 중대한 소식은 밖으로 퍼져 나갔습니다.
Các bạn Kiến nhanh thế, cả các làng mạng, hang ổ, thành luỹ ở những nơi đương xây dựng đều đã biết đầy đủ câu chuyện mà Kiến Chúa đương bàn bạc với chúng tôi.
개미들은 참으로 빨랐습니다. 모든 마을과 굴, 성채, 그리고 건설 현장에 이르기까지 여왕이 우리와 논의한 내용이 순식간에 퍼졌습니다.
Đâu đâu cũng bàn tán sôi nổi, tan hẳn vẻ buồn u ám như lúc tai hoạ hôm qua.
어디서나 활발한 논의가 이루어졌고, 어제의 재앙으로 인한 우울한 분위기는 완전히 사라졌습니다.
Chúng tôi còn đương trò chuyện, các bạn kiến ở các hang kéo đến mỗi lúc một nhiều, bỗng nghe ầm ầm bốn phiá chân trời.
우리가 대화를 나누는 동안 각 굴에서 개미들이 점점 더 많이 모여들었는데, 갑자기 사방 지평선에서 웅성거리는 소리가 들려왔습니다.
Thì ra cứu viện của chúng tôi do Trũi nhờ các tay Chuồn Chuồn giang hồ bay đi gọi, đã tới.
알고 보니 트루이가 강호의 잠자리 전령들을 통해 부른 우리의 구원병들이 도착한 것이었습니다.
Rợp trời các loại phi cơ Chuồn Chuồn.
하늘은 온갖 종류의 잠자리 비행기들로 가득 덮였습니다.
Đầy mặt đất những Châu Chấu, Bọ Ngựa, Bọ Muỗm.
지상에는 메뚜기, 사마귀, 여치들이 가득했습니다.
Và cả cái xóm lầy lội những Rắn Mòng, Ênh ương, Nhái Bén, Cóc, Ếch…
그리고 웅덩이 마을의 물뱀, 맹꽁이, 청개구리, 두꺼비, 개구리들까지…
Ếch ồm ộp, Cóc kèng kẹc, Chẫu Chàng chằng chuộc. Ênh ương uôm oạp.
개구리는 개굴개굴, 두꺼비는 꺽꺽, 청개구리는 개골개골, 맹꽁이는 맹꽁맹꽁 소리를 냈습니다.
Bọn có càng thì khua càng gõ mõ. ầm cả lên.
다리가 있는 녀석들은 다리를 두드려 북소리를 내며 소란을 피웠습니다.
Chưa hết. Trong lòng suối dưới chân đồi, các loài Cá chú Rắn Mòng cũng đông đủ đi giúp chúng tôi.
그게 끝이 아니었습니다. 언덕 아래 개울에서는 물고기들과 물뱀들도 우리를 돕기 위해 모두 모였습니다.
Đàn Săn Sắt múa đuôi cờ lên tung toé mặt nước.
버들붕어 무리는 꼬리 지느러미를 흔들며 물보라를 일으켰습니다.
Những anh Cua Núi mắt lồi đen kịt như cái tàu bò, lịch kịch lên bờ, đi tìm cứu chúng tôi.
소달구지처럼 커다랗고 검은 눈이 툭 튀어나온 산게들이 덜커덕거리며 뭍으로 올라와 우리를 구하러 왔습니다.
Khi các bạn tới, đã thấy trên mặt đất không phải là cảnh xô xát nữa mà cả làng Kiến kéo ra chào hỏi niềm nở lễ phép.
친구들이 도착했을 때, 땅 위에는 더 이상 싸움의 흔적은 없었고 개미 마을 전체가 나와 정중하고 따뜻하게 그들을 맞이하고 있었습니다.
Một quang cảnh chan hoà thân ái diễn ra khắp vùng đồi đương mùa hoa tầm xuân, đến gió thổi cũng đỏ hồng cả không khí.
찔레꽃이 만발한 언덕 위로 화기애애한 분위기가 넘쳐흘렀고, 부는 바람조차 분홍빛 기운으로 가득한 듯했습니다.
Tôi nói ra mấy câu kể lại rồi đọc lời hịch mà chúng tôi vừa thảo ra để cổ động thế giới đại đồng “muôn loài cùng nhau kết anh em” thì họ reo ầm ầm, tất cả lại đâu kéo về đấy, vừa đi vừa nhảy múa vui chơi.
나는 그간의 사정을 설명하고 “만물이 형제가 되자”는 대동 세상을 부르짖는 격문을 낭독했습니다. 그러자 모두가 함성을 질렀고, 각자 춤추고 노래하며 자신들의 자리로 돌아갔습니다.
Chúng tôi giã từ đất Kiến.
우리는 개미 땅을 떠났습니다.
Cảm động quá, đi mấy ngày, lại mấy ngày, rồi đi nhiều ngày nữa cũng thấy đâu đâu bàn tán công việc các loài bây giờ đã thành anh em.
감격스럽게도, 며칠을 더 가고 또 며칠을 가도 어디에서나 이제 모든 종족이 형제가 되었다는 이야기가 들려왔습니다.
Kiến thông tin tới tấp đi khắp hang cùng ngõ hẻm.
개미들은 구석구석 소식을 전하러 분주히 움직였습니다.
Kiến truyền tin! Kiến truyền tin!
개미가 소식을 전한다! 개미가 소식을 전한다!
Trên thế giới không chỗ nào không có Kiến – đâu có khí trời thì đấy có kiến ở, kiến đến đâu thì ở đấy biết tin vui lớn.
세상 어디에나 개미는 있습니다. 공기가 있는 곳이라면 어디든 개미가 살고 있고, 개미가 가는 곳마다 이 커다란 기쁜 소식이 전해졌습니다.
Chẳng bao lâu, cả mọi loài, từ rừng xuống biển, đều gửi thư nhắn tin về hoan ngênh hưởng ứng.
머지않아 숲에서 바다에 이르기까지 모든 생물이 환영과 지지의 메시지를 보내왔습니다.
Tất cả những nơi tôi đã đi qua, đều hoan hô hết cỡ.
내가 지나온 모든 곳에서 열렬한 환호가 터져 나왔습니다.
Cả cô Nhà Trò yếu đuối, các nàng Bướm Ve Sầu lười biếng trước kia cũng có thư.
연약한 집나방 소녀와 게을렀던 나비, 매미 아가씨들도 편지를 보내왔습니다.
Tiếng vang cuồn cuộn khắp trời đất! Thôi thế đã xong phần công việc quan trọng.
그 울림이 온 천지에 가득했습니다! 이제 중요한 과업은 일단락되었습니다.
Tôi nhẹ nhõm thở một hơi rõ dài.
나는 안도하며 길게 숨을 내뱉었습니다.
Mấy anh Kiến Kim ngượng thẹn vì đã hấp tấp choảng chúng tôi để sinh chuyện xích mích cuối cùng – vâng, câu chuyện xích mích cuối cùng đáng tiếc.
섣불리 우리를 공격해 마지막 불협화음을 일으켰던 바늘개미들은 무척 부끄러워했습니다. 네, 그것은 참으로 유감스러운 마지막 소동이었지요.
Từ đấy, các cậu Kiến Kim xấu hổ cứ lang thang kiếm ăn vơ vẩn ngoài đồng, không muốn giáp mặt ai nữa.
그날 이후 바늘개미들은 부끄러움에 누구와도 마주치려 하지 않고 들판을 배회하며 조용히 먹이를 찾게 되었답니다.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823




