Sách viết của nhà sư Pháp Luân

Phần 19. 마음의 감옥

Nhà tù trong tâm hồn

무엇을 해야 남에게 도움을 주면서 나도 행복하게 살 수 있을까 고민하는 분이 있습니다.

Có một người đang trăn trở không biết phải làm gì để vừa giúp đỡ người khác, vừa sống hạnh phúc cho chính mình.

“제가 세상을 보는 눈이 너무 어두워 무엇을 해야 할까 생각해봐도 모두가 마음에 들지 않습니다. 모두들 진리를 말하지만 그것은 자신이 믿고 싶은 것, 보고 싶은 것, 듣고 싶은 것일 뿐 명확한 답을 내리고 있지 않습니다. 저도 그중 하나를 믿고 싶고 그래서 힘을 내고 싶지만 믿기지가 않습니다. 주위에서는 허무주의자라고 말하더군요. 제가 할 수 있는 일은 하루하루 살아가는 것밖에 아무것도 없습니다.”

“Con thấy tầm nhìn của mình về thế giới quá mờ mịt, dù suy nghĩ làm gì thì cũng không thấy hài lòng. Mọi người đều nói về chân lý, nhưng đó chỉ là những gì họ muốn tin, muốn thấy, muốn nghe, chứ không đưa ra được câu trả lời rõ ràng. Con cũng muốn tin vào một trong số đó để có thêm sức mạnh, nhưng lại không thể tin được. Mọi người xung quanh nói con là người theo chủ nghĩa hư vô. Việc con có thể làm chỉ là sống qua ngày mà thôi.”

이런 이야기를 글로 읽으면 ‘요즘 젊은이답지 않게 거국적으로 좋은 생각을 한다.’라고 보는 사람도 있을 겁니다.

Khi đọc những lời này, có lẽ có người sẽ nghĩ ‘Người trẻ ngày nay thật khác biệt, có những suy nghĩ tốt đẹp mang tầm vóc quốc gia.’

하지만 가만히 들어 보면 이 사람은 욕심이 너무 많아요.

Nhưng nếu lắng nghe kỹ, người này lại có quá nhiều tham vọng.

나도 좀 잘 살고 남한테 좋은 일도 하겠다는 생각부터 욕심이에요.

Ngay cả suy nghĩ muốn sống tốt cho bản thân và làm điều tốt cho người khác cũng đã là tham vọng rồi.

어떤 사람이 제게 찾아와서 말합니다.

Có một người đến tìm tôi và nói.

“스님, 결혼도하고 싶은데, 한편으로는 출가해서 스님처럼 살고도 싶어요.”

“Sư thầy, con vừa muốn kết hôn, lại vừa muốn xuất gia sống như sư thầy.”

이런 말을 들으면 ‘어떻게 젊은 사람이 이런 마음을 먹었나?’ 하면서 기특해할 일입니까?

Nghe những lời này, có đáng để khen ngợi và nghĩ ‘Sao một người trẻ lại có ý nghĩ như vậy?’ không?

아닙니다. ‘이 사람은 욕심 덩어리로구나.’라고 생각해도 좋습니다.

Không phải. Bạn có thể nghĩ ‘Người này là một khối tham vọng.’

그 이유는 뭘까요?

Lý do là gì?

출가한 스님이나 신부님처럼 종교에 귀의해 다른 사람들에게 존경도 받고 싶고, 다른 한편으로는 결혼해서 아기자기한 쾌락과 행복도 누리고 싶은 마음이 공존하는 겁니다.

Đó là sự tồn tại song song giữa mong muốn được mọi người tôn trọng khi quy y theo tôn giáo như các vị sư hay cha xứ, và mặt khác lại muốn kết hôn để tận hưởng những niềm vui và hạnh phúc nhỏ bé.

놀부가 두 손에 떡을 들듯이 양손에 존경과 쾌락 두 개를 움켜쥔 형상이죠.

Giống như lão Nolbu cầm bánh gạo bằng cả hai tay, đó là hình ảnh nắm chặt cả sự tôn trọng và khoái lạc.

그래서 갸륵한 마음이 발심한 것이 아니라 욕심이라고 말한 겁니다.

Vì vậy, tôi nói rằng đó không phải là một tấm lòng đáng quý mà là lòng tham.

