Sách viết nhà sư Pháp Luân

Phần 15. 회사 가기 싫은 사람

Người không muốn đi làm

“7년 전에 정말 고생해서 간신히 좋은 직장에 들어갔습니다. 그 순간은 너무 행복했는데, 이후로는 너무 힘이 들었습니다. 가장 큰 고민은 조직 생활에 대한 부적응이에요. 이익 창출만을 위해서 인간을 비인간적으로 몰아붙이는 문화가 적응하기 어렵고 너무 큰 스트레스 임니다.”

“7 năm trước, tôi đã rất vất vả mới vào được một công ty tốt. Khoảnh khắc đó tôi rất hạnh phúc, nhưng sau đó thì quá sức. Nỗi lo lớn nhất là không hòa nhập được với cuộc sống tổ chức. Văn hóa đẩy con người vào trạng thái phi nhân tính chỉ để tạo ra lợi nhuận rất khó thích nghi và gây áp lực lớn.”

“그중에서도 가장 험 들게 하는 일은 무엇인가요?”

“Trong số đó, điều gì làm bạn vất vả nhất?”

“가장 힘든 건 사람들과의 관계입니다. 뽑만 나면 다른 사람을 비난하고 험담하는 분위기에요. 사림뿐 아니라 조직에 대한 불평불만을들이 놓는 사람도 많습니다. 어울리다 보면 저도 같이 물 들어서 같이 불평하고 욕합니다.”

“Điều khó khăn nhất là các mối quan hệ với mọi người. Cứ gặp nhau là lại có không khí chỉ trích, nói xấu người khác. Không chỉ con người mà còn nhiều người than phiền, bất mãn về tổ chức. Cứ hòa nhập vào là tôi cũng bị cuốn theo, cùng than phiền và chửi bới.”

“다른 사람들과 어울리다 보니 나도 모르게 나쁜 물이 들었다는 뜻 이죠?”

“Ý bạn là khi hòa nhập với người khác, mình cũng vô tình bị ảnh hưởng bởi những điều xấu phải không?”

“문제는 저에게 있다고 생각합니다. 본래부터 성격이 소심하고 남의 눈치를 살피며 예민한 편입니다. 기억을 더듬어 보면 유치원 때부터 남과 어울리는 걸 정말 싫어했습니다. 유치원, 초등학교, 중학교 계속 너무 다니기 싫었어요. 그래도 대학에는 들어가야 하니까 간신히 다니고, 직장도 다녀야 하니까 간신히 들어가서 ‘버텨야 지.’하고 있어요. 하지만 직장 생활은 어차피 끝을 내가내는 거니까, 언제까지 버텨야하는지 고민이에요. 지금이라도 제 성격에 맞는 저 혼자 할 수 있는 일을 찾아야할까요? 아니면 지금 직장에서 어떻게든 헤쳐나가려고 노력을 해야할까요?”

“Tôi nghĩ vấn đề nằm ở bản thân mình. Vốn dĩ tính cách tôi nhút nhát, hay để ý người khác và khá nhạy cảm. Nếu nhớ lại thì từ mẫu giáo tôi đã rất ghét giao du với người khác. Mẫu giáo, tiểu học, trung học, tôi luôn không muốn đi học. Dù vậy, vì phải vào đại học nên tôi cố gắng đi học, và vì phải đi làm nên tôi cố gắng vào công ty rồi tự nhủ ‘phải chịu đựng’. Nhưng cuộc sống công sở dù sao cũng là do mình tự kết thúc, nên tôi băn khoăn không biết phải chịu đựng đến bao giờ. Liệu bây giờ tôi có nên tìm một công việc phù hợp với tính cách của mình, nơi tôi có thể làm một mình không? Hay tôi nên cố gắng vượt qua ở công ty hiện tại?”

요즘처럼 취직하기 어려운 시대에 도서관에서 책을 파는 학생들이 이 얘기를 들으면 ‘그것도 고민 이냐?라고 할지도 모릅니다. 하지만 직장 생활 7년 차라는 이분은 회사 일만 생각하면 마음이 너무 괴롭고 답답하다며 눈물을 글썽였습니다.

Trong thời đại khó xin việc như hiện nay, nếu những sinh viên đang bán sách ở thư viện nghe câu chuyện này, có lẽ họ sẽ nói ‘Đó cũng là nỗi lo sao?’. Nhưng người phụ nữ đã đi làm 7 năm này, khi nghĩ đến công việc ở công ty, lại cảm thấy quá đau khổ và bức bối, nước mắt cô ấy cứ lưng tròng.

이 고민을 해결하기 전에 한 가지 재미있는 이야기를 해 드리죠.

Trước khi giải quyết vấn đề này, tôi xin kể một câu chuyện thú vị.

하루는 어떤 부인이 저한테 와서 아이가 공부 못한다며 호소했어요.

Một ngày nọ, có một người phụ nữ đến gặp tôi than thở rằng con mình học không giỏi.

그래서 제가 몇 등이나 하느냐고 물었습니다.

Vì vậy tôi hỏi cháu bé đứng thứ mấy.

“5등이요. 반에서 5등 헤서는 서울대는 어림없고 연고대도 못 가요. 어쩌면 좋아요, 스님!”

“Thứ 5 ạ. Đứng thứ 5 trong lớp thì không thể vào Seoul National University, mà Yeonsei hay Korea University cũng không được. Phải làm sao đây, sư thầy!”

그분이 한참 불평을 하고 돌아가고서 다른 분이 왔습니다. 역시 자녀에 대한 고민을 털어놓았습니다.

Sau khi người phụ nữ đó than phiền một lúc rồi về, một người khác đến. Cũng là kể về nỗi lo về con cái.

“우리 애는 반에서 겨우 10등이에요. 대학은 도대체 어달 가야 할지, 제가 걱정이 너무 많아요.”

“Con tôi chỉ đứng thứ 10 trong lớp thôi. Không biết phải vào trường đại học nào nữa, tôi lo lắng quá.”

그래서 제가 앞에 찾아오셨던 분도 아이 때문에 고민이 많더라고 말했습니다.

Vì vậy tôi nói rằng người vừa đến trước cũng rất lo lắng vì con cái.

“그 집 애는 몇 둥 한대요?”

“Con nhà đó đứng thứ mấy?”

“5등 정도라고 합디다.”

“Nghe nói khoảng thứ 5.”

“아이고! 5등 하면 됐지요. 뭐가 고민이래요? 10등 정도면 연고대는 고사하고 서울에 있는 4년제 대학도 갈까 말까하는 처지예요.”

“Trời ơi! Thứ 5 là được rồi còn gì mà lo lắng? Thứ 10 thì đừng nói đến Yeonsei hay Korea University, ngay cả trường đại học 4 năm ở Seoul cũng chưa chắc vào được.”

그분이 돌아가고 또 다른 부인 한 분이 오셨습니다. 역시 똑같은 자 녀 문제였습니다. 제가 앞서 찾아오셨던 분들의 이야기를 하자 이렇게 말했습니다.

Người phụ nữ đó về, rồi một người phụ nữ khác lại đến. Cũng là vấn đề về con cái giống hệt. Khi tôi kể chuyện của những người đã đến trước, bà ấy nói thế này:

“10등이나 하는데 무슨 걱정이래요? 저는 중간만 해도 좋겠어요, 정말.”

“Đứng thứ 10 mà có gì phải lo? Tôi chỉ cần con mình đạt mức trung bình là tốt lắm rồi, thật đấy.”

그다음으로 또 다른 분이 와서 비슷한 고민을 털어놓았습니다.

Sau đó, một người khác lại đến và kể về nỗi lo tương tự.

“우리 아들은 꼴찌예요, 꼴찌. 제가 아주 창피해서 얼굴을 들고 다닐 수가 없어요. 제 소원은 중간이고 뭐고 꼴찌만 면하는 거예요.”

“Con trai tôi là đội sổ, đội sổ đó. Tôi xấu hổ đến nỗi không dám ngẩng mặt lên. Ước mơ của tôi là chỉ cần thoát khỏi vị trí đội sổ thôi, không cần gì khác cả.”

그다음에 찾아오신 분이 말했습니다.

Người đến sau đó nói:

“그래도 그 집 애는 학교는 다니잖아요. 우리 애는 학교에 안 가겠다고 해서 골치가 아파요.”

“Dù sao thì con nhà đó cũng đi học mà. Con tôi lại không chịu đi học, đau đầu quá.”

그 뒤에 오신 분은 기막히다는 듯이 이렇게 말했습니다.

Người đến sau đó nữa nói với vẻ ngỡ ngàng:

“학교 안 가는 거요? 그게 무슨 격정이에요. 저는 사고만 안 치면 좋겠어요.”

“Chuyện không đi học ư? Đó có phải là nỗi lo gì đâu. Tôi chỉ cần con không gây rắc rối thôi.”

그 뒤에 찾아오신 분은 한숨과 함께 이렇게 말했습니다.

Người đến sau đó nữa thở dài và nói:

“아이들이 자라면서 사고도 치고 속도 좀 썩이고 그러는 게 당연하죠. 사고 치고, 설사 감옥에가 있어도 다 살아 있잖아요. 우리 아들은 죽었어요.”

“Trẻ con lớn lên thì gây rắc rối, làm mình phiền lòng là chuyện đương nhiên thôi. Gây rắc rối, dù có vào tù thì cũng còn sống. Con trai tôi đã chết rồi.”

이 이야기를 들으면 어떤 생각이 떠오르나요?

Nghe câu chuyện này, bạn nghĩ đến điều gì?

사람은 누구나 하나씩은 걱정을 품고 있습니다.

Mỗi người đều ôm trong mình ít nhất một nỗi lo lắng.

문제는 이 걱정이 끝이 없다는 겁니다.

Vấn đề là nỗi lo lắng này không có hồi kết.

내가 원하는 바람이 이뤄지면 무슨 격정이 있을까 하고 생각하기 쉽습니다.

Chúng ta dễ nghĩ rằng nếu điều mình mong muốn được thực hiện thì sẽ không còn lo lắng gì nữa.

하지만 막상 소원하던 일을 이루고 나면 새로운 욕구, 욕망, 바람이 또 생깁니다.

Nhưng khi thực sự đạt được điều mình ao ước, những nhu cầu, ham muốn, mong muốn mới lại xuất hiện.

그게 이뤄지지 않으면 또다시 괴로움이 나를 괴롭힙니다.

Nếu những điều đó không thành hiện thực, nỗi khổ lại tiếp tục giày vò tôi.

그래서 우리 인생은 고뇌가 끝이 없다고 말합니다.

Vì vậy, người ta nói rằng cuộc đời chúng ta không ngừng khổ đau.

우리가 바라는 욕구를 채워서 문제를 해결하려고 하면 욕심이 끝이 없습니다.

Nếu chúng ta cố gắng giải quyết vấn đề bằng cách thỏa mãn những ham muốn của mình, thì lòng tham sẽ không có giới hạn.

문제를 해결하는 유일한 방법은 적당한 선에서 만족할 줄 아는 것입니다.

Cách duy nhất để giải quyết vấn đề là biết đủ và hài lòng ở một mức độ thích hợp.

적정선이라는 것이 무엇이냐고요?

‘Mức độ thích hợp’ là gì?

위의 부모님들을 예로 들어 보죠.

Hãy lấy ví dụ về những bậc cha mẹ ở trên.

우리는 끊임없이 다른 사람과 비교를 하면서 삽니다.

Chúng ta sống trong sự so sánh không ngừng với người khác.

예를 들어 아이가 반에서 10등을 한다고 가정해봅시다.

Ví dụ, hãy giả sử con bạn đứng thứ 10 trong lớp.

‘꼴찌 하는 애도 있는데 10등 하면 잘하는 거지.’

‘Có đứa đội sổ mà, thứ 10 là giỏi rồi.’

’10등 안에 들지 못하는 애가 절반도 훨씬 넘는데 5등 하면 됐지. 똑같은 상황에서 생각이 얼마나 다를 수 있는지 알겠죠?

‘Hơn một nửa số đứa trẻ không lọt vào top 10, vậy thứ 5 là được rồi. Bạn thấy đấy, cùng một tình huống nhưng suy nghĩ có thể khác biệt đến nhường nào?’

이렇게 사물을 긍정적으로 보는 자세가 우리에게 필요합니다.

Chúng ta cần có thái độ nhìn nhận mọi thứ một cách tích cực như vậy.

사물을 긍정적으로 보면 좋은 점은 크게 두 가지입니다.

Nhìn nhận mọi thứ tích cực có hai lợi ích lớn.

첫째로 마음이 가볍고 편안하고, 둘째로 우리의 몸과 마음속에서 생기 있는 에너지가 솟아납니다.

Thứ nhất, tâm hồn nhẹ nhàng và thoải mái; thứ hai, năng lượng tràn đầy sức sống tuôn trào từ cả thể xác và tinh thần chúng ta.

여자로 비유하면 화장을 안 해도 얼굴이 화사하고 예뻐 보이고, 남자로 비유하면 울룩불룩하게 생겼지만 성형수술을 안 해도 호감이 가는 우리가 바라는 욕구를 채워서 문제를 해결하려고 하면 인상을 풍깁니다.

Ví von với phụ nữ thì dù không trang điểm vẫn trông tươi tắn và xinh đẹp. Ví von với đàn ông thì dù có vẻ ngoài thô kệch nhưng không cần phẫu thuật thẩm mỹ vẫn toát ra sức hút mà chúng ta mong muốn để giải quyết vấn đề bằng cách thỏa mãn ham muốn.

위의 고민을 상담하신 분 이야기를 가만히 들어보면 매사에 부정적으로 사물을 본다는 것을 느낄 수 있습니다.

Lắng nghe câu chuyện của người đã tư vấn ở trên, bạn có thể cảm nhận rằng họ luôn nhìn nhận mọi thứ một cách tiêu cực.

그것이 전부 자신의 카르마입니다.

Đó chính là nghiệp của bản thân.

문제는 최근에 갑자기 생긴 습성이 아나라 유치원 때부터 갖고 있던 본인의 성격 문제입니다.

Vấn đề không phải là một thói quen mới xuất hiện gần đây, mà là vấn đề về tính cách của bản thân đã có từ khi còn học mẫu giáo.

이런 분이 결혼하면 어떨까요?

Một người như vậy nếu kết hôn thì sao nhỉ?

처음에는 직장 문제로 고민하던 사람이니 결혼하면서 화사를 그만두면 고민이 전부 사라질 거로 생각할 겁니다.

Ban đầu, người đang lo lắng về công việc sẽ nghĩ rằng nếu kết hôn và nghỉ việc thì mọi lo lắng sẽ biến mất.

복잡한 인간관계로 속 썩을 일도 없고 남편 한 명과만 관계를 맺으면 되니까 하고 간단히 생각할 수 있어요.

Họ có thể nghĩ đơn giản rằng sẽ không phải đau đầu vì những mối quan hệ phức tạp, chỉ cần duy trì mối quan hệ với một người chồng là đủ.

하지만 단언컨대 몇 년이 지나면 ‘이 남자하고 평생을 어떻게 사나?’ 하면서 버티기를 할 겁니다.

Nhưng tôi dám khẳng định rằng chỉ vài năm sau, họ sẽ bắt đầu chịu đựng và tự hỏi ‘Làm sao mình có thể sống cả đời với người đàn ông này đây?’.

지금은 내 업식이 직장에 쏠려 있지만 직장을 그만두면 남편이나 다른 가족 등에게 쏠릴 것이 분명하기 때문입니다.

Bởi vì hiện tại nghiệp thức của bạn đang tập trung vào công việc, nhưng nếu bạn nghỉ việc, nó chắc chắn sẽ chuyển sang chồng hoặc các thành viên khác trong gia đình.

이것은 어디를 가도 나타납니다.

Điều này xuất hiện ở bất cứ đâu.

왜냐하면 그 업식이 바깥이나 다른 사람이 아니라 나한테 있기 때문입니다.

Bởi vì nghiệp thức đó không ở bên ngoài hay ở người khác, mà ở chính tôi.

언제나 그럼자처럼 내 주변을 맴돌다 늘 따라다니며 나타납니다.

Nó luôn lảng vảng quanh tôi như một cái bóng, luôn theo sát và xuất hiện.

지금까지는 용케 학창 시절도 직장도 버티고 있지만 결코 한순간도 행복하지 못했을 겁니다.

Cho đến nay, bạn đã may mắn vượt qua được thời học sinh và cả công việc, nhưng chắc chắn chưa từng có một khoảnh khắc nào thực sự hạnh phúc.

이렇게 오래 살면 뭐 합니까?

Sống lâu như vậy thì có ích gì?

한순간을 살더라도 자유롭고 행복하게 살다가 죽는 게 인간이 누려야 할 삶 아니겠어요?

Dù chỉ sống một khoảnh khắc, chẳng phải cuộc đời mà con người nên hưởng là sống tự do và hạnh phúc rồi chết sao?

지금까지 나 자신에게는 사물을 부정적으로 보는 업식, 습관이 있어요.

Cho đến nay, tôi vẫn có nghiệp thức, thói quen nhìn nhận mọi thứ một cách tiêu cực.

업식이란 인도 말로 카르마라고 하는데 나도 모르게 의식화되어 세계를 보는 착각의 잣대, 선입과을 말합니다.

Nghiệp thức, hay còn gọi là Karma trong tiếng Ấn Độ, là thước đo sai lầm, là định kiến vô thức mà tôi dùng để nhìn thế giới.

진실과 무관하게 내가 미리 단정하고 내 잣대로 왜곡해서 오해를 일으키는 우를 범하는 것입니다.

Đó là việc tôi tự ý kết luận trước, bóp méo sự thật bằng thước đo của mình, gây ra hiểu lầm.

제가 하는 이야기를 듣고도 긍정적으로 보지 않고 ‘그래서? 내 고민을 해결해주는 것도 아니잖아.’라는 식으로 부정적인 면이 저절로 일어나는 것이죠.

Ngay cả khi nghe câu chuyện của tôi, bạn vẫn không nhìn nhận tích cực mà tự động nảy sinh những mặt tiêu cực như ‘Vậy thì sao? Cũng đâu giải quyết được nỗi lo của mình.’

한상 부정적인 입장에서 보기 때문에 본인 인생이 피곤한 거예요.

Vì bạn luôn nhìn từ góc độ tiêu cực, nên cuộc đời của chính bạn trở nên mệt mỏi.

이제부터라도 극복해야 합니다.

Ngay từ bây giờ, bạn phải vượt qua điều đó.

매사 사물을 긍정적으로 보는 연습을 자꾸 해야 해요.

Bạn phải liên tục luyện tập cách nhìn nhận mọi thứ một cách tích cực.

회사 업무나 회사에 달닐까 말까를 더 이상 고민하지 마세요.

Đừng bận tâm nữa về công việc công ty hay việc có nên tiếp tục đi làm hay không.

그것보다 먼저 회사를 내 부정적으로 보는 내 태도와 습관을 고쳐야 합니다.

Trước hết, bạn phải sửa đổi thái độ và thói quen nhìn nhận công ty một cách tiêu cực.

그러나 회사를 내 잘못된 습관을 고치기 위한 연습장소로 여겨버리는 겁니다.

Thay vào đó, hãy coi công ty là nơi để bạn luyện tập sửa chữa những thói quen xấu của mình.

불교적으로 말하면 회사를 곧 내 수행 도량으로 삼는 셈이죠.

Nói theo Phật giáo, coi công ty là đạo tràng tu hành của mình.

사소한 실천 방법은 사람들이 남을 흉보면서 뒤에서 욕할 때 나는 동참하지 않고 욕하지 않는 것부터 행동으로 옮깁시다.

Một cách thực hành nhỏ là hãy bắt đầu bằng việc không tham gia và không chửi bới khi người khác nói xấu và chửi rủa sau lưng.

남들이 전부 하는데 어떻게 나만 안 할 수 있느냐고 묻겠죠?

Bạn sẽ hỏi rằng tất cả mọi người đều làm, sao mình tôi lại không làm được?

남이 하든지 말든지, 나는 안 하는 연습을 해보는 겁니다.

Mặc kệ người khác làm hay không, hãy luyện tập để mình không làm.

우리가 살면서 남의 말을 얼마나 열심히 듣는다고 남이 욕하는 버릇까지 따라 해야 하나요?

Trong cuộc sống, chúng ta lắng nghe lời người khác chăm chú đến mức nào mà phải bắt chước cả thói quen chửi rủa của họ?

그럼에도 자꾸 남을 따라서 똑같이 행동하면 지금까지 살아온 습관대로 삶의 패턴대로 가는 것이죠.

Dù vậy, nếu bạn cứ tiếp tục làm theo người khác một cách y hệt, thì đó là bạn đang đi theo thói quen và khuôn mẫu cuộc sống đã có từ trước đến nay.

그걸 안 하는 연습을 자꾸 반복해보라는 뜻입니다.

Điều đó có nghĩa là bạn phải liên tục luyện tập để không làm điều đó nữa.

직장 동료들이 다른 사람 흉을 보고, 회사에 대해 불평불만을 아놓을 때 나는 동조하지 않고 흉보지 않기를 실천하는 겁니다.

Khi đồng nghiệp nói xấu người khác và than phiền về công ty, tôi sẽ thực hành việc không đồng tình và không nói xấu.

“남들이 다른 사람을 비난할 때 무심코 따라 하는 게 아니라 잠자코 나만이라도 욕을 안 하실 수 있겠어요?”

“Khi người khác chỉ trích người khác, bạn có thể im lặng và không chửi rủa, thay vì vô tình làm theo không?”

“네, 앞으로 욕하기 않기를 목표로 세우고 해보겠습니다.”

“Vâng, cháu sẽ đặt mục tiêu không chửi rủa và thử xem ạ.”

욕 안 하기는 목표로 세웠지만 현실적으로 다른 사람이 욕을 할 때 나도 모르게 하게 될 겁니다.

Dù đã đặt mục tiêu không chửi rủa, nhưng trên thực tế, khi người khác chửi rủa, bạn sẽ vô thức làm theo.

사람의 의지가 강하지 못히기 때문이죠.

Bởi vì ý chí của con người không đủ mạnh.

하지만 그전과 분명히 차이는 있을 겁니다.

Nhưng chắc chắn sẽ có sự khác biệt so với trước đây.

내가 욕을 안 하기로 했기 때문에 적어도 남들 따라 욕하는 자신을 돌아보게 됩니다.

Vì tôi đã quyết định không chửi rủa, nên ít nhất tôi sẽ tự nhìn lại bản thân khi mình chửi rủa theo người khác.

이때 자신이 사물을 부정적으로 생각하는 습관이 있기 때문에 ‘나는 안 되는 인간이야. 이것 봐. 목표를 세워도 난 늘 안 돼.’ 하고 생각하기 쉬워요.

Lúc này, vì có thói quen suy nghĩ tiêu cực về mọi việc, bạn dễ dàng nghĩ rằng ‘Mình là kẻ vô dụng. Nhìn xem. Dù đặt mục tiêu gì thì mình cũng luôn thất bại.’

그런 생각이 떠오르는 것을 가장 주의해야 합니다.

Bạn phải đặc biệt cẩn thận khi những suy nghĩ đó nảy sinh.

‘이번에는 안 됐구나. 나도 모르게 끌려갔네. 또 부정적으로 보는 데 동조했네.’ 실패해도 다음번에는 잘해보겠다는 의지로 그 상황 자체를 연습으로 생각해야 합니다.

‘Lần này lại không được rồi. Mình lại vô thức bị cuốn theo. Lại đồng tình với cách nhìn tiêu cực rồi.’ Dù thất bại, bạn vẫn phải coi tình huống đó như một buổi luyện tập với ý chí sẽ làm tốt hơn vào lần sau.

또 하나, 고민을 털어놓은 분의 이야기 속에서 회사가 비인간적으로 몰아붙인다고 했습니다.

Một điều nữa, trong câu chuyện của người đã thổ lộ nỗi lòng, họ nói rằng công ty đẩy con người vào trạng thái phi nhân tính.

이때도 비인간적이라는 생각은 하지 마세요.

Lúc này, cũng đừng nghĩ rằng đó là phi nhân tính.

물론 회사 조직 내에는 비인간적인 요소도 있습니다.

Tất nhiên, trong tổ chức công ty cũng có những yếu tố phi nhân tính.

그 불합리한 회사의 구조를 고치려면 나를 먼저 고치야 합니다.

Để sửa chữa cấu trúc công ty bất hợp lý đó, bạn phải sửa chữa bản thân trước.

나를 고치야 그다음에 회사 조직도 고칠 수 있습니다.

Chỉ khi bạn sửa chữa bản thân, sau đó bạn mới có thể sửa chữa tổ chức công ty.

나조차 못 하는 걸 회사 탓만 해서야 아무것도 변할 수 없잖아요.

Ngay cả điều mình không làm được mà cứ đổ lỗi cho công ty thì chẳng có gì thay đổi được cả.

그런데 지금까지의 이야기로 미루어볼 때 이 양반은 세상을 고치고 회사를 고칠 만한 연량이 안 되는 사람이에요.

Nhưng qua những câu chuyện cho đến nay, có thể thấy người này không có đủ khả năng để thay đổi thế giới hay công ty.

우선 본인 인생부터 똑바로 살아야 할 사람이거든요.

Trước hết, họ là người cần phải sống cuộc đời của mình một cách đúng đắn.

두 번째 실천 방법은 회사에서 맡은 일을 ‘기꺼이 하겠습니다.’, ‘네, 해보겠습니다.’ 하고 긍정적으로 받아보세요.

Phương pháp thực hành thứ hai là hãy chấp nhận công việc được giao ở công ty một cách tích cực, bằng cách nói ‘Tôi sẵn lòng làm.’ hoặc ‘Vâng, tôi sẽ thử.’

회사에서 주어진 일이라면 야근이든 이른 출근이든 장시간 업무가 요구되는 프로젝트든 모두 긏정적으로 임하는 겁니다.

Dù là công việc được giao ở công ty, dù là làm thêm giờ, đi làm sớm hay dự án đòi hỏi thời gian dài, hãy tiếp nhận tất cả một cách tích cực.

못 하거나 안 되면, 혹은 실수를 하면 ‘죄송합니다.’ 하고 사과하면 그만입니다.

Nếu không làm được hoặc mắc lỗi, chỉ cần nói ‘Tôi xin lỗi’ và xin lỗi là xong.

다른 사랍과 대화할 때도 욕하는 사람을 비난하면서 동조하는 게 아니라 부정적으로 사물을 보는 내 습관을 고치는 연습으로 삼아버리는 겁니다.

Khi nói chuyện với người khác, thay vì chỉ trích và đồng tình với người nói xấu, hãy coi đó là bài luyện tập để sửa đổi thói quen nhìn nhận mọi thứ một cách tiêu cực của mình.

아침에 출근해서 저녁에 퇴근할 때까지 회사 일이 중심이 아니라 부정적으로 생각하는 내 습관 고치기를 삶의 최근 중심으로 삼아 이것만 연습하는 거예요.

Từ sáng đi làm đến tối về, không phải công việc công ty là trung tâm, mà hãy lấy việc sửa đổi thói quen suy nghĩ tiêu cực làm trọng tâm gần đây nhất của cuộc sống và chỉ luyện tập điều này.

얼마나 좋아요. 내 수행 연습을 하는데 회사가 월급끼지 주잖아요.

Tuyệt vời biết bao. Tôi luyện tập tu hành mà công ty còn trả lương nữa chứ.

우리가 대답은 잘하지만 사실 살아보면 당연히 못 할 때도 있습니다.

Chúng ta trả lời rất tốt, nhưng thực tế trong cuộc sống, đương nhiên cũng có lúc không làm được.

입으로 거짓말하는 게 아니라 하겠다고 마음을 먹어도 현실에서는 다 못 할 수가 있어요.

Không phải nói dối, mà dù đã quyết tâm làm, nhưng trong thực tế có thể không làm được hết.

그럴 땔 변명하지 말고 ‘죄송합니다.’라고 사과하세요.

Khi đó, đừng viện cớ mà hãy xin lỗi bằng cách nói ‘Tôi xin lỗi’.

‘죄송합니다.’라는 말이 처음에는 쉽게 나오지 않지만 자꾸 연습하면 그다지 어렵지 않습니다.

Lời ‘Tôi xin lỗi’ ban đầu có thể không dễ nói ra, nhưng nếu bạn luyện tập thường xuyên, nó sẽ không quá khó.

긍정적으로 보는 눈이 이루어져서 다른 사람도, 회사도 긍정적으로 보게 되면 이제 나 자신의 문제보다 조직이나 사회의 불합리한 문제들로 관심이 옮아갈 겁니다.

Khi bạn có được cái nhìn tích cực, nhìn cả người khác và công ty một cách tích cực, thì sự quan tâm của bạn sẽ chuyển từ vấn đề của bản thân sang những vấn đề bất hợp lý của tổ chức hoặc xã hội.

‘저런 것을 좀 고치면 힘들어하는 동료들이 더 편안하게 지낼 텐데.’라는 데까지 생각이 미치면 이제 이것은 세상을 바꾸는 운동으로 변합니다.

Khi suy nghĩ của bạn đi đến mức ‘Nếu sửa đổi những điều đó một chút, các đồng nghiệp đang gặp khó khăn sẽ được thoải mái hơn’, thì lúc này, đây sẽ biến thành một phong trào thay đổi thế giới.

내가 불편해서 하는 것은 불평불만에 그치기 쉽죠.

Việc bạn làm vì bản thân cảm thấy khó chịu thì thường dễ dừng lại ở việc than phiền, bất mãn.

하지만 나는 괜찮자만 저런 문제 때문에 세상 사람들이 힘들어하니까 좀 고치는 게 좋겠다는 생각은 변화를 일으키는 운동의 시작입니다.

Nhưng việc nghĩ rằng tôi không sao cả, nhưng vì những vấn đề đó mà mọi người trên thế giới đang gặp khó khăn, nên tốt hơn hết là nên sửa đổi một chút, đó là khởi đầu của một phong trào tạo ra sự thay đổi.

예를 들어 다른 사람은 불평만 하지 과장님한테 가서 말도 못 하잖아요.

Ví dụ, những người khác chỉ than phiền thôi chứ đâu dám đến nói chuyện với trưởng phòng.

그때 내가 가서 생글생글 웃으며서 “이것 좀 고치면 어떨까요?” 제안하는 겁니다.

Khi đó, bạn hãy đến, cười tươi rói và đề xuất: “Chúng ta sửa cái này một chút thì sao ạ?”

뭐라고 하면 “네, 알았습니다.” 하고 물러납니다.

Nếu bị nói gì, bạn chỉ cần nói “Vâng, tôi đã hiểu.” rồi rút lui.

이틀날 서류를 가지고 가서 “과장님, 이것 좀 고치면 어떻겠어요?” 하고 다시 말하는 거예요.

Ngày hôm sau, bạn mang tài liệu đến và nói lại: “Trưởng phòng, chúng ta sửa cái này một chút thì sao ạ?”

이렇게 하면 상대가 성질을 내고 화를 내면 냈지, 나는 성질 상할 일이 없어요.

Nếu làm như vậy, đối phương có thể nổi giận, nhưng bạn sẽ không có gì phải bực bội cả.

둘이 대립하는 상황에서 누가 이길까요?

Trong tình huống đối đầu giữa hai người, ai sẽ thắng?

웃으면서 말하는 내가 이깁니다.

Người nói chuyện với nụ cười sẽ thắng.

내가 화가 나서 성질을 부리면서 하다 보면 두세 번 하다가 ‘에이, 더러워서. 내가 사표를 내버리는지 해야지.’ 하면서 안 된다고 포기하거나 튕겨 나갑니다.

Nếu tôi làm trong lúc tức giận và nổi nóng, thì sau hai ba lần tôi sẽ nói ‘Thôi, bẩn thỉu quá. Mình phải nộp đơn xin nghỉ việc thôi’, rồi bỏ cuộc hoặc bị đẩy ra ngoài.

하지만 내가 아무렇지도 않으면 열 번, 스무 번 계속할 수 있어요.

Nhưng nếu tôi không bị ảnh hưởng gì, tôi có thể tiếp tục mười, hai mươi lần.

결국 개선하는 데도 큰 힘이 됩니다.

Cuối cùng, điều đó cũng trở thành một sức mạnh lớn trong việc cải thiện.

이것이 우리가 말하는 분노 없이 혁명하는 길입니다.

Đây chính là con đường cách mạng không cần cơn giận mà chúng ta thường nói.

분노로 혁명하게 되면 세상을 파괴하고 나 역시 상처를 입게 됩니다.

Nếu cách mạng bằng cơn giận, chúng ta sẽ phá hủy thế giới và bản thân cũng bị tổn thương.

하지만 이렇게 하면 분노 없이도 우리가 세상을 바꿀 수 있습니다.

Nhưng nếu làm như vậy, chúng ta có thể thay đổi thế giới mà không cần cơn giận.

사실 실제로 해보면 어렵습니다.

Thực ra, khi thực hiện thì rất khó.

그래서 먼저 자기 스스로 연습을 해보자는 것입니다.

Vì vậy, trước hết, hãy tự mình luyện tập.

아침에 일어나서 불교 신자라면 부처님께, 기독교 신라라면 하나님께 ‘ 오늘도 건강히 설아 있고, 출근할 직장과 할 수 있는 일이 있으니 감사합니다.’라고 긍정적인 기도를 드리세요.

Sáng dậy, nếu là Phật tử thì hãy cầu nguyện với Đức Phật, nếu là tín đồ Cơ Đốc giáo thì hãy cầu nguyện với Chúa rằng ‘Hôm nay con vẫn khỏe mạnh, có công việc để đi làm và có việc để làm, con xin cảm ơn.’ Hãy cầu nguyện một cách tích cực như vậy.

그리고 하루를 시작하는 겁니다.

Và bắt đầu một ngày mới.

친구에게, 부모님에게, 동료에게, 신랑이나 아내에게 감사하는 마음을 갖고 표현하세요.

Hãy bày tỏ lòng biết ơn của bạn với bạn bè, cha mẹ, đồng nghiệp, chồng hoặc vợ.

나는 다른 서람보다 훨씬 좋은 조건을 갖추고 있으니 더욱 행복하게 살 권리가 있어요.

Bạn có quyền sống hạnh phúc hơn vì bạn có điều kiện tốt hơn nhiều so với người khác.

긍정적으로 바라보면 지금까지 나를 괴롭히던 고민들이 얼마나 사소하고 보잘것없는 것이었는지 보는 눈이 생길 겁니다.

Nếu bạn nhìn nhận mọi thứ một cách tích cực, bạn sẽ có cái nhìn thấy được những nỗi lo lắng đã từng dày vò mình cho đến nay thật nhỏ bé và không đáng kể như thế nào.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM –  0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM  – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM  – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM  – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM  –  0776 000 931   
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương  – 0778 748 418 
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo