Phần 17. 도전과 포기. 회색 미로 속의 내일
Thử thách và từ bỏ. Ngày mai trong mê cung xám xịt
“스무 살 때 대학에 합격했는데, 예술 전공이라는 특성상 상위 사람을 제외하면 불안하고 안정적이지 않아서 중간에 그만뒀어요. 그 뒤로 중소기업에 다니면서 다시 공부를 시작했습니다. 일을 해보니 중소기업은 연봉도 굉장히 적고 멀티플레이를 요구하더라고요. 그래서 공부를 더해 나의 가치를 높여야겠다는 생각이 들었어요. 지금은 심리학을 공부하고 있습니다.”
“Năm 20 tuổi, tôi đỗ đại học, nhưng vì đặc thù ngành nghệ thuật nên ngoài những người xuất sắc nhất ra thì rất bấp bênh và không ổn định, nên tôi đã bỏ dở giữa chừng. Sau đó, tôi đi làm ở một công ty nhỏ và bắt đầu học lại. Khi làm việc, tôi thấy các công ty nhỏ lương rất thấp và đòi hỏi phải làm nhiều việc. Vì vậy, tôi nghĩ mình cần phải học thêm để nâng cao giá trị bản thân. Hiện tại tôi đang học tâm lý học.”
“본인이 필요하다고 느끼고 다시 시작했으니 굉장히 열심히 할 것 같네요.”
“Vì bạn cảm thấy cần thiết và bắt đầu lại, chắc là bạn sẽ rất chăm chỉ.”
“불평불만을 하는 건 아니에요. 심리학이라는 학문을 공부해보니 대학만 졸업해서는 부족한 것투성이예요. 심리학 전공을 살리려면 석사 학위가 거의 필수적이에요. 몰랐던 일은 아니지만 남들보다 뒤늦게 시작한 저로서는 서른 살이 넘어가는 나이도 부담스럽고 대학원의 무거운 학비도 난제에 가까웠어요. 결국 현실과 타협을 하자 싶은 마음에 취업하려고 마음먹었어요.”
“Cháu không phàn nàn gì cả. Sau khi học ngành tâm lý học, cháu thấy chỉ tốt nghiệp đại học thôi thì còn thiếu sót rất nhiều. Để theo đuổi ngành tâm lý học thì bằng thạc sĩ gần như là bắt buộc. Dù không phải là điều cháu không biết, nhưng vì cháu bắt đầu muộn hơn người khác, nên tuổi tác đã ngoài ba mươi cũng là gánh nặng, và học phí thạc sĩ nặng nề cũng gần như là một nan giải. Cuối cùng, cháu quyết định thỏa hiệp với thực tế và tìm việc làm.”
“네, 그런데요?”
“Vâng, và sao nữa?”
“제가 일하고 싶능 기업이 있습니다. 제가 입사하고 싶어하는 기업이라면 남들도 선호하는 좋은 직장이겠죠. 취업을 준비해보니 진심으로 그 회사에 들어가고 싶은데 제 발목을 잡는 게 너무 많아요..”
“Cháu có một công ty mà cháu muốn làm việc. Nếu đó là công ty mà cháu muốn vào, chắc hẳn đó cũng là một công ty tốt mà người khác cũng ưa thích. Khi chuẩn bị xin việc, cháu thực sự muốn vào công ty đó nhưng có quá nhiều thứ cản trở cháu…”
“다른 사람도 선호하는 기업이라면 대기업이겠군요.”
“Nếu là công ty mà người khác cũng ưa thích, hẳn là một tập đoàn lớn rồi.”
“네, 큰 회사죠. 제가 그다지 좋은 학벌도 아니고 그 흔한 백이 하나 있는 것도 아니고, 요즘 대학생이라면 누구나 거친다는 어학 점수가 높은 것도 아니에요. 제 이상과 현실 사이의 괴리가 삐저리게 느껴진다고 할까요? 밤에 자리에 누워 곰곰이 생각하면 내가 노력하면 그까짓 것 못 들어가겠느냐 싶다가도 아침이면 나보다 나이 어리고 뚝뚝한 아이들 이 수두록한데 과연 내 자리가 있을까 회의적인 생각이 들어요.”
“Vâng, một công ty lớn ạ. Cháu cũng không có học vấn tốt lắm, cũng không có cái gọi là ‘ô dù’ phổ biến, và điểm ngoại ngữ – thứ mà sinh viên ngày nay ai cũng phải trải qua – cũng không cao. Nói chung là cháu cảm thấy sự chênh lệch giữa lý tưởng và thực tế quá rõ rệt. Tối nằm trằn trọc suy nghĩ, cháu tự nhủ nếu mình cố gắng thì sao lại không vào được, nhưng sáng ra lại thấy những đứa trẻ tuổi hơn mình mà lại giỏi giang đầy rẫy, cháu lại hoài nghi liệu có chỗ cho mình không.”
“불안하고 초조한 신정이라 이거죠?”
“Ý bạn là tâm trạng bất an và lo lắng phải không?”
“밤에 잠을 못 잘 정도예요. 제 또래 친구들은 사회생활을 이미 시작한 경우가 많은데 입사 전에 취업 원서를 70장을 썼다는 둥 80장을 썼다는 둥 이야기하거든요. 너무 가고 싶은 회사지만 내 위치가 여기 까지밖에 되지 않으니까 그냥 포기를 해야 할까 싶은 마음도 있어요. 한편으로는 너무 들어가고 싶은 회사니까 꼭 해보자 하는 마음도 있고요. 제 마음이지만 도대체 갈피를 잡을 수가 없어요. 어떻게 하면 자격지심이나 불안감을 떨쳐버리고 ‘그래, 할 수 있어.’ 하는 생각으로 긍정적으로 취업 준비헐 수 있을까요?”
“Cháu không thể ngủ được vào ban đêm. Những người bạn cùng tuổi cháu đa số đã bắt đầu cuộc sống xã hội rồi, họ kể chuyện đã nộp 70 hay 80 hồ sơ xin việc trước khi vào công ty. Cháu rất muốn vào công ty đó, nhưng vị trí của cháu chỉ đến đây thôi nên cũng có lúc nghĩ hay là từ bỏ. Mặt khác, vì là công ty rất muốn vào nên cũng có ý nghĩ phải cố gắng thử. Dù là lòng mình nhưng cháu không biết phải làm sao cả. Làm thế nào để loại bỏ cảm giác tự ti và bất an, rồi chuẩn bị xin việc một cách tích cực với suy nghĩ ‘Được, mình có thể làm được’ ạ?”
미래에 대해 불안과 그에 따른 초조함은 이 시대 청춘들이 공통으로 느끼는 심리입니다. 고민을 이야기한 이분은 위로해 드려야 할 분이에요. 하지만 위로한다고 인생이 특별히 변하는 것이 있잖아요? 마음은 아프지만 직설적으로 그냥 따끔하게 답변을 하겠습니다.
Nỗi bất an về tương lai và sự lo lắng đi kèm là tâm lý chung mà giới trẻ thời đại này cảm nhận. Người đã chia sẻ nỗi lo này là người cần được an ủi. Nhưng an ủi liệu cuộc đời có thay đổi đặc biệt gì không? Dù lòng đau xót nhưng tôi sẽ trả lời thẳng thắn và gay gắt.
“지금 그런 수준으로는 아무것도 못 합니다.”
“Với trình độ như vậy hiện tại thì không làm được gì cả.”
이 말은 분명 듣기 좋은 말이 아닙니다. 더구나 오해의 소지가 가득한 말이기도 해죠.
Lời này rõ ràng không phải là lời dễ nghe. Hơn nữa, nó cũng là lời dễ gây hiểu lầm.
제가 말한 ‘그런 수준’이란 학력이나 재능, 경력이 부족하다는 뜻이 아니니 오해는 하지 마시길 바랍니다.
Xin đừng hiểu lầm, ‘trình độ như vậy’ mà tôi nói không có nghĩa là thiếu bằng cấp, tài năng hay kinh nghiệm.
이렇게 마음이 약하고 본인 스스로 우왕좌왕하는 마음으로는 어떤 일도 이루기 어렵다는 뜻입니다.
Nó có nghĩa là với một tâm hồn yếu đuối và cứ phân vân như vậy, rất khó để đạt được bất cứ điều gì.
비유하자면 마치 가을바람에 떠도는 낙엽과도 같습니다.
Ví von thì giống như chiếc lá khô trôi dạt trong gió thu vậy.
가을이면 찬바람을 따라 낙엽이 하늘로 올라갔다가 또 땅으로 내려갔다가 하면서 이쪽저쪽으로 휩쓸리며 날아다닙니다.
Khi mùa thu đến, chiếc lá khô bay lên trời theo làn gió lạnh, rồi lại rơi xuống đất, bị cuốn đi khắp nơi.
낙엽이 저 홀로 높이 솟았다가 이리저리 움직이는 걱 같지만, 바람이 불면 어느 개울에 떨어질지도 모르는 게 낙엽의 신세죠.
Trông có vẻ như chiếc lá tự mình bay cao rồi di chuyển khắp nơi, nhưng số phận của chiếc lá là không biết sẽ rơi xuống con suối nào khi gió thổi.
이와 같이 이리저리 흔들리는 인생은 바람에 휘날려 다니며 죽을 때까지 방황만 하다가 결국은 생을 마감하게 됩니다.
Cuộc đời lay động như vậy, cứ bị gió cuốn đi, lang thang cho đến chết, rồi cuối cùng kết thúc cuộc đời.
한 선사가 남긴 이야기를 하나 소개할까 합니다.
Tôi xin giới thiệu một câu chuyện mà một vị Thiền sư đã kể lại.
어느 손님이 <법화경>이 좋다는 말은 듣고 <법화경>을 3000번 읽었습니다. 그리고 <법화경>을 등에 메도 다녔어요.
Có một vị khách nghe nói kinh Pháp Hoa rất tốt, nên đã đọc kinh Pháp Hoa 3000 lần. Và ông ta còn mang kinh Pháp Hoa trên lưng mà đi khắp nơi.
그러던 어느 날 혜능이라는 선승이 글자도 모르고 경도 모르는데 어떻게 깨달음을 얻을 수 있겠는가. 그런 미친놈이 있으냐며 내가 가서 혼내줘야겠다고 <법화경>을 메고 혜능 선사를 찾아갑니다.
Vào một ngày nọ, một vị thiền sư tên Huệ Năng không biết chữ, cũng không biết kinh sách mà lại nói rằng làm sao có thể giác ngộ được. Ông ta tự hỏi có kẻ điên nào như vậy không, rồi vác kinh Pháp Hoa trên lưng đi tìm Thiền sư Huệ Năng, định bụng sẽ dạy cho một bài học.
찾아갔으니까 인사를 해야 하는데 마음속에 아만이 있으니까 절을 해도 머리가 땅에 닿지 않았습니다.
Đã đến nơi thì phải chào hỏi, nhưng trong tâm có sự ngạo mạn nên dù cúi lạy đầu cũng không chạm đất.
그 모습을 보던 선사가 “고개 숙이기가 싫어 이마가 바닥에 안 붙는 것을 보니 네 마음속에 필시 아만이 있구나. 먼저 내어놓아라.”라고 말했습니다.
Vị Thiền sư thấy vậy liền nói: “Nhìn thấy trán không chạm đất vì không muốn cúi đầu, chắc chắn trong tâm ngươi có sự ngạo mạn. Hãy đặt nó xuống trước đã.”
그러자 스님이 “제가 <법화경>을 3000번 읽었습니다.”라고 자랑삼아 대답했습니다.
Vị tăng liền tự hào đáp: “Con đã đọc kinh Pháp Hoa 3000 lần.”
선사가 다시 “네가 <법화경>을 3000번 읽었다면 <법화경>의 대의가 무엇인지도 알겠구나.”라고 했습니다.
Thiền sư lại nói: “Nếu ngươi đã đọc kinh Pháp Hoa 3000 lần, chắc hẳn ngươi cũng biết đại ý của kinh Pháp Hoa là gì.”
그랬더니 이 사람이 “잘 모르겠습니다.”라고 고백했습니다.
Người này liền thú nhận: “Con không hiểu rõ.”
사실 선사를 찾아간 데는 아무것도 모르는 것이 아는 체한다며 깨우쳐주려는 심정도 있었지만 3000번이나 읽어도 뜻을 잘 모르겠으니까 큰 스승에게 묻고자 했던 이중적인 마음도 숨어 있었던 것입니다.
Thực ra, việc đi tìm Thiền sư, một phần là vì tâm lý muốn giác ngộ cho người tự cho mình là biết mọi thứ trong khi chẳng biết gì, nhưng cũng có một tâm lý hai mặt khác ẩn chứa, đó là vì đã đọc 3000 lần mà vẫn không hiểu ý nghĩa nên muốn hỏi một vị đại sư.
그러니까 선사가 “나는 글자도 모르고 경을 읽어본 적이 없으니 네가 한번 읽어봐라.”라고 했습니다.
Vì vậy, Thiền sư nói: “Ta không biết chữ, cũng chưa từng đọc kinh, vậy ngươi hãy đọc thử một lần xem.”
3000번을 읽었으니 경을 줄줄 외우고 읽었죠.
Đã đọc 3000 lần nên ông ta đọc kinh một cách trôi chảy.
가만히 듣던 선사가 “그마해라. <법화경>의 대의는 이런것이다.”하면서 <법화경>의 뜻을 풀어주었습니다.
Thiền sư lắng nghe một lúc rồi nói: “Thôi đủ rồi. Đại ý của kinh Pháp Hoa là thế này đây.” Rồi ngài giải thích ý nghĩa của kinh Pháp Hoa.
선사의 풀이를 듣고 <법화경>의 대의를 이해한 이 스님이 크게 감동하고 마음의 문을 열었다는 이야기입니다.
Câu chuyện kể rằng, sau khi nghe lời giải thích của Thiền sư và hiểu được đại ý của kinh Pháp Hoa, vị tăng này đã vô cùng cảm động và mở lòng mình.
그래 선사가 이 스님에게 한 이야기는 이런것입니다.
Thế rồi, Thiền sư đã nói với vị tăng này như sau:
“지금까지는 네가 <법화경>에 굴림을 당했는데 이후로는 <법화경>을 굴리는 사람이 되어라.”
“Cho đến nay, ngươi đã bị kinh Pháp Hoa chi phối, từ nay về sau, hãy trở thành người chi phối kinh Pháp Hoa.”
<법화경>을 3000번이나 읽었다고 하지만 지금까지는 <법화경> 의 종노릇을 한 것에 지니지 않습니다.
Dù đã đọc kinh Pháp Hoa 3000 lần, nhưng cho đến nay, việc đó chỉ là làm đầy tớ cho kinh Pháp Hoa mà thôi.
굴리라는 말을 해석하면 더 쉽게 이해할 수 있습니다.
Giải thích từ ‘chi phối’ sẽ dễ hiểu hơn.
입으로 외우고 실제로 행동하면 이것이 곧 경의 주인이 되는 것입니다.
Nếu bạn niệm bằng miệng và thực hành bằng hành động, đó chính là trở thành chủ nhân của kinh điển.
그러나 입으로는 외워도 실행하지 못하면 오히려 경에 굴림을 당하는 사람이라는 뜻이죠.
Tuy nhiên, nếu chỉ niệm bằng miệng mà không thực hành được, thì điều đó có nghĩa là bạn lại bị kinh điển chi phối.
그러니 잎으로는 ‘네가 <법화경>을 굴리는 사람이 되어라.’라는 말이에요.
Vì vậy, ý nghĩa là ‘Ngươi hãy trở thành người chi phối kinh Pháp Hoa.’
우리 식으로 말하면 ‘네가 스스로 주인이.’라는 말입니다.
Nói theo cách của chúng ta thì là ‘Ngươi hãy tự mình làm chủ.’
또 다른 말로 표현하면 ‘세상에 굴림을 당하는 존재가 되지 말고 세상을 굴리는 존재가 되어라.’라는 뜻과도 통합니다.
Nói cách khác, nó cũng có nghĩa là ‘Đừng trở thành một kẻ bị thế giới chi phối, mà hãy trở thành một kẻ chi phối thế giới.’
우리는 세상에 굴림을 당하는 존재들입니다.
Chúng ta là những kẻ bị thế giới chi phối.
늘 남을 쳐다보고 남이 어떻게 하는지 그것에 따라서 정신없이 살아가는 존재들입니다.
Chúng ta là những người luôn nhìn người khác, sống một cách điên cuồng theo những gì người khác làm.
앞에서 비유한 것처럼 가을 낙엽과도 같이 말입니다.
Giống như chiếc lá khô mùa thu trong ví dụ trước.
그러지 말고 내가 스스로 세상을 굴리는 자가 되어 살아야 합니다.
Đừng như vậy, hãy sống như một người tự mình chi phối thế giới.
세상을 굴리는 방법이란 크게 다르지 않습니다.
Cách chi phối thế giới không khác biệt nhiều.
세상의 잣대가 어떻든 세상이 어떻게 흐르든 나만의 관점으로 옳고 그름을 판단하는 눈이 있어야 합니다.
Dù tiêu chuẩn của thế giới là gì, dù thế giới vận hành ra sao, bạn cũng phải có con mắt để phán xét đúng sai theo quan điểm của riêng mình.
남들이 전부 자동차를 산다고 돈이 있으니 나 역시 남들 따라 무조건 자동차를 사는 건 옳지 않습니다.
Việc mọi người đều mua ô tô, và vì có tiền nên tôi cũng theo người khác mà mua ô tô một cách vô điều kiện là không đúng.
내가 생각을 해보니 ‘집이 가까우니 걸어 다니면 건강에도 좋고, 에너지도 절약되고, 기름 값이나 처량 유지비가 안 들어가니까 돈도 절약되고, 석유를 안 쓰고 온실가스도 배출을 안 하니 지구환경 보전도 되네. 나는 차 살 돈으로 다른 걸 하고 자동차 없이 살겠어.’ 이렇게 자기만의 지조를 세우고 실천하는 겁니다.
Tôi nghĩ: ‘Nhà gần, đi bộ tốt cho sức khỏe, tiết kiệm năng lượng, không tốn tiền xăng hay phí bảo dưỡng xe, nên cũng tiết kiệm được tiền, không dùng dầu mỏ và không thải khí nhà kính nên cũng góp phần bảo vệ môi trường trái đất. Tôi sẽ dùng tiền mua xe để làm việc khác và sống không cần ô tô.’ Cứ như vậy, bạn hãy tự xây dựng và thực hiện nguyên tắc sống của riêng mình.
자동차 한 대를 운행하지 않으면서 얻어지는 이익이 얼마나 많습니까?
Việc không vận hành một chiếc ô tô mang lại bao nhiêu lợi ích?
건강부터 호주머니 사정과 환경문제까지, 일거삼득인 셈이죠.
Từ sức khỏe đến tình hình tài chính và vấn đề môi trường, đó là một công đôi ba việc.
그래서 ‘나는 차를 사기보다는 걸어 다니는 걸 택했습니다.’ 하는 지조가 있어야 합니다.
Vì vậy, bạn phải có nguyên tắc ‘Tôi đã chọn đi bộ thay vì mua xe.’
앞에서 고민을 상담한 분은 남들 따라 이럴까 저럴까 번민합니다.
Người đã được tư vấn về nỗi lo ở trên, băn khoăn không biết nên làm thế này hay làm thế kia theo người khác.
꿈을 향해서도 도전하자니 제약이 많다고 하고, 포기하자니 꿈이 아깝다고 호소하셨죠.
Bạn ấy than thở rằng nếu thử thách theo đuổi ước mơ thì có nhiều hạn chế, còn nếu từ bỏ thì tiếc nuối ước mơ.
그런데 아직 새파란 이십 대 청춘이 벌써 이렇게 비굴해져서 이리저리 세태 눈치를 보면서 살아서야 어떻게 하겠습니까?
Thế nhưng, một thanh niên trẻ tuổi mới đôi mươi mà đã hèn nhát đến mức này, cứ nhìn trước ngó sau theo thời thế mà sống thì làm sao mà được?
꼭 이 사람 뿐 아니라 이와 비슷한 현실과 이상 사이의 관리감에 고통받는 청춘들이 적지 않을 겁니다.
Không chỉ riêng người này, mà chắc hẳn cũng có không ít thanh niên đang phải chịu đựng cảm giác bị mắc kẹt giữa thực tế và lý tưởng tương tự như vậy.
우리 인생은 꼭 어떤 것이 좋고, 어떤 것은 나쁘다는 절대 가치가 있는 것이 아닙니다.
Cuộc đời chúng ta không có một giá trị tuyệt đối nào quy định cái gì là tốt, cái gì là xấu.
그러므로 20대 때는 친구들과 어울려서 새로운 것을 들을 창조해보는 것도 좋습니다.
Vì vậy, ở tuổi 20, việc tụ tập bạn bè để sáng tạo những điều mới mẻ cũng rất tốt.
경험 부족으로 실패할 수도 있습니다.
Có thể thất bại do thiếu kinh nghiệm.
하지만 제가 늘 말하듯 실패는 성공의 어머니입니다.
Nhưng như tôi vẫn thường nói, thất bại là mẹ của thành công.
그런데 그것은 우리가 사는 지금, 삶의 방향이 잘못 되었다는 반성이 들지 않습니까?
Nhưng điều đó không khiến bạn suy ngẫm rằng hướng đi cuộc sống hiện tại của chúng ta đã sai sao?
취업을 준비하는 사람 대부분, 거의 90% 이상이 대기업만 기대하는 중소기업에 취직하는 것도 현실적으로 나쁜 방법이 아닙니다.
Hầu hết những người chuẩn bị xin việc, hơn 90% chỉ mong vào các tập đoàn lớn, nhưng thực tế việc vào các công ty vừa và nhỏ cũng không phải là một phương pháp tồi.
규모가 작은 회사이기 때문에 장점도 여러 가지 있습니다.
Vì là công ty có quy mô nhỏ nên cũng có nhiều ưu điểm.
혼자서 여러 가지를 할 수 있죠.
Bạn có thể tự mình làm nhiều việc.
영업 홍보 회계 등 회사에서 필요한 실무를 돌아가며 배울 수 있습니다.
Bạn có thể học hỏi các nghiệp vụ cần thiết trong công ty như kinh doanh, quảng bá, kế toán, v.v.
나중에 창업하게 되면 귀한 경험을 익힌 셈이라고 매우 유리합니다.
Nếu sau này bạn khởi nghiệp, đó sẽ là những kinh nghiệm quý báu và rất có lợi.
큰 회사에 입사하면 기계 부속품처럼 아주 작은 한 부분의 역할밖에 할 수 없습니다.
Khi vào một công ty lớn, bạn chỉ có thể đóng vai trò như một bộ phận nhỏ của cỗ máy.
큰 회사에서 명퇴 등으로 퇴사하면 할 수 있는 게 아무것도 없다고 없다고 호소하는 사람을 여럿 보았습니다.
Tôi đã thấy nhiều người than thở rằng khi họ nghỉ việc ở một công ty lớn (ví dụ như nghỉ hưu sớm), họ không thể làm được gì cả.
그 회사의 부속으로 있을 때는 기능을 했는데, 회사에서 나오니까 쓸모가 하나도 없다는 겁니다.
Khi còn là một bộ phận của công ty đó, họ có chức năng, nhưng khi ra khỏi công ty thì hoàn toàn vô dụng.
우리 인생은 꼭 어떤 것이 좋고, 어떤 것은 나쁜다는 절대 가치가 있는 것이 아닙니다.
Cuộc đời chúng ta không có giá trị tuyệt đối nào quy định cái gì là tốt, cái gì là xấu.
그러므로 20대 때는 친구들과 어울려서 새로운 것들을 창조해보는 것도 좋습니다.
Vì vậy, ở tuổi 20, việc tụ tập bạn bè để sáng tạo những điều mới mẻ cũng rất tốt.
경험 부족으로 실패할 수도 있습니다.
Có thể thất bại do thiếu kinh nghiệm.
하지만 제가 늘 말하듯 실패는 성공의 어머니 입니다.
Nhưng như tôi vẫn thường nói, thất bại là mẹ của thành công.
창업이 어렵다면 작은 중소기업에서 일하면서 경험과 노하우를 쌓고 그 뒤에 다시 도전해 볼 수 있습니다.
Nếu khởi nghiệp khó khăn, bạn có thể làm việc ở một công ty vừa và nhỏ để tích lũy kinh nghiệm và bí quyết, sau đó lại thử thách.
기회는 어떻게 보느냐에 따라 여러분 앞에 다가옵니다.
Cơ hội đến với bạn tùy thuộc vào cách bạn nhìn nhận.
무엇보다 여러분들에게 필요한 것은 공부합니다.
Hơn hết, điều bạn cần là học hỏi.
이 공부란 학문을 터득하는 순수한 의미의 공부는 아닙니다.
Việc học này không phải là việc học theo nghĩa thuần túy của việc tiếp thu kiến thức học thuật.
심리학을 공부하고 있다는 이야기의 주인공에게도 다른 관점에서 새롭게 보라고 권하고 싶습니다.
Tôi muốn khuyên nhân vật chính trong câu chuyện đang học tâm lý học hãy nhìn nhận mọi thứ từ một góc độ mới.
무슨 일을 하든지 그 일을 하는 인간의 심리가 어떤지를 잘 살피는 것이 성공 확률을 높습니다.
Dù làm việc gì, việc tìm hiểu kỹ tâm lý con người khi làm việc đó sẽ làm tăng khả năng thành công.
인간 관계도 연애도 친구를 사귀는 일도 조직 생활에서도 인간의 마음이 움직이는 향방을 파악하고 깨달으며 연구하는 모든 것이 우리에게 공부합니다.
Trong các mối quan hệ, tình yêu, tình bạn, và cuộc sống tổ chức, việc nắm bắt, thấu hiểu và nghiên cứu hướng đi của trái tim con người là tất cả những gì chúng ta cần học hỏi.
사건 하나를 바보면서도 원인의 원리를 찾고, 그 원인은 찾다 보면 다음 문제가 나와서 집요하게 원인과 원인의 원인을 규명해 나가는 것이 바로 우리도 해나가야 할 공부합니다.
Ngay cả khi nhìn vào một sự kiện đơn giản, việc tìm kiếm nguyên lý của nguyên nhân, và khi tìm thấy nguyên nhân, lại nảy sinh vấn đề tiếp theo, rồi kiên trì làm rõ nguyên nhân của nguyên nhân, đó chính là việc học mà chúng ta cũng cần phải thực hiện.
사회 문제든 국제 정세든 지구 환경 보혼든 우리 주변에 관심을 두고 연구 해야 할 과제는 수 없이 많습니다.
Dù là vấn đề xã hội, tình hình quốc tế hay bảo vệ môi trường toàn cầu, có vô số nhiệm vụ mà chúng ta cần quan tâm và nghiên cứu xung quanh mình.
이십 대 청춘에 걸맞게 하나 하나 연구해 나가야지 무슨 무슨 스팩을 갖췄다고 능사는 아닙니다.
Ở tuổi đôi mươi, bạn phải nghiên cứu từng vấn đề một, chứ không phải có đủ các loại bằng cấp là xong.
단석으로 영어 시험 점수가 조금 높다고, 영어를 잘한다고 바로 취직이 잘 되나요?
Chỉ vì điểm thi tiếng Anh cao một chút, hay giỏi tiếng Anh thì có dễ dàng xin được việc ngay không?
영어가 필요한 것은 맞지만 영어가 전부는 아니예요.
Tiếng Anh cần thiết là đúng, nhưng tiếng Anh không phải là tất cả.
그보다 중요한 것은 바로 자기 두 발로 딛고 두눈으로 보고 세상을 살아가는 자세입니다.
Điều quan trọng hơn là thái độ sống bằng hai chân của mình, nhìn thế giới bằng hai mắt của mình.
그렇게 되기 위해서는 지식이든 학문이든 자기것이 되야 해요.
Để làm được điều đó, dù là kiến thức hay học vấn, bạn cũng phải biến nó thành của mình.
우리가 아는 지식이라는 것은 절대 가치로 믿을 게 못 됩니다.
Kiến thức mà chúng ta biết không phải là thứ có thể tin tưởng tuyệt đối.
지식이나 학문을 자기 것으로 만들기 위해서는 우리가 하는 공부가 살아있어야 합니다.
Để biến kiến thức hay học vấn thành của mình, việc học của chúng ta phải sống động.
신제로 일어나는 일을 연구해서 만들어 가야 한다는 말입니다.
Nghĩa là bạn phải nghiên cứu những gì thực sự xảy ra và tự mình tạo ra.
그러니까 심리학 공부를 예로 들어 보죠.
Vậy hãy lấy ví dụ về việc học tâm lý học.
연애하면서 때로는 상대가 왜 나에게 화를 내는지 의하할 때가 있습니다.
Khi hẹn hò, đôi khi bạn tự hỏi tại sao đối phương lại nổi giận với mình.
때로는 좋아하던 상대에 대해서 실망하는 경우도 있습니다.
Đôi khi bạn cũng thất vọng về người mình yêu thích.
밤이면 내가 잘하는 걸까 의문에 빠졌다가 아침에는 언제 그랬느냐는극 내 생각이 옳았다는 확신을 얻게 될 때도 있습니다.
Đêm đến, bạn có thể tự hỏi liệu mình có đang làm tốt không, rồi sáng ra lại có lúc bạn tin chắc rằng suy nghĩ của mình là đúng, như thể chưa từng có sự nghi ngờ nào cả.
이렇게 인간의 삼리는 시시때때로 변하고 달라집니다.
Tâm lý con người thay đổi và biến đổi không ngừng như vậy.
이 변화가 바로 인간의 심리죠.
Sự thay đổi này chính là tâm lý con người.
그러니 심리학이란 다른 멀리서 찾을 예제가 아니라 내 마음이 왜 하룻밤 새 변하는지, 왜 좋아하던 상대가 갑자기 싫어졌는지 내 심리부터 연구하는게 좋겠네.
Vì vậy, tâm lý học không phải là ví dụ phải tìm kiếm xa xôi, mà tốt hơn hết là hãy nghiên cứu tâm lý của chính mình trước, tại sao tâm trạng của mình lại thay đổi chỉ sau một đêm, tại sao người mình yêu thích lại đột nhiên trở nên đáng ghét.
내 심리를 연구하고 그 결과를 토내로 다른 사람에게 적용해보면 상대의 마음을 이해할 수 있겠죠.
Nếu bạn nghiên cứu tâm lý của mình và áp dụng kết quả đó cho người khác, bạn sẽ có thể hiểu được tâm lý của đối phương.
이주제로 글을 쓰면 새로운 연구 결과로 박사가 될 수 있습니다.
Nếu viết về chủ đề này, bạn có thể trở thành tiến sĩ với những kết quả nghiên cứu mới.
남 따라서 얼떨 걸에 그냥 물길 흐르는 대로 홍수에 나무 토막 휩쓸 리듯 인생을 이렇게 살면 안 됩니다.
Không nên sống cuộc đời mình như một khúc gỗ trôi theo dòng nước lũ, cứ thế vô tình trôi theo người khác.
홍수로 격류에 휩쓸 렸다가 구사 일생으로 살아난 사람들의 이야기를 들어 보면 나무 뿌리라도 손에 쥐고 기둥처럼 단단히 붙잡고 있었다는 말을합니다.
Nếu nghe câu chuyện của những người bị cuốn vào dòng nước xiết do lũ lụt mà may mắn sống sót, bạn sẽ thấy họ nói rằng họ đã nắm chặt lấy rễ cây như một cái cột vững chắc.
그냥 물결에 떠밀려가는 편이 더 쉽겠죠.
Bị dòng nước cuốn đi có lẽ dễ dàng hơn.
하지만 그것은 그냥 부평초 같은 인생이라고 말합니다.
Nhưng người ta nói đó chỉ là một cuộc đời phù phiếm như bèo trôi.
어떻게 하면 자격지심을 버리고 긍정적인 마음으로 취업 준비를 할 수 있느냐고 묻는 질문 앞에 저는 “그런 식으로 하면 될 일도 안 됩니다.”라고 독설에 가까운 답변을 주었습니다.
Trước câu hỏi làm thế nào để từ bỏ cảm giác tự ti và chuẩn bị xin việc với một tâm thái tích cực, tôi đã đưa ra một câu trả lời gần như cay nghiệt: “Nếu làm như vậy thì ngay cả việc đáng lẽ thành công cũng sẽ không thành.”
이렇게 독설을 하는 이유 공부도 필요에 의해서가 아니라 의무는 내 꿈을 밥벌이로 생각하고로하는 억지 공부이기 때문에 답답한 마음으로 뱉은 소리입니다.
Lý do tôi nói những lời cay nghiệt như vậy là vì việc học này không phải do nhu cầu mà là nghĩa vụ, là việc học ép buộc vì coi ước mơ của mình chỉ là để kiếm sống, nên tôi đã nói ra trong tâm trạng bế tắc.
문제는 개인의 자세에서 오는 것도 있고 제도적 모순에서 오는 것도 있습니다.
Vấn đề có thể xuất phát từ thái độ cá nhân, cũng có thể từ những mâu thuẫn trong hệ thống.
내 동료 나 친구를 밟고 올라가 꼭대기를 차지해야하는 사회 시스템 속에서 우리는 살고 있습니다.
Chúng ta đang sống trong một hệ thống xã hội mà trong đó, bạn phải dẫm đạp lên đồng nghiệp hay bạn bè để leo lên vị trí cao nhất.
학벌이나 스펙을 쌓겠다 할 일로 생는 것도이 사회 구조에서 살아가 자니 남들 따라 나도해야 각한 것이죠.
Việc phải tích lũy bằng cấp hay kỹ năng cũng là điều mà bạn phải làm theo người khác để tồn tại trong cấu trúc xã hội này.
그렇다면 내가 만약 자격증을 두 개 땄다고 가정해볼시 다.
Vậy thì, giả sử tôi có hai bằng cấp.
그런데 누군가는 세 개를 땄다면 그 사람이 올라가 겠죠.
Nhưng nếu có người nào đó có ba bằng cấp thì người đó sẽ leo lên.
내가 네 개를 따면 다른 사람은 다섯 개를 따고 올라갈 테 고요.
Nếu tôi có bốn cái thì người khác sẽ có năm cái rồi leo lên.
유학을 다녀 오 고 박사 학위를 따도 해결되지 않습니다.
Ngay cả khi đi du học và lấy bằng tiến sĩ cũng không giải quyết được.
이 경쟁 구조가 계속되는 한 하나님이 와도 부처님이 와도 해결할 수 없습니다.
Chừng nào cấu trúc cạnh tranh này còn tiếp diễn, thì ngay cả Chúa hay Phật cũng không thể giải quyết được.
결국 여러분이 원하고 남들이 선망하는 직업은, 이를테면 돈도 많이 벌고 폼도 나고 일도 쉬운 그런 직업은 열 명 중 한두 명밖에 갈 수 없는 자리예요.
Cuối cùng, những công việc mà bạn mong muốn và người khác ngưỡng mộ – ví dụ như những công việc kiếm được nhiều tiền, có vẻ ngoài đẹp và công việc dễ dàng – là vị trí mà chỉ một hoặc hai trong số mười người có thể đạt được.
그 자리를 위해 수천 명의 사람이 무한 경쟁 속에서 남들처럼 똑같이 살아가는 것이죠.
Hàng ngàn người đang sống giống hệt những người khác trong cuộc cạnh tranh không ngừng nghỉ để giành lấy vị trí đó.
물론 그 경쟁 속에서 얻는 것도 있습니다.
Tất nhiên, cũng có những điều đạt được trong cuộc cạnh tranh đó.
열심히 취업 준비를 한 덕분에 영어도 잘하고 다른 외국어까지 공부해서 3 개 국어에 능통 해졌습니다.
Nhờ việc chuẩn bị xin việc chăm chỉ, tôi đã giỏi tiếng Anh và còn học thêm các ngoại ngữ khác, trở nên thông thạo 3 ngôn ngữ.
이런 일은 취업이 아니라도 결과적으로 나에게 좋은 일입니다.
Những việc như vậy, dù không phải vì xin việc, nhưng kết quả là tốt cho tôi.
우리가 세상을 살아가는 데 상식적으로 필요한 공부들이 있습니다.
Có những kiến thức mà chúng ta cần học một cách thông thường để sống trong thế giới này.
그 공부는 등수 나 학벌과 관계없이 공부해야 해요.
Việc học đó phải được thực hiện bất kể thứ hạng hay bằng cấp.
반드시 필요 하니까 말이죠.
Bởi vì nó là điều cần thiết.
그런데 목표를 잃고 등수 나 학벌에만 매달려서 살면 결국은 열등 의식 속에서 살아야합니다.
Thế nhưng, nếu mất mục tiêu và chỉ bám víếu vào thứ hạng hay bằng cấp mà sống, thì cuối cùng bạn sẽ phải sống trong mặc cảm tự ti.
그러지 않으려면 삶에 적극적으로 임하는 것이 좋습니다.
Để không như vậy, tốt hơn hết là hãy chủ động đón nhận cuộc sống.
마음가짐을 이렇게 먹고 길게 보는 안목으로 공부해야합니다.
Bạn phải có tâm thế như vậy và học hỏi với tầm nhìn dài hạn.
한마디로 정신 똑바로 차리고 살라는 뜻입니다.
Nói tóm lại, nó có nghĩa là hãy sống tỉnh táo.
아침에 일어나면 마음이 이리저리 왔다 갔다 하는 것도 결국 인생에 중심을 못 잡아서 그렇습니다.
Sáng dậy mà tâm trạng cứ xao động cũng là do cuối cùng không thể nắm giữ trọng tâm cuộc đời.
정신이 건강해야 삶에도 긍정적인 기운이 생깁니다.
Tinh thần khỏe mạnh mới tạo ra năng lượng tích cực cho cuộc sống.
이십 대 청춘이 겨울철 추위에 덜덜 떨듯이 인생을 살면 희망이 없습니다.
Nếu tuổi đôi mươi mà sống cuộc đời run rẩy như bị cái lạnh mùa đông thì sẽ không có hy vọng.
우리가 움츠러들 이유가 뭐가 있나요?
Chúng ta có lý do gì để co rúm lại chứ?
한 명 한명 귀하고 귀한 자식인데. 여러분들 뭐가 못 났다고 움츠러 듭니까?
Mỗi người đều là con cái quý giá, tại sao các bạn lại co rúm lại vì nghĩ mình kém cỏi?
지금 당장 굽어 진 어깨를 활짝 펴세요.
Hãy ngay lập tức duỗi thẳng đôi vai đang rụt lại.
그리고 크게 소리를 지르세요. 긍정의 힘이 내 온몸으로 퍼질 겁니다.
Và hãy hét thật to lên. Sức mạnh của sự tích cực sẽ lan tỏa khắp cơ thể bạn.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823