질문 한 양반도 뭔가 듣기에는 거창하고 좋은 말 같지만 사실은 욕심이 너무 많아요.

Người hỏi, dù nghe có vẻ cao cả và tốt đẹp, nhưng thực ra lại có quá nhiều tham vọng.

욕심이 많으니까 눈앞에 뭔가가 가려서 아무것도 보이지 않죠.

Vì quá tham lam nên có cái gì đó che mắt, chẳng nhìn thấy gì cả.

우리가 자주하는 말 중에 “욕심에 눈이 어두워 00한다.”라는 말이 있습니다.

Trong những câu nói mà chúng ta thường dùng, có câu “Mắt mờ vì tham vọng mà làm 00.”

또 하나 눈과 관련된 말 중에 화가 너무 날 때 “눈에 보이는 게 없다.”라고 말합니다.

Thêm một câu nói nữa liên quan đến mắt, khi quá tức giận, người ta nói “Không thấy gì trong mắt cả.”

눈이 어둡다 혹은 눈에 뵈는 게 없다는 말은 모두 ‘어리다’는 뜻을 포함하고 있습니다.

Cả hai cụm từ ‘mắt mờ’ hay ‘không thấy gì trong mắt’ đều hàm ý ‘ngu ngốc’.

화가 나면 사람이 어리석어지고, 욕심이 많아도 어리석어집니다.

Khi tức giận, con người trở nên ngu ngốc, và khi quá tham lam cũng trở nên ngu ngốc.

평소 같으면 이성적으로 생각해서 저지르지 않을 일을 살짝 욕심부리면 과용하고 판단도 흐리게 되죠.

Thông thường, nếu suy nghĩ lý trí thì sẽ không làm những việc đó, nhưng nếu có chút tham lam, bạn sẽ lạm dụng và phán đoán cũng sẽ trở nên mờ mịt.

눈에 뵈는 게 없다는 것은 그래서 오히려 일을 그르친다는 뜻이에요.

Việc ‘không thấy gì trong mắt’ thực ra có nghĩa là làm hỏng việc.

지금 인생의 갈피를 못 잡고 할 수 있는 일이라고는 하루하루 살아가는 것밖에 없다고 말하는 것도 자신의 욕심이 너무 많기 때문입니다.

Việc bạn nói rằng hiện tại không tìm được hướng đi trong cuộc đời và chỉ có thể sống qua ngày cũng là vì bạn có quá nhiều tham vọng.

먼저 욕심을 버려야 해요.

Trước hết, bạn phải từ bỏ lòng tham.

그렇지만 ‘욕심’이 버린다고 해서 버려지는 것은 아니죠.

Nhưng ‘tham vọng’ không phải là thứ có thể bỏ đi chỉ bằng cách nói bỏ.

이렇게 한번 생각해보세요.

Hãy thử nghĩ thế này.

지난여름 장마에 농사를 망쳐서 북한에 굶어 죽은 사람이 많다고 해도 내가 모르면 괴로움이 됩니까. 안 됩니까?

Dù có nhiều người chết đói ở Bắc Triều Tiên vì mất mùa do mưa lũ mùa hè năm ngoái, nhưng nếu tôi không biết thì đó có phải là nỗi khổ không? Có hay không?

구제역 때문에 소를 수천 마리 생매장했다는데 그 시간에 나는 인도나 히말라야를 여행하다가 돌아왔어요.

Nghe nói hàng ngàn con bò bị chôn sống vì bệnh lở mồm long móng, trong khi đó tôi đã đi du lịch Ấn Độ hay Himalaya rồi quay về.

그러면 소를 생매장한 사건이 나에게 괴로움이 됩니까, 안 됩니까?

Vậy thì sự việc chôn sống bò đó có gây ra nỗi khổ cho tôi không? Có hay không?

안 됩니다.

Không.

나한테 괴로움이되는 건 실제가 무엇이냐가 아니고 내 마음이 어떤가의 문제예요.

Điều gây ra khổ đau cho tôi không phải là thực tế là gì, mà là vấn đề về tâm trí của tôi.

예를 들어 밤에 비단 이불을 덮고 따뜻하고 편안한 잠자리에서 자다가도 강도에게 쫓기는 꿈을 꾸면 괴로워요, 안 괴로워요?

Ví dụ, vào ban đêm, dù bạn đắp chăn lụa, ngủ trong một chiếc giường ấm áp và thoải mái, nhưng nếu mơ thấy bị kẻ cướp đuổi theo, bạn có đau khổ không? Hay không?

주위에 아무 일 안 생겨도 마음에서 그 환영에 사로잡히면 괴로움이 생기고, 주위에서 난리가 일어나도 내 마음에 아무런 작용이 안 일어나면 괴롭지 않습니다.

Dù xung quanh không có chuyện gì xảy ra, nhưng nếu tâm trí bị cuốn vào ảo ảnh đó thì nỗi khổ sẽ phát sinh; còn nếu xung quanh có loạn lạc nhưng tâm trí tôi không bị ảnh hưởng gì thì tôi sẽ không khổ.

그러니 나의 괴로움은 내 마음에서 일어나는 거지, 바깥 문제 때문에 일어나는 것이 아닙니다.

Vì vậy, nỗi khổ của tôi phát sinh từ chính tâm trí tôi, chứ không phải do vấn đề bên ngoài.

그런데 우리는 착각을 하고 있어요.

Nhưng chúng ta đang lầm tưởng.

남편이 술 마시고 늦게 들어와서, 바람을 피워서, 아내가 내 부모님이랑 사이가 안 좋아서, 자식이 공부를 안 해서, 대학까지 공부시켜 놨더니 다 큰 자식이 취업도 못 하고 집에 있어서, 직장을 얻지 못해서……. 내 마음이 괴로운 건 이것 때문이라고 이야기합니다.

Chúng ta nói rằng trái tim mình đau khổ là vì chồng uống rượu về muộn, ngoại tình, vợ không hòa thuận với bố mẹ mình, con cái không học hành, con đã học đến đại học mà lại không kiếm được việc làm cứ ở nhà, hoặc vì không tìm được việc làm…

아닙니다. 내가 지금 괴로운 이유는 그것 때문이 아니에요.

Không phải. Lý do tôi đang đau khổ bây giờ không phải vì những điều đó.

내 괴로움은 내 마음에서 일어나는 겁니다.

Nỗi khổ của tôi phát sinh từ chính tâm trí tôi.

그러므로 내가 지금 어떤 문제 때문에 괴롭다고 할 때 외부의 사람이나 사물을 탓해서는 문제가 해결되지 않습니다.

Vì vậy, khi tôi nói rằng tôi đang đau khổ vì một vấn đề nào đó, việc đổ lỗi cho người hoặc vật bên ngoài sẽ không giải quyết được vấn đề.

괴로움의 원인은 외부에 있는 것이 아니라 내 마음속에 있기 때문입니다.

Bởi vì nguyên nhân của nỗi khổ không nằm ở bên ngoài mà nằm trong chính tâm trí tôi.

그러니 우리가 마음을 닦고 관리를 잘해야 합니다.

Vì vậy, chúng ta phải tu tâm dưỡng tính và quản lý tốt tâm trí mình.

원효대사가 하신 말씀을 떠올려볼까요?

Chúng ta hãy nhớ lại lời của Thiền sư Wonhyo?

원효대사가 의상대사와 함께 당나라로 유학을 가던 갈에 동굴에서 잠을 청하게 되었습니다.

Trên đường sang Đường du học cùng Thiền sư Uisang, Thiền sư Wonhyo đã nghỉ đêm trong một hang động.

한밤중에 묵이 말라 일어나 어둠 속에 더듬었더니 손끝에 물이 담긴 그릇이 닿았죠.

Giữa đêm, khát nước, ngài tỉnh dậy và mò mẫm trong bóng tối, tay chạm vào một cái bát đựng nước.

시원하게 목을 축이고 다시 잠을 청했습니다.

Ngài uống một cách sảng khoái và lại ngủ tiếp.

다음 날 일어나 보니 간밤에 마신 물은 해골에 고인 썩은 물이었습니다.

Ngày hôm sau tỉnh dậy, ngài nhận ra nước mình uống đêm qua là nước đọng trong hộp sọ đã mục nát.

원효사는 그곳에서 큰 깨달음을 얻고 말합니다.

Thiền sư Wonhyo đã đạt được một sự giác ngộ lớn tại đó và nói:

(심생즉종종법생) 마음이 일어나니 온갖 법이 일어나고.

Tâm sinh thì vạn pháp sinh.

(심멸즉감분불이) 마음이 멸하니 감실과 무덤이 다르지 않네.

Tâm diệt thì am thất và mồ mả không hai.

(삼계유심만법유식) 삼계가 오직 마음일 뿐이요, 만 가지 현상이 오로지 식일 뿐이네.

Tam giới chỉ là tâm, vạn pháp chỉ là thức.

(심외무법호용별구) 마음 밖에 현상이 없거늘 어찌 따로 구하겠는가.

Ngoài tâm không có pháp, hà tất phải tìm cầu riêng.

조금 쉽게 풀자면 ‘한 생각이 일어나니 갖가지 법이 일어나고, 한 생각이 사라진다. 삼계가 허위이니 오직 마음 만이 짓는 것이다.’라는 뜻입니다.

Giải thích một cách đơn giản hơn thì có nghĩa là ‘Một niệm khởi thì vạn pháp khởi, một niệm diệt thì vạn pháp diệt. Tam giới là hư vọng, chỉ do tâm tạo ra.’

또 다른 말로 예로부터 “일체는 유심소조다.”라는 말이 있습니다.

Nói cách khác, từ xa xưa đã có câu “Tất cả do tâm tạo.”

이때 ‘일체’는 온갖 ‘번뇌’라는 뜻이에요.

Ở đây, ‘tất cả’ có nghĩa là ‘mọi phiền não’.

‘돌멩이가 내 마음에서 일어났다는 것이 아니라 모든 괴로움과 번뇌는 다 내 마음이 일으킨 것이다.

Không phải ‘hòn đá xuất hiện trong tâm tôi’ mà là ‘mọi khổ đau và phiền não đều do tâm tôi gây ra.’

일체의 분별은 내 마음이 짓는 바다.’ 이런 뜻이에요.

‘Mọi sự phân biệt đều do tâm tôi tạo ra.’ là ý nghĩa đó.

모든 것이 마음에서 일어나요.

Mọi thứ đều phát sinh từ tâm.

우리가 ‘전도몽상이다.’ ‘착각이다.’ 라고 말하는 것은 다 마음에서 일어나는 괴로움을 두고 하는 말이죠.

Những gì chúng ta nói là ‘điên đảo mộng tưởng’, ‘ảo giác’ đều là những lời nói về nỗi khổ phát sinh từ tâm.

그런데 내 마음에서 일어나는 것을 지금 바깥에서 누군가 나를 괴롭힌다고 착각하고 있습니다.

Nhưng chúng ta lại lầm tưởng rằng những gì phát sinh trong tâm mình là do ai đó bên ngoài đang hành hạ mình.

마치 꿈속에서 강도에게 쫓기던 사람이 ‘사람 살려!’라고 아우성치면서 지금 느끼는 괴로움이 강도 때문에 생긴 거라고 착각하는 것과 같습니다.

Giống như người bị kẻ cướp đuổi trong giấc mơ, la hét ‘Cứu mạng!’ và lầm tưởng rằng nỗi khổ mình đang cảm thấy là do kẻ cướp gây ra.

하지만 옆에서 그 소리를 듣는 사람이 보면 쫓아오는 강도가 있습니까, 없습니까?

Nhưng nếu người bên cạnh nghe thấy tiếng đó, có thấy kẻ cướp nào đuổi theo không? Có hay không?

오히려 ‘잠은 안 자고 무슨 헛소리를 하는 거야?’라고 하겠죠.

Mà có lẽ sẽ nói ‘Không ngủ mà nói linh tinh gì thế?’

자는 사람은 죽을 듯이 괴로워하며 사람 살리라고 아우성을 치지만 깨어 있는 사람은 잠꼬대, 헛소리를 한다고 합니다.

Người đang ngủ thì đau khổ tột cùng, la hét cầu cứu, nhưng người tỉnh táo thì nói đó là nói mê, nói nhảm.

우리가 오늘 괴롭다고 아우 싱 치는 것은 다 잠꼬대와 같습니다.

Những gì chúng ta la hét rằng hôm nay mình khổ đau đều giống như nói mê.

호랑이한테 쫓기는 꿈이든 강도한테 쫓기는 꿈이든 벼랑 끝에서 떨어지는 꿈이든 어떤 꿈을 꾸든지 눈만 뜨고 꿈에서 깨어나면 현실에서는 아무 문제도 없습니다.

Dù là mơ bị hổ đuổi, mơ bị cướp đuổi, hay mơ rơi xuống vực thẳm, dù mơ gì đi nữa, chỉ cần mở mắt và tỉnh dậy khỏi giấc mơ thì trong thực tế sẽ không có vấn đề gì cả.

그래서 우리의 일체 괴로움이란 눈만 뜨면, 즉 깨닫기만 하면 그냥 다 없어져 버리는 거예요.

Vì vậy, mọi nỗi khổ của chúng ta, chỉ cần mở mắt ra, tức là chỉ cần giác ngộ, là chúng sẽ tan biến hết.

그래서 깨달음이 중요하다고 말하는 겁니다.

Vì vậy, người ta nói rằng giác ngộ là quan trọng.

그 깨달음은 마치 악몽에서 깨어나 같습니다.

Sự giác ngộ đó giống như việc tỉnh dậy từ một cơn ác mộng.

눈을 꽉 감아 안 보이다가 눈을 떠보면 본래 아무것도 없었다는 것을 알게 됩니다.

Khi bạn nhắm chặt mắt và không nhìn thấy gì, rồi mở mắt ra, bạn sẽ nhận ra rằng vốn dĩ không có gì cả.

괴로움이 있었는데 그 괴로움이 없어지는 게 아니고 본래 괴로울 일이 없었다는 겁니다.

Không phải là nỗi khổ đã tồn tại rồi biến mất, mà là vốn dĩ không có gì để phải khổ.

아무 일도 없었는데 혼자 환영에 휩싸여서 괴로워했다는 것을 깨닫게 되지요.

Bạn sẽ nhận ra rằng không có chuyện gì xảy ra cả, nhưng mình lại tự mình bị cuốn vào ảo ảnh và đau khổ.

<금강경>에도 그런 환영, 상에 집착하지 말라는 말이 나옵니다.

Trong Kinh Kim Cương cũng có lời dạy không nên chấp trước vào những ảo ảnh, những tướng đó.

“일체 유위법은 여몽환포영”이 그것입니다.

“Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh” chính là điều đó.

모든 것이 꿈같고 환영 같고 물거품 같고 그림자 같고 아침 이슬 같고 번갯불 같다는 말입니다.

Nghĩa là mọi thứ đều như mộng, như huyễn, như bọt nước, như bóng hình, như sương sớm, như chớp nhoáng.

풀이하면 착각이다. 이런 말이에요.

Giải thích ra thì là ‘ảo giác’. Là lời nói như vậy.

그래서 이게 꿈인 줄 알면 금방 눈 뜨면 끝인데 꿈인 줄 모르면 밤새도록 계속 도망 다닌다는 것이죠.

Vì vậy, nếu biết đó là mơ thì chỉ cần mở mắt ra là xong, nhưng nếu không biết là mơ thì sẽ phải chạy trốn suốt đêm.

이제 두 번째 문제를 생각해 봅시다.

Bây giờ, chúng ta hãy suy nghĩ về vấn đề thứ hai.

북한의 어린 아이들이 굶어 죽는데도 나는 몰랐다고 가정해보죠.

Hãy giả sử rằng tôi không biết những đứa trẻ ở Bắc Triều Tiên đang chết đói.

모르면 나한테는 아무 문제가 없지만 그렇다고 굶어 죽는 아이들이 죽지 않습니까?

Nếu tôi không biết thì đối với tôi không có vấn đề gì, nhưng liệu những đứa trẻ chết đói có không chết không?

내가 몰라도 굶어 죽는 건 죽어요.

Dù tôi không biết, những đứa trẻ chết đói vẫn sẽ chết.

그 문제는 내가 눈감는다고 해결되지 않습니다.

Vấn đề đó không thể giải quyết được chỉ vì tôi nhắm mắt.

다시 말하면 내 문제는 내가 스스로 뜨면 해결되지만 세상에서 굶어 죽고 고통받는 중생을 해결하려면 내가 눈을 뜬다고 해결되는 게 아니라는 겁니다.

Nói cách khác, vấn đề của tôi có thể được giải quyết nếu tôi tự mình mở mắt, nhưng để giải quyết vấn đề của chúng sinh đang chết đói và đau khổ trên thế giới thì việc tôi mở mắt không thể giải quyết được.

내가 눈감고 안 본제가 사라지거나 해결되지 않습니다.

Việc tôi nhắm mắt và không nhìn thấy không khiến vấn đề biến mất hay được giải quyết.

내 괴로움은 남과 논의해서 해결되는 게 아니라 내가 깨쳐야 해결이 되고, 고통받는 이웃의 문제를 해결하는 방법은 내가 피한다고 해결되는 게 아니에요.

Nỗi khổ của tôi không phải là thứ có thể giải quyết được bằng cách thảo luận với người khác mà phải là do tôi tự giác ngộ, và cách giải quyết vấn đề của những người láng giềng đau khổ không phải là bằng cách tôi trốn tránh.

내가 피하면 내 속에서 없어진 것이지, 문제는 그대로 남아 있어요.

Nếu tôi trốn tránh, thì nó chỉ biến mất trong tôi, chứ vấn đề vẫn còn đó.

외면한다고 해결되지 않는다는 뜻입니다.

Có nghĩa là phớt lờ không giải quyết được vấn đề.

방법은 우리가 그것을 알아서 구체적으로 해결해 나가야 합니다.

Cách giải quyết là chúng ta phải nhận biết nó và giải quyết một cách cụ thể.

밥이 없어 굶는 아이들에게는 밥을 먹여야 살고, 병든 아이들에게는 약을 줘야 살 수 있습니다.

Những đứa trẻ không có cơm ăn phải được cho ăn thì mới sống được, những đứa trẻ bị bệnh phải được cho thuốc thì mới sống được.

학교도 못 다니고 배울 수 없는 아이들에게는 공부할 수 있는 환경을 만들어줘야 해결되지요.

Với những đứa trẻ không được đi học và không thể học hành, phải tạo ra môi trường học tập thì mới giải quyết được vấn đề.

우리가 이런 문제에 대해 외면하지 않고 불쌍히 여기는 마음을 자비심이라고 말합니다.

Cái tâm không phớt lờ những vấn đề này mà thương xót người khác, chúng ta gọi đó là tâm từ bi.

앞에서 말한 내 고민을 해결하는 데 필요한 내 해달은 지혜의 눈을 뜨면 해결이 되고, 불쌍한 중생들을 구제하는 것은 내가 불쌍히 여기고 연민하는 마음이 있어야 해결할 수 있습니다.

Việc giải quyết những nỗi lo lắng của bản thân mà tôi đã nói ở trên sẽ được giải quyết khi tôi mở đôi mắt của trí tuệ, và việc cứu giúp những chúng sinh đáng thương chỉ có thể thực hiện được khi tôi có lòng thương xót và bi mẫn.

연민의 마음에는 종교나 피부색, 제도나 이념이 다르다는 조건이 의미가 없습니다.

Trong lòng bi mẫn, điều kiện khác biệt về tôn giáo, màu da, thể chế hay ý thức hệ đều không có ý nghĩa gì.

북한의 아이들이든 아프가니스탄의 아이들이든 국가도 의미가 없어요.

Dù là trẻ em Bắc Triều Tiên hay trẻ em Afghanistan, quốc gia cũng không có ý nghĩa.

똑같은 사람이기 때문에 안타까워하고 슬퍼할 뿐입니다.

Chỉ vì họ là con người giống nhau nên chúng ta cảm thấy tiếc thương và đau buồn.

일본과 우리는 과거 역사적으로 아픔이 있었고, 지금도 독도 문제 등으로 분쟁하고 있습니다.

Nhật Bản và chúng ta có những nỗi đau lịch sử trong quá khứ, và hiện tại vẫn đang tranh chấp về vấn đề Dokdo, v.v.

그렇지만 일본 동북부에서 지진이 일어 나고 쓰나미가 발생해 마을이 산산조각 부서지듯 사라진 사건을 보면 마음이 아프죠.

Thế nhưng, khi nhìn thấy sự việc trận động đất và sóng thần xảy ra ở vùng đông bắc Nhật Bản, khiến các làng mạc tan nát như bị xé vụn, biến mất, thì lòng ta đau xót.

정치적으로 밉다고 ‘에잇, 그거 천벌받았다.’라고 생각하는 사람은 없을 겁니다.

Chắc sẽ không có ai vì ghét chính trị mà nghĩ ‘Ôi, đó là quả báo trời giáng.’

일본이 밉더라도 인간의 힘으로 해결할 수없는 엄청난 자연재해 앞에서 재산도 잃고 가족도 잃어버린 사람들이 흘리는 눈물을 보면 마음 아프고 안타까워하면서 작은 돈이라도 성금을 내고 돕고 싶어합니다.

Dù ghét Nhật Bản đến mấy, nhưng khi nhìn thấy những giọt nước mắt của những người mất tài sản, mất gia đình trước thảm họa thiên nhiên khủng khiếp mà sức người không thể giải quyết được, chúng ta đều cảm thấy đau lòng, tiếc thương và muốn quyên góp một chút tiền để giúp đỡ.

이런 마음을 자비심이라고 합니다.

Tâm trạng này được gọi là tâm từ bi.

불교의 핵심은 시혜와 자비라고 할 수 있습니다.

Cốt lõi của Phật giáo có thể nói là bố thí và từ bi.

부처님은 지혜와 자비를 구족하신 분이라고 말합니다.

Người ta nói rằng Đức Phật là người viên mãn cả trí tuệ và từ bi.

지혜는 자기를 해탈시키고 자신의 행복을 만끽하는 것이고, 자비는 남의 고통을 덜 어주는 구체적인 실천 행위입니다.

Trí tuệ là giải thoát cho bản thân và tận hưởng hạnh phúc của chính mình, còn từ bi là hành động cụ thể giúp giảm bớt khổ đau cho người khác.

불교 신자를 불자라고 하는데, 불자란 아버지인 부처님을 따라 지혜와 자비를 갖춘 거룩한 인물이 되고자 노력하는 존재라는 뜻을 포함하고 있습니다.

Người tín đồ Phật giáo được gọi là Phật tử, và Phật tử hàm ý là một người cố gắng trở thành một nhân vật cao cả, có trí tuệ và từ bi theo gương Đức Phật Cha.

오늘 우리는 법의 이치를 확연히 꿰뚫어서 자기를 해탈시키는 지혜도 없고, 이웃의 아픔을 내 아픔처럼 느끼고 해결하는 자비의 마음이나 행위도 없습니다.

Ngày nay, chúng ta không có trí tuệ để thấu suốt lý lẽ của pháp mà giải thoát cho chính mình, cũng không có tấm lòng từ bi hay hành động để cảm nhận và giải quyết nỗi đau của người lân cận như nỗi đau của chính mình.

왜 이렇게 우리가 지혜도 자비도 없을까요?

Tại sao chúng ta lại thiếu cả trí tuệ và từ bi như vậy?

세 가지에 눈이 어두워졌기 때문입니다.

Bởi vì mắt chúng ta đã bị mờ đi bởi ba điều.

첫째는 탐욕입니다. 욕심에 눈이 멀어 어두워 졌어요.

Thứ nhất là tham lam. Mắt đã bị mù quáng vì lòng tham.

두 번째는 진애 때문입니다.

Thứ hai là do sân hận.

내 생각대로 풀리지 않는다고 화를 내고 성내는 것이죠.

Đó là việc tức giận và nổi nóng khi mọi việc không diễn ra theo ý mình.

일본에서 일어난 지진을 두고 일부에서 천벌을 받았다고 말한 것도 이 때문입니다.

Việc một số người nói rằng trận động đất ở Nhật Bản là do quả báo trời giáng cũng là vì lý do này.

나도 모르게 화를 내고 안 받아주니까 미운 마음에 벌 받았다는 말까지 나오게 된 것이죠.

Vô thức mà tức giận và không chấp nhận, nên trong lòng căm ghét mà nói ra những lời như ‘bị trừng phạt’.

마지막으로 세 번째는 진리에 어두운 무지입니다.

Cuối cùng, thứ ba là vô minh, sự u tối đối với chân lý.

이 세 가지 원인이 우리의 자기 해탈도 막고 중생 구제도 막고 있습니다.

Ba nguyên nhân này đang ngăn cản chúng ta tự giải thoát và cứu độ chúng sinh.

“나는 앞으로 대통령이 될 거야’.”라고 어린아이가 말합니다.

Một đứa trẻ nói: “Con sẽ trở thành tổng thống trong tương lai.”

이럴 때 대통령이 되겠다는 생각은 욕심이 아닙니다.

Lúc này, ý nghĩ muốn trở thành tổng thống không phải là tham vọng.

욕심이란 상호 모순 된 문제를 해결하려고 할 때를 말합니다.

Tham vọng là khi bạn cố gắng giải quyết những vấn đề mâu thuẫn lẫn nhau.

내 문제도 해결이 안 되면서 남을 위해서 좋은 일을 하고 싶어하면 그것은 자기 욕심에서 하는 말에 지나지 않습니다.

Nếu vấn đề của bản thân còn chưa giải quyết được mà lại muốn làm việc tốt cho người khác, thì đó chẳng qua là lời nói xuất phát từ lòng tham của mình.

처음에 고민을 털어놓은 이 사람은 남에게 조금 도움이 되는 일을 해야겠다고 말했는데 이 말을 달리 표현하면 다른 사람에게 좋은 평가를 듣고 싶다는 말이에요.

Ban đầu, người chia sẻ nỗi lo lắng đã nói rằng muốn làm việc gì đó có ích cho người khác, nhưng nói cách khác, điều đó có nghĩa là người đó muốn nhận được sự đánh giá tốt từ người khác.

불교에서는 큰 상 작은 상 따지지 말고 아무런 대가없는 보시를 해 라, 상을 바라지 말라고 가르칩니다.

Trong Phật giáo, người ta dạy rằng đừng quan tâm đến phước báu lớn hay nhỏ, hãy bố thí mà không mong cầu gì, đừng mong đợi phần thưởng.

그럴 때 무주상보시의 공덕이 상상을 초월한다는 것이죠.

Khi đó, công đức của bố thí vô tướng là không thể tưởng tượng nổi.

바람이 없는 보시를 하면 삼천 대천세계에 칠보로 가득히 채워서 보시하는 것보다 더 크다고 말합니다.

Người ta nói rằng nếu bố thí mà không có mong cầu, thì công đức đó còn lớn hơn việc bố thí bằng cách lấp đầy Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới bằng bảy báu vật.

남을 도와 줄 때 거기에 대한 칭찬을 받고 싶거나 보상을 받고 싶은 마음 없이 돕는다면 그렇다는 겁니다.

Điều đó có nghĩa là nếu bạn giúp đỡ người khác mà không mong muốn được khen ngợi hay nhận phần thưởng nào cả.

그러니 먼저 내 문제를 살펴볼 수 있는 지혜의 눈을 떠야 합니다.

Vậy thì, trước hết, bạn phải mở đôi mắt của trí tuệ để nhìn nhận vấn đề của chính mình.

나에게 지금 무슨 문제가 있는지 꿈에서 깨어나 듯 내면의 문제들을 살피고 해결 방법을 찾아야 해요.

Bạn cần xem xét những vấn đề bên trong mình như thể tỉnh dậy từ giấc mơ và tìm cách giải quyết chúng.

그렇게 자기 해탈을 이루고 나면 다른 사람에게 도움 되는 일을 실천할 수 있지요.

Khi đạt được sự giải thoát cho bản thân như vậy, bạn có thể thực hành những việc có ích cho người khác.

누구의 칭찬을 바라고하는 일이 아니라 그야말로 순수한 의미의 보시를 행동으로 옮길 수 있는 거예요.

Đó không phải là việc làm để mong đợi lời khen của ai đó, mà là việc thực hành bố thí theo nghĩa thuần túy nhất.

영어도, 상식도, 제2외국어 공부도 좋습니다.

Học tiếng Anh, kiến thức tổng quát, và cả ngoại ngữ thứ hai đều tốt.

단, 남들 따라하는 억지 공부는 하지 마세요.

Tuy nhiên, đừng học một cách ép buộc chỉ vì thấy người khác làm.

입시 때문에 취업 때문에 하는 공부가 아니라 나 스스로 주인이 되어 내가 하고 싶고 필요해서 하는 공부가 내 것입니다.

Việc học không phải vì thi cử hay xin việc, mà là việc học mà bạn tự mình làm chủ, học vì bạn muốn và cần, đó mới là của bạn.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM –  0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM  – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM  – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM  – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM  –  0776 000 931   
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương  – 0778 748 418 
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo