TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
서울 1964년 겨울 – 김승옥(전문)
Seoul, mùa đông năm 1964 – Kim Seung-ok (Toàn văn)
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS: NGUYỄN HUỲNH MINH ANH
CSTT: KANATA BIÊN HÒA
서울 1964년 겨울 – 김승옥(전문)
Seoul, mùa đông năm 1964 – Kim Seung-ok (Toàn văn)
- 1964년겨울을 서울에서 지냈던 사람이라면 누구나 알고 있겠지만, 밤이 되면 거리에 나타나는 선술집―― 오뎅과 군참새와 세 가지 종류의 술 등을 팔고 있고,얼어붙은 거리를 휩쓸며 부는 차가운 바람이 펄럭거리게 하는 포장을 들치고 안으로 들어서게 되어 있고, 그 안에 들어서면 카바이드 불의 길쭉한 불꽃이바람에 흔들리고 있고, 염색한 군용(軍用) 잠바를 입고 있는 중년 사내가 술을 따르고 안주를 구워 주고 있는 그러한 선술집에서, 그날 밤, 우리세 사람은 우연히 만났다.
Nếu là người từng trải qua mùa đông năm 1964 tại Seoul, hẳn ai cũng biết đến những quán rượu rẻ tiền hiện ra trên đường phố khi đêm xuống. Đó là những nơi bán oden (chả cá), chim sẻ nướng và ba loại rượu; nơi mà ta phải nhấc tấm bạt đang bay phần phật trong cơn gió lạnh buốt quét qua những con phố đóng băng để bước vào bên trong. Ở đó, ngọn lửa dài từ đèn carbide chao đảo trước gió, và một người đàn ông trung niên mặc chiếc áo khoác quân đội nhuộm lại đang rót rượu, nướng đồ nhắm.
- 우리 세 사람이란 나와 도수 높은 안경을 쓴 안(安)이라는 대학원 학생과 정체를 알 수 없었지만 요컨대 가난뱅이라는것만은 분명하여 그의 정체를 꼭 알고 싶다는 생각은 조금도 나지 않는 서른 대여섯 살짜리 사내를 말한다.
Đêm hôm đó, ba người chúng tôi đã tình cờ gặp nhau trong một quán rượu như thế. Ba người chúng tôi gồm có: tôi; một sinh viên cao học họ Ahn đeo kính cận thị dày cộm; và một người đàn ông khoảng ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi, tuy không rõ lai lịch nhưng tóm lại chắc chắn là một kẻ nghèo khổ, đến mức tôi chẳng mảy may có ý định muốn tìm hiểu xem danh tính thực sự của ông ta là gì.
- 먼저 말을 주고받게 된 것은 나와대학원생이었는데, 뭐 그렇고 그런 자기 소개가 끝났을 때는 나는 그가 안씨라는 성을 가진 스물다섯 살짜리 대한민국청년, 대학 구경을 해보지 못한 나로서는 상상이 되지 않는 전공(專攻)을 가진 대학원생, 부잣집 장남이라는 걸 알았고, 그는 내가 스물다섯 살짜리시골 출신, 고등학교는 나오고 육군 사관학교를 지원했다가 실패하고 나서 군대에 갔다가 임질에 한 번 걸려 본 적이 있고, 지금은 구청 병사계(兵事係)에서일하고 있다는 것을 아마 알았을 것이다.
Người bắt chuyện trước là tôi và cậu sinh viên cao học. Khi những lời giới thiệu qua loa đại khái kết thúc, tôi biết được anh ta là một thanh niên Hàn Quốc 25 tuổi họ Ahn, là sinh viên cao học với một chuyên ngành mà một kẻ chưa từng nếm mùi đại học như tôi chẳng thể nào hình dung nổi, và còn là con trai trưởng của một gia đình giàu có. Còn anh ta, có lẽ cũng đã biết tôi là một gã 25 tuổi đến từ nông thôn, đã tốt nghiệp cấp ba, từng thi trượt vào Học viện Lục quân rồi đi lính, từng mắc bệnh lậu một lần, và hiện đang làm việc tại bộ phận binh vụ của một văn phòng quận.
- 자기 소개는 끝났지만, 그러고 나서는 서로 할 얘기가 없었다.
Màn giới thiệu bản thân đã xong, nhưng sau đó chúng tôi chẳng còn chuyện gì để nói với nhau nữa.
- 잠시 동안은 조용히 술만 마셨는데, 나는 새카맣게 구워진 참새를 집을 때 할말이생겼기 때문에 마음속으로 군참새에게 감사하고 나서 얘기를 시작했다.
Trong một lúc, chúng tôi chỉ im lặng uống rượu. Khi nhặt một con chim sẻ nướng cháy đen lên, tôi bỗng tìm thấy chuyện để nói. Thầm cảm ơn con chim sẻ nướng trong lòng, tôi bắt đầu mở lời.
- “안형, 파리를 사랑하십니까?”
“Anh Ahn này, anh có yêu những con ruồi không?”
- “아니오. 아직까진……” 그가 말했다.
” Không. Cho đến tận bây giờ thì vẫn chưa…” Anh ta nói.
- “김형은 파리를 사랑하세요?”
“Thế còn anh Kim, anh có yêu lũ ruồi không?”
- “예.”라고 나는 대답했다.
“Có.” Tôi trả lời.
- “날 수 있으니까요. 아닙니다. 날 수 있는 것으로서 동시에 내 손에 붙잡힐 수 있는 것이니까요.날 수 있는 것으로서 손 안에 잡아본 것이 있으세요?”
Vì chúng có thể bay. À không, chính xác là vì chúng vừa có thể bay, vừa đồng thời có thể bị bàn tay tôi tóm gọn. Anh đã bao giờ tự tay bắt được một thứ gì đó có cánh chưa?”
- “가만 계셔 보세요.”
“Anh đợi một lát xem nào.”
- 그는 안경 속에서 나를 멀거니 바라보며 잠시 동안 표정을 꼼지락거리고 있었다.
Anh ta nhìn tôi chằm chằm qua cặp kính, cơ mặt khẽ cử động như đang suy nghĩ điều gì đó trong chốc lát.
- 그리고 말했다. “없어요. 나도 파리밖에는……”
Rồi anh ta nói: “ Không có. Tôi cũng vậy, ngoài lũ ruồi ra thì…”
- 낮엔 이상스럽게도 날씨가 따뜻했기때문에 길은 얼음이 녹아서 흙물로 가득했었는데 밤이 되면서부터 다시 기온이 내려가고 흙물은 우리의 발 밑에서 다시 얼어붙기 시작했다.
Ban ngày thời tiết ấm áp một cách lạ thường khiến băng tan ra, đường sá tràn ngập bùn lầy; nhưng khi đêm xuống, nhiệt độ lại bắt đầu giảm mạnh và lớp bùn ấy lại đóng băng ngay dưới chân chúng tôi.
- 쇠가죽으로 지어진 내 검정 구두는 얼고 있는 땅바닥에서 올라오고 있는 찬 기운을 충분히 막아내지 못하고 있었다.
Đôi giày da bò màu đen của tôi không đủ sức ngăn lại cái hơi lạnh đang bốc lên từ mặt đất đang đóng băng.
- 사실 이런술집이란, 집으로 돌아가는 길에 잠깐 한잔하고 싶은 생각이 든 사람이나 들어올 데지, 마시면서 곁에 선 사람과 무슨 얘기를 주고받을 데는 되지못하는 곳이다.
Thực tế thì, loại quán rượu thế này chỉ là nơi để những người đang trên đường về nhà ghé vào làm một ly cho ấm bụng, chứ chẳng phải nơi để vừa uống vừa trò chuyện hàn huyên với người đứng cạnh bên.
- 그런 생각이 문득 들었지만 그 안경쟁이가 때마침 나에게 기특한 질문을 했기 때문에 나는 ‘이 놈 그럴듯하다’고 생각되어 추위 때문에저려 드는 내 발바닥에 조금만 참으라고 부탁했다.
Ý nghĩ đó chợt lóe lên trong đầu, nhưng đúng lúc ấy, gã đeo kính kia lại đưa ra một câu hỏi rất hay ho. Tôi thầm nghĩ “thằng cha này cũng được đấy chứ”, rồi tự nhủ đôi bàn chân đang tê dại vì giá rét của mình hãy ráng chịu đựng thêm một chút nữa.
- “김형, 꿈틀거리는 것을 사랑하십니까?” 하고 그가 내게 물었던 것이다.
“Anh Kim này, anh có yêu những thứ cựa quậy, rung rinh không?” Anh ta đã hỏi tôi như vậy đấy.
- “사랑하구 말구요.” 나는 갑자기 의기 양양해져서 대답했다.
“Yêu chứ, sao lại không cơ chứ!”. Tôi trả lời, trong lòng bỗng chốc cảm thấy vô cùng phấn khích.
- 추억이란 그것이 슬픈 것이든지 기쁜 것이든지 그것을 생각하는 사람을 의기 양양하게한다.
Ký ức, cho dù là vui hay buồn, đều khiến người ta cảm thấy phấn chấn khi hồi tưởng về chúng.
- 슬픈 추억일 때는 고즈넉이 의기 양양해지고 기쁜 추억일 때는 소란스럽게 의기 양양해진다.
Khi là một ký ức buồn, người ta thấy phấn chấn một cách lặng lẽ; còn khi là một ký ức vui, người ta lại thấy phấn chấn một cách ồn ã.
- “사관학교 시험에서 미역국을 먹고나서도 얼마 동안, 나는 나처럼 대학 입학 시험에 실패한 친구 하나와 미아리에 하숙하고 있었습니다.
“Sau khi trượt kỳ thi vào Học viện Sĩ quan, tôi đã ở trọ tại Miari cùng với một người bạn cũng vừa thi trượt đại học giống như mình trong suốt một thời gian.
- 서울은 그때가처음이었죠, 장교가 된다는 꿈이 깨어져서 나는 퍽 실의에 빠져 있었습니다.
Đó là lần đầu tiên tôi đến Seoul, và vì giấc mơ trở thành sĩ quan đã tan thành mây khói nên tôi đã rơi vào tình trạng thất vọng cùng cực.
- 그때 영영 실의해 버린 느낌입니다.
Cảm giác như lúc đó tôi đã hoàn toàn đánh mất ý chí một lần và mãi mãi.
- 아시겠지만 꿈이 크면 클수록 실패가주는 절망감도 대단한 힘을 발휘하더군요.
Anh biết đấy, giấc mơ càng lớn lao bao nhiêu thì sự tuyệt vọng mà thất bại mang lại cũng tỏa ra một sức mạnh ghê gớm bấy nhiêu.
- 그 무렵 재미를 붙인 게 아침의 만원된 버스칸이었습니다.
Vào thời điểm đó, thứ duy nhất khiến tôi cảm thấy thú vị chính là những khoang xe buýt chật ních người vào mỗi buổi sáng.
- 함께 있는 친구와 나는 하숙집의 아침 밥상을밀어 놓기가 바쁘게 미아리 고개 위에 있는 버스 정류장으로 달려갑니다.
Tôi và cậu bạn cùng phòng, ngay khi vừa đẩy mâm cơm sáng ở nhà trọ sang một bên là vội vã chạy ngay ra trạm xe buýt trên đỉnh dốc Miari.
- 개처럼 숨을 헐떡거리면서 말입니다.
Chúng tôi chạy, thở hồng hộc như những con chó vậy.
- 시골에서 처음으로 서울에 올라온 청년들의눈에 가장 부럽고 신기하게 비치는 게 무언지 아십니까?
Anh có biết điều gì hiện lên trong mắt những chàng trai trẻ lần đầu từ quê lên Seoul là đáng ghen tị và kỳ lạ nhất không?
- 부러운 건 뭐니뭐니 해도, 밤이 되면 빌딩들의 창에 켜지는 불빛, 아니 그 불빛 속에서이리저리 움직이고 있는 사람들이고, 신기한 건 버스간 속에서 일 센티미터도 안 되는 간격을 두고 자기 곁에 예쁜 아가씨가 서 있다는 사실입니다.
Điều đáng ghen tị nhất, suy cho cùng vẫn là ánh đèn hắt ra từ những ô cửa sổ của các tòa nhà cao tầng khi màn đêm buông xuống, hay nói đúng hơn là những con người đang đi lại thấp thoáng trong ánh sáng ấy; còn điều kỳ lạ nhất chính là việc có một cô gái xinh đẹp đang đứng ngay sát bên mình trên chuyến xe buýt, với khoảng cách chưa đầy một xăng-ti-mét.
- 때로는 아가씨들과 팔목의 살을 대고 있기도 하고 허벅다리를 비비고서 있을 수도 있어서 그것 때문에 나는 하루 종일 시내 버스를 이것저것 갈아타면서보낸 적도 있습니다.
Có khi cánh tay tôi chạm sát vào da thịt các cô gái, có khi lại đứng cọ sát đùi vào nhau, chính vì thế mà có những ngày tôi đã dành cả ngày trời chỉ để bắt hết chuyến xe buýt này đến chuyến xe buýt khác trong thành phố.
- 물론 그날 밤에는 너무 피로해서 토했습니다만…….”
Dĩ nhiên là đêm hôm đó, vì quá kiệt sức nên tôi đã nôn thốc nôn tháo…”
- “잠깐, 무슨 얘기를 하시자는 겁니까?”
“Khoan đã, rốt cuộc anh định nói chuyện gì với tôi vậy?”
- “꿈틀거리는 것을 사랑한다는 얘기를하려던 참이었습니다. 들어보세요.
“Tôi đang định nói về việc mình yêu những thứ rung rinh đấy chứ. Nghe tiếp đi nào.
- 그 친구와 나는 출근 시간의 만원 버스 속을 쓰리꾼들처럼 안으로 비집고 들어갑니다.
Tôi và cậu bạn đó cứ thế chen lấn vào giữa những chuyến xe buýt chật ních giờ đi làm, hệt như những tên móc túi vậy.
- 그리고 자리를 잡고 앉아 있는 젊은 여자 앞에 섭니다.
Và rồi, tôi đứng chắn ngay trước mặt một cô gái trẻ đang tìm được chỗ ngồi trên xe.
- 나는 한 손으로 손잡이를 잡고 나서, 달려오느라고 좀 멍해진 머리를 올리고 있는 손에 기댑니다.
Sau khi một tay bám vào tay vịn, tôi tựa cái đầu còn đang lơ mơ vì vừa chạy hụt hơi vào cánh tay đang giơ cao ấy.
- 그리고 내 앞에 앉아 있는 여자의 아랫배 쪽으로 천천히 시선을 보냅니다.
Và rồi, tôi từ từ đưa ánh mắt mình hướng về phía bụng dưới của người phụ nữ đang ngồi ngay trước mặt.
- 그러면 처음엔 얼른 눈에 뜨이지 않지만 시간이 조금 가고 내 시선이 투명해지면서부터나는 그 여자의 아랫배가 조용히 오르내리는 것을 볼 수 있습니다…….”
Lúc đầu, điều đó không dễ gì lọt vào mắt ngay được, nhưng sau khi thời gian trôi qua một chút và ánh nhìn của tôi dần trở nên thấu suốt, tôi đã có thể nhìn thấy bụng dưới của người phụ nữ ấy đang khẽ phập phồng lên xuống…”
- “오르내린다는 건……호흡 때문에그러는 것이겠죠?”
“Việc phập phồng đó… chẳng phải là do hơi thở hay sao?”
- “물론 입니다. 시체의 아랫배는 꿈쩍도 하지 않으니까요.
“Dĩ nhiên rồi. Bởi vì bụng dưới của một xác chết thì chẳng bao giờ nhúc nhích cả.
- 하여튼…… 나는 그 아침의 만원 버스간 속에서 보는 젊은 여자 아랫배의 조용한움직임을 보고 있으면 왜 그렇게 마음이 편안해지고 맑아지는지 모르겠습니다.
Dù thế nào đi nữa… tôi cũng không hiểu tại sao khi nhìn vào sự chuyển động thầm lặng nơi bụng dưới của những người phụ nữ trẻ trên chuyến xe buýt chật ních mỗi sáng, tâm hồn tôi lại trở nên nhẹ nhõm và trong trẻo đến thế.
- 나는 그 움직임을 지독하게 사랑합니다.”
Tôi yêu sự chuyển động ấy đến mức cuồng si.”
- “퍽 음탕한 얘기군요.”라고 안은 기묘한 음성으로 말했다.
“Một câu chuyện có phần khiếm nhã đấy chứ.” Ahn nói bằng một chất giọng kỳ quái.
- 나는 화가 났다.
Tôi bỗng thấy giận dữ.
- 그 얘기는, 내가 만일 라디오의 박사 게임 같은 데에 나가게 돼서‘세상에서 가장 신선한 것은?’이라는 질문을 받게 되었을 때, 남들은 상추니 오월의 새벽이니 천사의 이마니 하고 대답하겠지만 나는 그 움직임이가장 신선한 것이라고 대답하려니 하고 일부러 기억해 두었던 것이었다.
Cái câu chuyện đó vốn dĩ là điều tôi đã cố công ghi nhớ, để nhỡ đâu nếu có tham gia vào một trò chơi hỏi đáp trên radio và được hỏi: “Thứ gì là tươi mới nhất trên thế gian này?”, trong khi những người khác sẽ trả lời là rau xà lách, là bình minh tháng Năm hay là vầng trán của thiên thần, thì tôi sẽ trả lời rằng chính cái sự “rung rinh” ấy mới là thứ tươi mới nhất.
- “아니 음탕한 얘기가 아닙니다.” 나는 강경한 태도로 말했다. “그 얘기는 정말입니다.”
“Không, đó không phải là một câu chuyện khiếm nhã đâu.” Tôi nói bằng một thái độ kiên quyết. “Câu chuyện đó hoàn toàn là sự thật.”
- “음탕하지 않다는 것과 정말이라는것 사이엔 어떤 관계가 있죠?”
Thế việc “không dâm dục” với việc “là sự thật” thì liên quan quái gì đến nhau chứ?
- “모르겠습니다. 관계 같은 것은 난 모릅니다. 요컨대……”
“Tôi chẳng biết. Mấy cái thứ gọi là ‘mối liên hệ’ đó tôi chịu thôi. Tóm lại là…”
- “그렇지만 고 동작은 ‘오르내린다’는것이지 꿈틀거린다는 것은 아니군요. 김형은 아직 꿈틀거리는 것을 사랑하지 않으시구먼.”
“Thế nhưng cái cử động đó là ‘phập phồng’ chứ đâu phải là ‘rung rinh’. Xem ra anh Kim đây vẫn chưa thực sự yêu cái sự rung rinh đâu nhỉ.”
- 우리는 다시 침묵 속으로 떨어져서술잔만 만지작거리고 있었다.
Chúng tôi lại rơi vào thinh lặng, tay chỉ mải mê vân vê chén rượu.
- 개새끼, 그게 꿈틀거리는 게 아니라고 해도 괜찮다, 하고 나는 생각하고 있었다. 그런데잠시 후에 그가 말했다.
Cái thằng khốn, tôi thầm rủa, dù nó chẳng phải là ‘rung rinh’ thì đã sao chứ. Thế rồi, chỉ một lát sau, anh ta lại lên tiếng.
- “난 지금 생각해 봤는데, 김형의 그 오르내림도 역시 꿈틀거림의 일종이라는 결론을 얻었습니다.”
“Tôi vừa ngẫm lại rồi, và tôi đã đi đến kết luận rằng cái sự ‘phập phồng’ ấy của anh Kim thực chất cũng là một dạng của ‘rung rinh’ mà thôi.”
- “그렇죠?” 나는 즐거워졌다. “그것은 틀림없는 꿈틀거림입니다.
“Đúng không?” Tôi bỗng thấy hưng phấn hẳn lên. “Đó chắc chắn là một sự rung rinh, không sai vào đâu được.”
- 난 여자의 아랫배를 가장 사랑합니다. 안 형은 어떤 꿈틀거림을 사랑합니까?”
Tôi, tôi vốn si mê nhất là cái vùng bụng dưới của người đàn bà. Còn anh Ahn, anh phải lòng kiểu ‘rung rinh’ nào?”
- “어떤 꿈틀거림이 아닙니다. 그냥 꿈틀거리는 거죠. 그냥 말입니다. 예를 들면 ……데모도 …….”
Chẳng phải là kiểu rung rinh nào cụ thể cả. Chỉ là sự rung rinh đơn thuần mà thôi. Thế thôi. Chẳng hạn như… một cuộc biểu tình chẳng hạn…”
- “데모가? 데모를? 그러니까 데모…….”
“Biểu tình? Anh yêu sự rung rinh của một cuộc biểu tình sao? Ý anh là… biểu tình…?”
- “서울은 모든 욕망의 집결지입니다. 아시겠습니까?”
“Seoul vốn là nơi tụ hội của mọi khát khao dục vọng. Anh có hiểu điều đó không?”
- “모르겠습니다.”라고 나는 할 수 있는 한 깨끗한 음성을 지어서 대답했다.
“Tôi không biết.” — Tôi trả lời, cố giữ cho giọng mình thật trong trẻo và chân thành nhất có thể.
- 그 때 우리의 대화는 또 끊어졌다. 이번엔 침묵이 오래 계속되었다.
Giây phút ấy, sợi dây đối thoại giữa chúng tôi lại một lần nữa đứt đoạn. Và lần này, sự im lặng cứ thế kéo dài mãi không thôi.
- 나는 술잔을 입으로 가져갔다. 내가 잔을 비우고 났을 때 그도 잔을 입에 대고 눈을 감고마시고 있는 게 보였다.
Tôi đưa chén rượu lên môi. Khi tôi vừa uống cạn, cũng là lúc tôi bắt mắt gặp anh ta đang kề chén vào miệng, đôi mắt nhắm nghiền như đang chìm đắm trong từng giọt men nồng.
- 나는 이젠 자리를 떠나야 할 때가 되었다고 다소 서글픈 기분으로 생각했다.
Tôi chợt nghĩ, đã đến lúc mình phải rời đi, lòng bỗng dâng lên một nỗi buồn man mác.
- 결국 그렇고 그렇다. 또 한 번 확인된 것에지나지 않다고 생각하면서, ‘자 그럼 다음에 또……’라고 말할까 ‘재미있었습니다’라고 말할까, 궁리하고 있는데 술잔을 비운 안이 갑자기 한 손으로내 한쪽 손을 살며시 잡으면서 말했다.
Rốt cuộc thì mọi chuyện cũng chỉ đến thế. Tôi thầm nghĩ chẳng qua cũng chỉ là một sự xác nhận lại những điều vốn dĩ đã biết, rồi băn khoăn nên nói câu ‘Hẹn anh lần tới’ hay ‘Hôm nay tôi rất vui’. Thế nhưng, ngay khi vừa cạn chén, anh An bất chợt khẽ nắm lấy bàn tay tôi bằng đôi tay mình, rồi cất lời.
- “우리가 거짓말을 하고 있었다고생각하지 않으십니까?”
“Anh có bao giờ nghĩ rằng, suốt nãy giờ chúng ta chỉ đang dối lừa nhau không?”
- “아니오.” 나는 좀 귀찮은 생각이 들었다.
“Không.” Tôi đáp, lòng thoáng chút mệt mỏi và chán chường.
- “안형은 거짓말을 했는지 모르지만 내가 한 얘기는 정말이었습니다.”
“Có lẽ anh Ahn đã dối lừa tôi, nhưng những gì tôi vừa kể, tất cả đều là sự thật.”
- “난 우리가 거짓말을 하고 있었던것 같은 느낌이 듭니다.”
“Tôi cứ cảm thấy dường như… nãy giờ chúng ta đều đang sống trong những lời dối trá.”
- 그는 붉어진 눈두덩을 안경 속에서 두어 번 끔벅거리고 나서 말했다.
Anh khẽ chớp đôi mắt đỏ hoe sau làn kính cận vài lần, rồi chậm rãi cất lời.
- “난 우리 또래의친구를 새로 알게 되면 꼭 꿈틀거림에 대한 얘기를 하고 싶어집니다. 그래서 얘기를 합니다. 그렇지만 얘기는 오 분도 안 돼서 끝나 버립니다.”
“Mỗi khi làm quen với một người bạn mới cùng lứa tuổi, tôi đều khao khát được kể cho họ nghe về những sự rung rinh ấy. Và thế là tôi kể. Nhưng rồi, câu chuyện cũng chỉ chóng vánh kết thúc khi chưa đầy năm phút đồng hồ.”
- 나는 그가 무슨 이야기를 하고 있는지알 듯하기도 했고 모를 것 같기도 했다.
Tôi cảm giác như mình dường như đã chạm được vào những điều anh đang nói, nhưng rồi lại thấy chúng xa vời như một hư ảo không thể nắm bắt.
- “우리 다른 얘기합시다.”하고 그가 다시 말했다.
“Chúng ta hãy nói về chuyện gì khác đi.” Anh cất lời, phá vỡ bầu không khí trầm mặc một lần nữa.
- 나는 심각한 얘기를 좋아하는 이친구를 골려 주기 위해서, 그리고 한편으로는 자기의 음성을 자기가 들을 수 있는 취한 사람의 특권을 맛보고 싶어서얘기를 시작했다.
Tôi bắt đầu cất lời, một phần là để trêu chọc anh bạn vốn ưa thích những chuyện đao to búa lớn này, một phần cũng vì muốn tận hưởng cái đặc quyền của một kẻ say, cái cảm giác được lắng nghe chính thanh âm của bản thân vang vọng giữa hơi men.
- “평화 시장 앞에서 줄지어 선 가로등중에서 동쪽으로부터 여덟 번째 등은 불이 켜져 있지 않습니다…….”
“Trong hàng dài những cột đèn đường đứng san sát nhau trước chợ Pyeonghwa… chiếc đèn thứ tám tính từ phía Đông sang, vốn chẳng hề thắp sáng…”
- 나는 그가 좀 어리둥절해 하는 것을 보자 더욱신이 나서 얘기를 계속했다.
Vừa thấy anh ta có chút ngẩn ngơ vì ngạc nhiên, tôi lại càng thêm phần phấn khích mà tiếp tục hăng hái kể tiếp.
- “…… 그리고 화신 백화점 육층의 창들 중에서는 그 중 세 개에서만 불빛이 나오고 있었습니다.…….”
“… Và rồi, trong số những ô cửa sổ tầng sáu của bách hóa Hwashin… cũng chỉ có đúng ba ô cửa là đang hắt ra ánh sáng…”
- 그러자 이번엔 내가 어리둥절해질사태가 벌어졌다. 안의 얼굴에 놀라운 기쁨이 발하기 시작했기 때문이다.
Thế nhưng, chính lúc ấy, cục diện lại xoay chuyển khiến tôi phải ngỡ ngàng. Bởi lẽ trên gương mặt anh An, một niềm vui sướng kinh ngạc bỗng dưng rạng rỡ bừng lên.
- 그가 빠른 말씨로 얘기하기 시작했다.
Anh ta bắt đầu dồn dập cất lời, giọng điệu hối hả như chẳng thể chờ đợi thêm một giây phút nào nữa.
- “서대문 버스 정류장에는 사람이서른두 명 있는데 그 중 여자가 열일곱 명이고 어린애는 다섯 명, 젊은이는 스물한 명, 노인이 여섯 명입니다.”
Ở trạm xe buýt Seodaemun có tất cả ba mươi hai người, trong đó có mười bảy phụ nữ, năm trẻ em, hai mươi mốt thanh niên và sáu người già.
- “그건 언제 일이지요?”
“오늘 저녁 일곱 시 십오 분 현재입니다.”
” Chuyện đó là từ khi nào vậy?”
” Là vào đúng bảy giờ mười lăm phút tối nay.”
- “아” 하고 나는 잠깐 절망적인기분이었다. 그 반작용인 듯 굉장히 기분이 좋아져서 털어놓기 시작했다.
“Ồ…” Tôi thốt lên, lòng bỗng dâng lên một cảm giác tuyệt vọng nhất thời. Nhưng rồi, như một sự phản xạ tự nhiên, tâm trạng tôi lại trở nên hưng phấn đến lạ kỳ, và tôi bắt đầu dốc hết lòng mình ra mà kể.
- “단성사 옆골목의 첫번째 쓰레기통에는초콜릿 포장지가 두 장 있습니다.”
“Trong chiếc thùng rác đầu tiên ở con ngõ cạnh rạp Dansungsa… có hai mảnh giấy gói sô-cô-la nằm ở đó.”
- “그건 언제?”
“지난 십사일 저녁 아홉 시 현재입니다.”
” Việc đó là khi nào?”
” Là vào đúng chín giờ tối ngày mười bốn vừa qua.”
- “적십자 병원 정문 앞에 있는 호도나무의가지 하나는 부러져 있습니다.”
“Một cành của cây hồ đào ngay trước cổng chính Bệnh viện Chữ Thập Đỏ… đã bị gãy lìa.”
- “을지로 삼가에 있는 간판 없는한 술집에는 미자라는 이름을 가진 색시가 다섯 명 있는데, 그 집에 들어온 순서대로 큰 미자, 둘째 미자, 셋째미자, 넷째 미자, 막내 미자라고 합니다.”
“Tại một quán rượu không tên ở Euljiro 3-ga, có năm cô tiếp viên cùng mang tên Mija. Họ được gọi theo thứ tự ngày đầu bước chân vào quán: Mija Lớn, Mija Thứ Hai, Mija Thứ Ba, Mija Thứ Tư và cuối cùng là Mija Út.”
- “그렇지만 그건 다른 사람들도 알고있겠군요. 그 술집에 들어가 본 사람은 꼭 김 형 하나뿐이 아닐 테니까요.”
“Thế nhưng, điều đó chắc hẳn những người khác cũng đều tường tận cả thôi. Bởi lẽ, đâu chỉ có mình anh Kim đây là người duy nhất từng đặt chân vào quán rượu ấy.”
- “아 참, 그렇군요. 난 미처 그걸 생각하지 못했는데.
“À, phải rồi nhỉ. Tôi đã chẳng hề mảy may nghĩ đến điều đó.
- 난 그 중에 큰 미자와 하룻 저녁 같이 잤는데 그 여자는 다음날 아침 일수(日收)로물건을 파는 여자가 왔을 때 내게 팬티 하나를 사주었습니다.
Tôi đã từng qua đêm với cô Mija Lớn trong số đó. Sáng hôm sau, khi người đàn bà bán hàng trả góp ghé qua, cô ấy đã mua tặng tôi một chiếc quần lót.
- 그런데 그 여자가 저금통으로 사용하고 있는 한 되들이 빈 술병에는 돈이 백십 원 들어있었습니다.”
Thế nhưng, trong cái vỏ chai rượu loại một lít mà cô ấy dùng làm ống tiết kiệm, lúc đó chỉ có đúng một trăm mười won.”
- “그건 얘기가 됩니다. 그 사실은 완전히 김 형의 소유입니다.”
“Chuyện đó thì nghe được đấy. Sự thật ấy hoàn toàn thuộc về sở hữu của riêng anh Kim rồi.”
- 우리의 말투는 점점 서로를 존중해가고 있었다.
Giọng điệu của chúng tôi dần trở nên cung kính và trân trọng nhau hơn.
- “나는 ……”하고 우리는 동시에 말을 시작하기도 했다. 그럴 때는 번갈아서 서로 양보했다.
“Tôi…” Có những lúc cả hai chúng tôi cùng cất lời một lượt. Những khi ấy, chúng tôi lại thay phiên nhau nhường nhịn đối phương nói trước.
- “나는 ……” 이번에는 그가 말할차례였다.
“Tôi…” Lần này đến lượt anh ta lên tiếng.
- “서대문 근처에서 서울역쪽으로 가는 전차의 트롤리가 내 시야 곳에서 꼭 다섯 번 파란 불꽃을 튀기는 것을보았습니다.
“Tôi đã nhìn thấy chiếc cần vẹt của chuyến tàu điện đang chạy từ phía Seodaemun về hướng Ga Seoul, nó đã bắn ra những tia lửa xanh đúng năm lần trong tầm mắt của tôi.
- 그건 오늘 밤 일곱 시 십오 분에 거길 지나가는 전차였습니다.”
Đó chính là chuyến tàu điện đã chạy ngang qua nơi ấy vào đúng bảy giờ mười lăm phút tối nay.”
- “안 형은 오늘 저녁엔 서대문 근처에서살고 있었군요.”
” Hóa ra tối nay anh Ahn đã ở quanh khu vực Seodaemun nhỉ.”
- “예 서대문 근처에서만…….”
“Phải, tôi chỉ quanh quẩn ở gần khu Seodaemun thôi…”
- “난 종로 이가쪽입니다. 영보 빌딩 안이 있는 변소 문의 손잡이조금 밑에는 약 이센티미터 가량의 손톱 자국이 있습니다.”
“Còn tôi thì ở phía Jongno 2-ga. Ngay bên dưới tay nắm cửa nhà vệ sinh trong tòa nhà Youngbo, có một vết móng tay cào dài khoảng hai xăng-ti-mét.”
- 하하하하, 하고 그는 소리 내어 웃었다.
“그건 김 형이 만들어 놓은 자국이겠지요?”
“Ha ha ha ha, anh ta cất tiếng cười lớn.
— Vết xước đó, hẳn là do chính anh Kim đã tạo ra chứ gì?”
- 나는 무안했지만 고개를 끄덕이지않을 수 없었다. 그건 사실이었다.
Tôi cảm thấy đôi chút ngượng ngùng, nhưng rồi cũng chẳng thể nào làm gì khác ngoài việc gật đầu thừa nhận. Bởi lẽ, đó chính là sự thật.
- “어떻게 아세요?” 하고 나는 그에게 물었다.
“나도 그런 경험이 있으니까요.”그가 대답했다.
” Làm sao anh biết được thế?” Tôi cất tiếng hỏi anh ta.
“—Bởi lẽ, bản thân tôi cũng từng có những trải nghiệm tương tự như vậy.”
Anh ta điềm tĩnh trả lời.
- “그렇지만 별로 기분 좋은 기억이못 되더군요. 역시 우리는 그냥 바라보고 발견하고 비밀히 간직해 두는 편이 좋겠어요. 그런 짓을 하고 나서는 뒷맛이좋지 않더군요.”
” Thế nhưng, đó chẳng phải là một ký ức dễ chịu cho lắm. Quả nhiên, chúng ta cứ nên chỉ đứng nhìn, phát hiện và lặng lẽ cất giữ cho riêng mình thì hơn. Sau khi làm những việc như thế, cảm giác đọng lại thật chẳng mấy hay ho.”
- “난 그런 짓을 많이 했습니다만오히려 기분이 좋았…….”좋았다고 말하려고 했는데,
“Tôi thì đã làm những việc như thế rất nhiều lần, trái lại tôi còn cảm thấy khá phấn chấn…” Tôi đã định nói rằng mình cảm thấy rất ổn, thế nhưng…
- 갑자기 내가 했던 모든 그것에 대한 혐오감이 치밀어서 나는 말을그치고 그의 의견에 동의하는 고갯짓을 해버렸다.
Bất chợt, một nỗi ghê tởm dâng trào trong lòng đối với tất cả những việc mình đã làm, khiến tôi nghẹn lời rồi đành khẽ gật đầu đồng ý với quan điểm của anh ta.
- 그러나 그 때 나는 이상스럽다는생각이 들었다.
Thế nhưng, chính vào khoảnh khắc ấy, trong tôi bỗng dấy lên một cảm giác thật kỳ lạ.
- 내가 약 삼십 분 전에 들은 말이 틀림없다면 지금 내 옆에서 안경을 번쩍이고 앉아 있는 친구는 틀림없는부잣집 아들이고 높은 공부를 한 청년이다.
Nếu những gì tôi nghe được chừng ba mươi phút trước là không lầm, thì người thanh niên đang ngồi cạnh tôi với cặp kính loé sáng này chắc chắn là con trai của một gia đình giàu có và là một trí thức học cao hiểu rộng.
- 그런데 왜 그가 이래야만 되는가?
Thế nhưng, tại sao một người như anh ta lại phải hành xử như thế này?
- “안형이 부잣집 아들이라는 것은사실이겠지요? 그리고 대학원 학생이라는 것도…….”내가 물었다.
” Có thật anh là công tử của một gia đình giàu có không? Và cả việc anh là sinh viên cao học nữa…” Tôi cất tiếng hỏi.
- “부동산만 해도 대략 삼천만 원쯤되면 부자가 아닐까요? 물론내 아버지 재산이지만 말입니다. 그리고 대학원생이라는 건 여기학생증이 있으니까…….”
“Nếu chỉ tính riêng bất động sản mà đã khoảng ba mươi triệu won thì chẳng phải là giàu rồi sao? Dĩ nhiên đó là tài sản của cha tôi. Còn việc là sinh viên cao học thì… tôi có thẻ sinh viên ở đây rồi này…”
- 그러면서 그는 호주머니를 뒤적거리면서지갑을 꺼냈다.
Vừa nói, anh ta vừa lục tìm trong túi áo rồi lôi chiếc ví của mình ra.
- “학생증까진 필요 없습니다. 실은 좀 의심스러운 게 있어서요. 안형 같은 사람이 추운 밤에 싸구려 선술집에 앉아서 나 같은 친구나 간직할 만한 일에대해서 얘기하고 있다는 것이 이상스럽다는 생각이 방금 들었습니다.”
” Ồ, không cần đến mức phải xem thẻ sinh viên đâu. Thực ra, tôi chỉ cảm thấy có chút nghi hoặc. Ngay lúc này, tôi bỗng thấy thật lạ lùng khi một người như anh Ahn lại ngồi trong một quán rượu rẻ tiền vào một đêm giá rét như thế này, để bàn luận về những chuyện vốn dĩ chỉ dành cho hạng người như tôi nâng niu, gìn giữ.”
- “그건 ……그건…….” 그는 좀 열띤 음성으로 말했다. “그건……그렇지만 먼저 물어보고 싶은 게 있는데요. 김형이 추운 밤에 밤거리를다니는 이유는 무엇입니까?”
“Chuyện đó… chuyện đó là vì…” Anh ta nói với giọng có chút nhiệt thành và dồn dập. “Chuyện đó là như vậy… Thế nhưng, trước hết tôi có điều này muốn hỏi anh. Lý do gì đã khiến anh Kim phải lang thang trên những con phố vào một đêm giá rét như thế này?”
- “습관은 아닙니다. 나 같은 가난뱅이는 호주머니에 돈이 좀 생겨야 밤거리에 나올 수 있으니까요.”
” Đó chẳng phải là thói quen gì đâu. Một kẻ nghèo kiết xác như tôi, chỉ khi nào trong túi rủng rỉnh được chút tiền thì mới có thể vác mặt ra đường vào ban đêm thế này thôi.”
- “글쎄 밤거리에 나오는 이유는 무엇입니까?”
“하숙방에 들어앉아서 벽이나 쳐다보고있는 것보다는 나으니까요.”
“Tôi hiểu rồi, nhưng ý tôi là… lý do thực sự khiến anh tìm đến những con phố đêm này là gì?”
“Vì nó vẫn còn tốt hơn là cứ ngồi lì trong căn phòng trọ mà nhìn chằm chằm vào bốn bức tường.”
- “밤거리에 나오면 뭔가 좀 풍부해지는 느낌이 들지 않습니까?”
“Anh có cảm thấy khi ra phố vào đêm muộn, mọi thứ như trở nên phong phú hơn không?”
- “뭐가요?”
“Cái gì phong phú cơ?”
- “그 뭔가가. 그러니까 생(生)이라고 해도 좋겠지요. 김형이 왜 그런 질문을 하는지 그 이유를 조금은 알 것 같습니다. 내 대답은 이렇습니다. 밤이 됩니다. 난 집에서 거리로 나옵니다. 난 모든 것에서 해방된 것을 느낍니다. 아니, 실제로는 그렇지 않을지도 모르지만 그렇게 느낀다는 말입니다. 김형은 그렇게 안 느낍니까?”
” Là ‘cái gì đó’ ấy. Có lẽ gọi là ‘Sự sống’ cũng được. Tôi bắt đầu hiểu đôi chút lý do tại sao anh Kim lại hỏi như vậy rồi. Câu trả lời của tôi thế này: Đêm đến, tôi rời nhà ra phố. Tôi cảm thấy mình được giải phóng khỏi mọi xiềng xích. À, thực tế có lẽ không hẳn vậy, nhưng quan trọng là tôi ‘cảm thấy’ như thế. Anh Kim không thấy vậy sao?”
- “글쎄요.”
“Chà, tôi cũng không rõ nữa…”
- “나는 사물의 틈에 끼여서가 아니라 사물을 멀리 두고 바라보게 됩니다. 안 그렇습니까?”
“Tôi không còn bị kẹt giữa kẽ hở của vạn vật, mà có thể đứng từ xa để chiêm ngưỡng chúng. Chẳng phải sao?”
- “글쎄요. 좀…….”
“Có lẽ là… hơi khó nói…”
- “아니 어렵다고 말하지 마세요. 이를테면 낮엔 그저 스쳐 지나가던 모든 것이 밤이 되면 내 시선 앞에서 자기들의 벌거벗은 몸을 송두리째 드러내 놓고 쩔쩔맨단 말입니다. 그런데 그게 의미가 없는 일일까요? 그런, 사물을 바라보며 즐거워한다는 일이 말입니다.”
” Đừng nói là khó. Chẳng hạn nhé, tất cả những thứ ta lướt qua vào ban ngày, khi đêm xuống, chúng phơi bày toàn bộ thân thể trần trụi trước mắt ta và trở nên lúng túng. Điều đó lẽ nào lại vô nghĩa sao? Cái việc ta tìm thấy niềm vui khi ngắm nhìn vạn vật ấy.”
- “의미요? 그게 무슨 의미가 있습니까? 난 무슨 의미가 있기 때문에 종로 이가에 있는 빌딩들의 벽돌 수를 헤아리는 일을 하는 게 아닙니다. 그냥…….”
“Ý nghĩa ư? Chuyện đó thì có ý nghĩa gì chứ? Tôi đâu có đếm từng viên gạch của các tòa nhà ở Jongno 2-ga vì nó có ý nghĩa gì đâu. Chỉ là…”
- “그렇죠? 무의미한 겁니다. 아니 사실은 의미가 있는지도 모르지만 난 아직 그걸 모릅니다. 김 형도 아직 모르는 모양인데 우리 한번 함께 그거나 찾아볼까요. 일부러 만들어 붙이지는 말고요.”
“Đúng chứ? Nó vô nghĩa mà. À, thật ra biết đâu nó có ý nghĩa gì đó nhưng tôi vẫn chưa nhận ra. Hình như anh Kim cũng chưa biết, hay là chúng ta thử cùng nhau đi tìm xem sao? Nhưng đừng cố gượng ép tạo ra nó nhé.”
- “좀 어리둥절하군요. 그게 안 형의 대답입니까? 난 좀 어리둥절한데요. 갑자기 의미라는 말이 나오니까.”
“Tôi hơi bàng hoàng đấy. Đó là câu trả lời của anh sao? Tôi thấy hơi rối bời khi anh đột nhiên nhắc đến hai chữ ‘ý nghĩa’.”
- “아 참, 미안합니다. 내 대답은 아마 이렇게 된 것 같군요. 그냥 뭔가 뿌듯해지는 느낌이 들기 때문에 밤거리로 나온다고.”
“— Ồ, xin lỗi anh. Câu trả lời của tôi đại loại là thế này: Tôi ra phố đêm chỉ vì cảm thấy lòng mình như đầy ắp, phấn chấn hơn.”
- 그는 이번엔 목소리를 낮추어서 말했다.
Lần này anh ta hạ thấp giọng nói.
- “김형과 나는 서로 다른 길을 걸어서 같은 지점에 온 것 같습니다. 만일 이 지점이 잘못된 지점이라고 해도 우리 탓은 아닐 거예요.”
“— Anh và tôi, dẫu đi trên hai con đường khác nhau, nhưng dường như đã cùng chạm đến một điểm chung. Nếu điểm dừng chân này có sai lầm, thì đó cũng chẳng phải lỗi của chúng ta đâu.”
- 그는 이번엔 쾌활한 음성으로 말했다.
Anh ta lại nói với giọng hồ hởi.
- “자, 여기서 이럴 게 아니라 어디 따뜻한 데 가서 정식으로 한 잔씩 하고 헤어집시다.
“— Nào, thay vì đứng đây, ta hãy tìm nơi nào ấm áp làm một ly cho đàng hoàng rồi hẵng chia tay.”
- 난 한 바퀴 돌고 여관으로 갑니다.
“Tôi sẽ dạo thêm một vòng rồi ghé vào lữ quán.”
- 가끔 이렇게 밤거리를 쏘다니는 밤엔 꼭 여관에서 자고 갑니다.
“Những đêm đi rong thế này, tôi nhất định phải ngủ lại lữ quán.”
- 여관엘 찾아든다는 프로가 내게는 최고죠.”
“Với tôi, khoảnh khắc bước chân vào lữ quán là tuyệt vời nhất.”
- 우리는 각기 계산하기 위해서 호주머니에 손을 넣었다.
Chúng tôi mỗi người đều thò tay vào túi áo để thanh toán phần mình.
- 그때 한 사내가 우리에게 말을 걸어왔다.
Chính lúc đó, một người đàn ông đã tiến đến bắt chuyện với chúng tôi.
- 우리 곁에서 술잔을 받아 놓고 연탄불에 손을 쬐고 있던 사내였는데, 술을 마시기 위해서 거기에 들어온 것이 아니라 불이 쬐고 싶어서 잠깐 들렀다는 꼴을 하고 있었다.
Đó là người nãy giờ vẫn ngồi cạnh chúng tôi, tay hơ trên bếp than tổ ong dù trước mặt có đặt một chén rượu; trông ông ta giống như ghé vào chỉ để sưởi ấm hơn là để uống rượu.
- 제법 깨끗한 코트를 입고 있었고 머리엔 기름도 얌전하게 발라서 카바이드의 불꽃이 너풀댈 때마다 머리칼의 하이라이트가 이리저리 움직이고 있었다.
Ông ta mặc một chiếc áo khoác khá sạch sẽ, tóc chải chuốt gọn gàng đến mức mỗi khi ngọn lửa đèn đất đèn bập bùng, những vệt sáng trên mái tóc lại dao động qua lại.
- 그러나 어디선지는 분명하지는 않았지만 가난뱅이 냄새가 나는 서른 대여섯 살짜리 사내였다.
Tuy nhiên, chẳng biết từ đâu, người đàn ông tầm ba mươi lăm, ba mươi sáu tuổi ấy vẫn toát ra mùi của kẻ nghèo hèn.
- 아마 빈약하게 생긴 턱 때문이었을까.
Phải chăng là do chiếc cằm trông thật gầy gò, yếu ớt?
- 아니면 유난히 새빨간 눈시울 때문이었을까.
Hay là do viền mắt đỏ rực một cách lạ thường kia?
- 그 사내가 나나 안(安) 중의 어느 누구에게라고 할 것 없이 그냥 우리 쪽을 향하여 말을 걸어 온 것이다.
Người đàn ông đó không hướng cụ thể vào tôi hay anh An, mà chỉ đơn thuần cất lời về phía cả hai chúng tôi.
- “미안하지만 제가 함께 가도 괜찮을까요? 제게 돈은 얼마 있습니다만……”이라고 그 사내는 힘없는 음성으로 말했다.
“— Xin lỗi, liệu tôi có thể đi cùng hai anh được không? Tôi cũng có chút tiền…” — Người đó nói bằng một giọng nói yếu ớt.
- 그 힘없는 음성으로 봐서는 꼭 끼워달라는 건 아니라는 것 같았지만, 한편으로는 우리와 함께 가고 싶은 생각이 간절하다는 것 같기도 했다.
Nghe chất giọng mệt mỏi ấy, dường như ông ta không nhất thiết phải gia nhập bằng được, nhưng mặt khác, dường như trong lòng lại đang khao khát được đi cùng chúng tôi vô cùng.
- 나와 안은 잠깐 얼굴을 마주 보고 나서,
Tôi và anh Ahn khẽ nhìn nhau trong giây lát, rồi tôi lên tiếng:
- “아저씨 술값만 있다면……”이라고 내가 말했다.
“— Nếu chú có đủ tiền rượu cho phần của mình thì…”
- “함께 가시죠.”라고 안도 내 말을 이었다.
“— Cùng đi thôi.” — Anh An cũng tiếp lời tôi.
- “고맙습니다”하고 그 사내는 여전히 힘없는 음성으로 말하면서 우리를 따라왔다.
“— Cảm ơn hai anh.” — Người đàn ông vẫn dùng giọng nói thiếu sức sống ấy mà đáp lại, rồi lẳng lặng bước theo sau chúng tôi.
- 안은 일이 좀 이상하게 되었다는 얼굴을 하고 있었고, 나 역시 유쾌한 예감이 들지는 않았다.
Anh Ahn lộ rõ vẻ mặt cho rằng mọi chuyện đã trở nên kỳ quặc, và chính tôi cũng chẳng cảm thấy có dự cảm gì tốt lành.
- 술좌석에서 알게 된 사람끼리는 의외로 재미있게 놀게 되는 것을 몇 번의 경험으로 알고 있었지만, 대개의 경우, 이렇게 힘없는 목소리로 끼여드는 양반은 없었다.
Dựa trên vài lần trải nghiệm, tôi biết rằng những người quen nhau bên bàn rượu đôi khi lại chơi với nhau vui vẻ đến lạ thường; nhưng thường thì chẳng có ai lại gia nhập với một giọng nói thiếu sức sống đến thế.
- 즐거움이 넘치고 넘친다는 얼굴로 요란스럽게 끼어들어야만 일이 되는 것이었다.
Đáng lẽ ra, mọi chuyện phải bắt đầu bằng một gương mặt rạng rỡ niềm vui và một lời đề nghị thật ồn ào mới đúng.
- 우리는 갑자기 목적지를 잊은 사람들처럼 사방을 두리번거리면서 느릿느릿 걸어갔다.
Chúng tôi chậm chạp bước đi, mắt đưa nhìn dáo dác xung quanh như những kẻ vừa chợt quên mất điểm đến của mình.
- 전봇대에 붙은 약 광고판 속에서는 예쁜 여자가 춥지만 할 수 있느냐는 듯한 쓸쓸한 미소를 띠고 우리를 내려다보고 있었고, 어떤 빌딩의 옥상에서는 소주 광고의 네온 사인이 열심히 명멸하고 있었고,
Trên cột điện, tấm biển quảng cáo thuốc với hình ảnh người thiếu phụ xinh đẹp đang nhìn xuống chúng tôi bằng một nụ cười hiu quạnh như muốn nói “dẫu lạnh lẽo nhưng cũng đành chịu thôi”; trên sân thượng của tòa nhà nào đó, ánh đèn neon quảng cáo rượu Soju đang miệt mài nhấp nháy.
- 소주 광고 곁에서는 약 광고의 네온 사인이 하마터면 잊어버릴 뻔했다는 듯이 황급히 꺼졌다간 다시 켜져서 오랫동안 빛나고 있었고,
Ngay bên cạnh, ánh đèn neon của hiệu thuốc vội vã tắt rồi lại bật sáng rực rỡ một hồi lâu như thể suýt chút nữa là đã quên mất việc phải tỏa sáng.
- 이젠 완전히 얼어붙은 길 위에는 거지가 돌덩이처럼 여기저기 엎드려 있었고, 그 돌덩이 앞을 사람들이 힘껏 웅크리고 빠르게 지나가고 있었다.
Trên con đường giờ đây đã đóng băng hoàn toàn, những người ăn xin nằm rạp khắp nơi như những tảng đá vô hồn, và dòng người đi ngang qua những “tảng đá” ấy bằng những bước chân vội vã, co rùm người lại vì giá rét.
- 종이 한 장이 바람에 휙 날리어 거리의 저쪽에서 이쪽으로 날아오고 있었다.
Một mảnh giấy bị gió cuốn phăng, bay từ phía bên kia đường sang bên này.
- 그 종이조각은 내 발밑에 떨어졌다.
Mảnh giấy ấy rơi ngay dưới chân tôi.
- 나는 그 종이조각을 집어 들었는데 그것은 ‘美姬 서비스, 特別廉價’라는 것을 강조한 어느 비어 홀의 광고지였다.
Tôi nhặt nó lên, đó là một tờ rơi quảng cáo của một quán bia, nhấn mạnh dòng chữ “Dịch vụ Mỹ Nữ, Giá Cả Đặc Biệt Ưu Đãi”.
- “지금 몇 시쯤 되었습니까?”하고 힘없는 아저씨가 안에게 물었다.
“— Bây giờ là mấy giờ rồi nhỉ?” — Người đàn ông yếu ớt ấy cất tiếng hỏi anh Ahn.
- “아홉 시 십 분 전입니다.”라고 잠시 후에 안이 대답했다.
“— Còn mười phút nữa là chín giờ.” — Một lát sau, anh Ahn trả lời.
- “저녁들은 하셨습니까? 난 아직 저녁을 안 했는데, 제가 살 테니까 같이 가시겠어요?”하고 힘없는 아저씨가 이번엔 나와 안을 번갈아 보며 말했다.
“— Các anh đã dùng bữa tối chưa? Tôi vẫn chưa ăn gì cả, nếu tôi mời thì các anh cùng đi với tôi nhé?” — Lần này, người đàn ông ấy nhìn luân phiên cả tôi và anh Ahn rồi hỏi.
- “먹었습니다”하고 나와 안은 동시에 대답했다.
“— Chúng tôi ăn rồi.” — Tôi và anh Ahn đồng thanh trả lời.
- “혼자서 하시죠”라고 내가 말했다.
“— Chú cứ tự nhiên dùng bữa đi ạ.” — Tôi nói.
- “그만 두겠습니다.” 힘없는 아저씨가 대답했다.
“— Vậy thì thôi vậy.” — Người đàn ông mệt mỏi đáp.
- “하세요. 따라가 드릴테니까요.”안이 말했다.
“— Chú cứ ăn đi. Chúng tôi sẽ đi cùng chú.” — Anh Ahn lên tiếng.
- “감사합니다. 그럼……”
“— Cảm ơn hai anh. Vậy thì…”
- 우리는 근처의 중국 요릿집으로 들어갔다.
Chúng tôi bước vào một quán ăn Trung Hoa gần đó.
- 방으로 들어가서 앉았을 때, 아저씨는 또 한 번 간곡하게 우리가 뭘 좀 들 것을 권했다.
Khi đã vào trong phòng và ổn định chỗ ngồi, người đàn ông ấy lại một lần nữa khẩn khoản mời chúng tôi dùng chút gì đó.
- 우리는 또 한 번 사양했다.
Chúng tôi lại một lần nữa từ chối.
- 그는 또 권했다.
Ông ta vẫn tiếp tục mời mọc.
- “아주 비싼 걸 시켜도 괜찮겠습니까?”라고 나는 그의 권유를 철회시키기 위해서 말했다.
“— Tôi gọi món gì thật đắt tiền cũng không sao chứ?” — Tôi nói thế để ông ta thôi không mời nữa.
- “네, 사양 마시고.” 그가 처음으로 힘있는 목소리로 말했다. “돈을 써버리기로 결심했으니까요.”
“— Vâng, xin đừng khách sáo.” — Lần đầu tiên ông ta nói bằng một giọng đầy khí lực. “Vì tôi đã quyết tâm phải tiêu sạch số tiền này rồi.”
- 나는 그 사내에게 어떤 꿍꿍이속이 있는 것만 같은 느낌이 들어서 좀 불안했지만, 통닭과 술을 시켜 달라고 했다.
Tôi cảm thấy có chút bất an vì linh cảm người đàn ông này đang mưu tính điều gì đó, nhưng tôi vẫn bảo ông ta gọi gà quay và rượu.
- 그는 자기가 주문한 것 외에 내가 말한 것도 사환에게 청했다.
Ông ta yêu cầu người phục vụ mang ra những món mình đã chọn và cả món tôi vừa nhắc đến.
- 안은 어처구니없는 얼굴로 나를 보았다.
Anh Ahn nhìn tôi với vẻ mặt đầy ngỡ ngàng.
- 나는 그때 마침 옆방에서 들려 오고 있는 여자의 불그레한 신음 소리를 듣고만 있었다.
Đúng lúc đó, tôi chỉ mải lắng nghe tiếng rên rỉ đầy nhục dục của một người phụ nữ vọng lại từ phòng bên cạnh.
- “이 형도 뭘 좀 드시죠?”라고 아저씨가 안에게 말했다.
“— Anh bạn này cũng dùng chút gì đi chứ?” — Người đàn ông nói với anh Ahn.
- “아니 전…….” 안은 술이 다 깬다는 듯이 펄쩍 뛰고 사양했다.
“— À, tôi thì…” — Anh Ahn giãy nảy từ chối như thể cơn say vừa chợt tan biến.
- 우리는 조용히 옆방의 다급해져 가는 신음 소리에 귀를 기울이고 있었다.
Chúng tôi im lặng lắng nghe tiếng rên rỉ mỗi lúc một dồn dập từ căn phòng bên.
- 전차의 끽끽거리는 소리와 홍수 난 강물 소리 같은 자동차들의 달리는 소리도 희미하게 들려 오고 있었고 가까운 곳에선 이따금 초인종 울리는 소리도 들렸다.
Tiếng nghiến rít của tàu điện và tiếng gầm rú của dòng xe cộ như thác lũ vọng lại xa xăm, thi thoảng còn nghe thấy tiếng chuông cửa reo lên đâu đó gần đây.
- 우리의 방은 어색한 침묵에 싸여 있었다.
Căn phòng của chúng tôi bao trùm trong một bầu không khí im lặng đầy gượng gạo.
- “말씀드리고 싶은 게 있는데요.” 마음씨 좋은 아저씨가 말하기 시작했다. “들어 주시면 고맙겠습니다…… 오늘 낮에 제 아내가 죽었습니다. 세브란스 병원에 입원하고 있었는데…….”
“— Tôi có chuyện này muốn nói.” — Người đàn ông có vẻ ngoài hiền lành bắt đầu cất lời. “Nếu các anh chịu lắng nghe thì tôi thật lòng cảm kích… Trưa nay, vợ tôi đã qua đời. Cô ấy nhập viện ở bệnh viện Severance…”
- 그는 이젠 슬프지도 않다는 얼굴로 우리를 빤히 쳐다보며 말하고 있었다.
Ông ta nhìn chằm chằm vào chúng tôi mà nói, gương mặt thản nhiên như thể nỗi đau đã không còn hiện hữu.
- “네에에.” “그거 안되셨군요.”라고 안과 나는 각각 조의를 표했다.
“— Ồ…” — “Thật chia buồn với chú.” — Tôi và anh Ahn lần lượt bày tỏ sự tiếc thương.
- “아내와 나는 참 재미있게 살았습니다. 아내가 어린애를 낳지 못하기 때문에 시간은 몽땅 우리 두 사람의 것이었습니다.”
“— Vợ chồng tôi đã sống với nhau rất hạnh phúc. Vì vợ tôi không thể sinh con nên toàn bộ thời gian chỉ dành riêng cho hai chúng tôi.”
- “돈은 넉넉하지 못했습니다만 그래도 돈이 생기면 우리는 어디든지 같이 다니면서 재미있게 지냈습니다.”
“Dẫu tiền bạc không mấy dư dả, nhưng hễ có chút tiền là chúng tôi lại cùng nhau đi khắp nơi vui vẻ.”
- “딸기철엔 수원(水原)에도 가고, 포도철에 안양(安養)에도 가고, 여름이면 대천(大川)에도 가고, 가을엔 경주(慶州)에도 가보고, 밤엔 영화 구경, 쇼 구경하러 열심히 극장에 쫓아다니기도 했습니다…….”
“Mùa dâu tây thì đi Suwon, mùa nho thì tới Anyang, mùa hè về Daecheon, mùa thu lại ghé thăm Gyeongju; tối tối chúng tôi còn chăm chỉ đến rạp xem phim, xem kịch…”
- “무슨 병환이셨던가요?”하고 안이 조심스럽게 물었다.
“— Chị nhà mắc bệnh gì vậy ạ?” — Anh Ahn thận trọng hỏi.
- “급성 뇌막염이라고 의사가 그랬습니다. 아내는 옛날에 급성 맹장염 수술을 받은 적도 있고, 급성 폐렴을 앓은 적도 있다고 했습니다만 모두 괜찮았는데 이번의 급성엔 결국 죽고 말았습니다……죽고 말았습니다.”
“— Bác sĩ nói đó là chứng viêm màng não cấp tính. Vợ tôi trước đây từng phẫu thuật viêm ruột thừa cấp, cũng từng mắc viêm phổi cấp, lần nào cũng đều qua khỏi cả, vậy mà lần ‘cấp tính’ này cô ấy cuối cùng đã qua đời… đã qua đời rồi.”
- 사내는 고개를 떨구고 한참 동안 무언지 입을 우물거리고 있었다.
Người đàn ông gục đầu xuống, đôi môi mấp máy lẩm bẩm điều gì đó hồi lâu.
- 안이 손가락으로 내 무릎을 찌르며 우리는 꺼지는 게 어떻겠느냐는 눈짓을 보냈다.
Ahn dùng ngón tay thúc vào đầu gối tôi, đưa mắt ra hiệu hay là chúng tôi nên chuồn lẹ khỏi đây.
- 나 역시 동감이었지만 그때 그 사내가 다시 고개를 들고 말을 계속했기 때문에 우리는 눌러 앉아 있을 수밖에 없었다.
Tôi cũng đồng tình với ý đó, nhưng đúng lúc ấy người đàn ông lại ngẩng đầu lên và tiếp tục nói, khiến chúng tôi chẳng còn cách nào khác là phải ngồi lại.
- “아내와는 재작년에 결혼했습니다. 우연히 알게 되었습니다. 친정이 대구 근처에 있다는 얘기만 했지 한 번도 친정과는 내왕이 없었습니다. 난 처갓집이 어딘지도 모릅니다. 그래서 할 수 없었어요.”
“— Tôi kết hôn với nhà tôi vào năm kia. Chúng tôi quen nhau tình cờ thôi. Cô ấy chỉ nói nhà đẻ ở gần Daegu chứ chưa bao giờ qua lại với bên đó cả. Tôi thậm chí còn chẳng biết nhà vợ mình ở đâu. Vì thế nên tôi đã không còn cách nào khác.”
- 그는 다시 고개를 떨구고 입을 우물거렸다.
Ông ta lại gục đầu xuống và mấp máy môi.
- “뭘 할 수 없었다는 말입니까?” 내가 물었다.
“— Chú bảo không còn cách nào khác là sao ạ?” — Tôi hỏi.
- 그는 내 말을 못 들은 것 같았다.
Ông ta dường như không nghe thấy lời tôi nói.
- 그러나 한참 후에 다시 고개를 들고 마치 애원하는 듯한 눈빛으로 말을 이었다.
Thế nhưng một lúc sau, ông ta lại ngẩng đầu lên, tiếp tục câu chuyện với ánh mắt như đang khẩn cầu.
- “아내의 시체를 병원에 팔았습니다. 할 수 없었습니다. 난 서적외판원에 지나지 않습니다. 할 수 없었습니다. 돈 사천 원을 주더군요.”
“— Tôi đã bán xác vợ mình cho bệnh viện. Tôi không còn cách nào khác cả. Tôi chỉ là một kẻ bán sách dạo mà thôi. Thật sự không còn cách nào khác. Họ đã đưa cho tôi bốn ngàn won.”
- “난 두 분을 만나기 얼마 전까지도 세브란스 병원 울타리 곁에 서 있었습니다. 아내가 누워 있을 시체실이 있는 건물을 알아보려고 했습니다만 어딘지 알 수 없었습니다.”
“Cho đến tận trước lúc gặp hai anh, tôi vẫn còn đứng bên hàng rào bệnh viện Severance. Tôi đã cố tìm xem tòa nhà có phòng chứa xác nơi vợ tôi đang nằm là chỗ nào, nhưng chẳng thể biết được.”
- “그냥 울타리 곁에 앉아서 병원의 큰 굴뚝에서 나오는 희끄무레한 연기만 바라보고 있었습니다. 아내는 어떻게 될까요? 학생들이 해부 실습하느라고 톱으로 머리를 가르고 칼로 배를 째고 한다는데 정말 그러겠지요?”
“Tôi cứ thế ngồi bên hàng rào, trố mắt nhìn làn khói trắng đục thoát ra từ chiếc ống khói lớn của bệnh viện. Vợ tôi rồi sẽ ra sao đây? Nghe nói sinh viên sẽ dùng cưa xẻ đầu, dùng dao mổ bụng để thực tập giải phẫu, chắc chắn là họ sẽ làm thế phải không?”
- 우리는 입을 다물고 있을 수밖에 없었다.
Chúng tôi chỉ biết im lặng.
- 사환이 다쿠앙과 양파가 담긴 접시를 갖다 놓고 나갔다.
Người phục vụ đặt đĩa củ cải muối và hành tây lên bàn rồi đi ra.
- “기분 나쁜 얘길 해서 미안합니다. 다만 누구에게라도 얘기하지 않고서는 견딜 수 없었습니다. 한 가지만 의논해 보고 싶은데, 이 돈을 어떻게 하면 좋을까요? 저는 오늘 저녁에 다 써버리고 싶은데요.”
“— Xin lỗi vì đã kể một câu chuyện khó chịu thế này. Chỉ là nếu không nói ra với ai đó, tôi không tài nào chịu đựng nổi. Tôi muốn bàn với hai anh một việc, tôi nên làm gì với số tiền này đây? Tôi muốn tiêu hết sạch nó ngay trong tối nay.”
- “쓰십시오.” 안이 얼른 대답했다.
“— Hãy cứ tiêu đi ạ.” — Ahn đáp lời ngay lập tức.
- “이 돈이 다 없어질 때까지 함께 있어 주시겠어요?” 사내가 말했다.
“— Hai anh có thể ở bên cạnh tôi cho đến khi số tiền này hết sạch không?” — Người đàn ông nói.
- 우리는 얼른 대답하지 못했다.
Chúng tôi không thể trả lời ngay.
- “함께 있어 주십시오.” 사내가 말했다.
“— Xin hãy ở bên tôi.” — Ông ta khẩn nài.
- 우리는 승낙했다.
Chúng tôi đã đồng ý.
- “멋있게 한번 써 봅시다.”라고 사내는 우리와 만나 후 처음으로 웃으면서, 그러나 여전히 힘없는 음성으로 말했다.
“— Hãy cùng tiêu xài thật hoành tráng một phen nào.” — Người đàn ông cười, lần đầu tiên kể từ khi gặp chúng tôi, nhưng giọng nói vẫn yếu ớt như cũ.
- 중국집에서 거리로 나왔을 때는 우리는 모두 취해 있었고, 돈은 천 원이 없어졌고, 사내는 한쪽 눈으로는 울고 다른 쪽 눈으로는 웃고 있었고,
Khi bước ra khỏi quán Trung Hoa, tất cả chúng tôi đều đã say khướt, một ngàn won đã biến mất; người đàn ông ấy một bên mắt thì khóc, một bên mắt thì cười;
- 안은 도망갈 궁리를 하기에도 지쳐 버렸다고 내게 말하고 있었고, 나는 “악센트 찍는 문제를 모두 틀려 버렸단 말야, 악센트 말야”라고 중얼거리고 있었고,
Ahn nói với tôi rằng anh ta đã quá mệt mỏi để nghĩ đến việc chạy trốn, còn tôi thì lẩm bẩm: “Tôi đã làm sai hết phần đánh dấu trọng âm rồi, trọng âm ấy”;
- 거리는 영화에서 본 식민지의 거리처럼 춥고 한산했고, 그러나 여전히 소주 광고는 부지런히, 약 광고는 게으름을 피우며 반짝이고 있었고, 전봇대의 아가씨는 ‘그저 그래요’라고 웃고 있었다.
đường phố lạnh lẽo và vắng vẻ như những con phố thời thuộc địa trong phim, thế nhưng quảng cáo rượu Soju vẫn nhấp nháy một cách cần mẫn, quảng cáo thuốc thì lười biếng tỏa sáng, và cô gái trên cột điện vẫn cười như muốn nói “cũng thường thôi”.
- “이제 어디로 갈까?”하고 아저씨가 말했다.
“— Giờ chúng ta đi đâu tiếp đây?” — Người đàn ông hỏi.
- “어디로 갈까?” Ahn이 말하고,
“— Đi đâu bây giờ?” — Ahn nói.
- “어디로 갈까?”라고 나도 그들의 말을 흉내 냈다.
“— Đi đâu bây giờ?” — Tôi cũng bắt chước lời họ.
- 아무데도 갈 데가 없었다.
Chẳng có nơi nào để đi cả.
- 방금 우리가 나온 중국집 곁에 양품점의 쇼윈도가 있었다.
Ngay cạnh quán ăn Trung Hoa chúng tôi vừa bước ra là tủ kính trưng bày của một cửa hàng bách hóa tổng hợp.
- 사내가 그쪽을 가리키며 우리를 끌어 당겼다.
Người đàn ông chỉ tay về hướng đó rồi kéo chúng tôi đi theo.
- 우리는 양품점 안으로 들어갔다.
Chúng tôi bước vào trong cửa hàng.
- “넥타이를 하나 골라 가져. 내 아내가 사주는 거야.” 사내가 호통을 쳤다.
“— Mỗi người hãy chọn một chiếc cà vạt đi. Là vợ tôi mua tặng đấy.” — Người đàn ông quát to.
- 우리는 알록달록한 넥타이를 하나씩 들었고, 돈은 육백 원이 없어져 버렸다.
Chúng tôi mỗi người cầm một chiếc cà vạt sặc sỡ, và sáu trăm won nữa lại biến mất.
- 우리는 양품점에서 나왔다.
Chúng tôi bước ra khỏi cửa hàng.
- “어디로 갈까?”라고 사내가 말했다.
“— Đi đâu bây giờ?” — Người đàn ông lại hỏi.
- 갈 데는 계속해서 없었다.
Vẫn chẳng có nơi nào để đi.
- 양품점의 앞에는 귤장수가 있었다.
Phía trước cửa hàng có một người bán quýt.
- “아내는 귤을 좋아했다.”고 외치며 사내는 귤을 벌여 놓은 수레 앞으로 돌진했다.
“— Vợ tôi rất thích ăn quýt.” — Người đàn ông hét lên rồi lao tới chiếc xe đẩy xếp đầy quýt.
- 돈 삼백 원이 없어졌다.
Ba trăm won nữa lại biến mất.
- 우리는 이빨로 귤 껍질을 벗기면서 그 부근에서 서성거렸다.
Chúng tôi vừa dùng răng lột vỏ quýt vừa lẩn quẩn quanh khu vực đó.
- “택시!” 사내가 고함쳤다.
“— Taxi!” — Người đàn ông gào lên.
- 택시가 우리 앞에서 멎었다.
Chiếc taxi dừng lại trước mặt chúng tôi.
- 우리가 차에 오르자마자 사내는, “세브란스로!”라고 말했다.
Ngay khi chúng tôi vừa lên xe, người đàn ông nói: “Đến bệnh viện Severance!”
- “안 됩니다. 소용없습니다.” Ahn이 재빠르게 외쳤다.
“— Không được đâu. Vô ích thôi.” — Ahn nhanh chóng thốt lên.
- “안 될까?” 사내는 중얼거렸다. “그럼 어디로?”
“— Không được sao?” — Người đàn ông lẩm bẩm. “Vậy thì đi đâu bây giờ?”
- 아무도 대답하지 않았다.
Chẳng ai trả lời cả.
- “어디로 가시는 겁니까?”라고 운전사가 짜증난 음성으로 말했다. “갈 데가 없으면 빨리 내리쇼.”
“— Các người rốt cuộc là muốn đi đâu?” — Tay tài xế nói bằng giọng bực dọc. “Nếu không có chỗ nào để đi thì xuống xe mau cho.”
- 우리는 차에서 내렸다.
Chúng tôi bước xuống xe.
- 결국 우리는 중국집에서 스무 발짝도 더 벗어나지 못하고 있었다.
Rốt cuộc, chúng tôi vẫn chưa rời xa quán Trung Hoa ấy quá hai mươi bước chân.
- 거리의 저쪽 끝에서 요란한 사이렌 소리가 나타나서 점점 가깝게 달려들었다.
Từ phía cuối con đường, tiếng còi hú vang dội vang lên và ngày một đến gần.
- 소방차 두 대가 우리 앞을 빠르고 시끄럽게 지나쳐 갔다.
Hai chiếc xe cứu hỏa lướt qua trước mặt chúng tôi một cách nhanh chóng và ồn ào.
- “택시!” 사내가 고함쳤다.
“— Taxi!” — Người đàn ông lại gào lên.
- 택시가 우리 앞에 멎었다.
Chiếc taxi dừng lại trước mặt chúng tôi.
- 우리가 차에 오르자마자 사내는, “저 소방차 뒤를 따라갑시다.”라고 말했다.
Ngay khi vừa lên xe, người đàn ông ra lệnh: “Hãy đuổi theo sau chiếc xe cứu hỏa kia.”
- 나는 귤 껍질 세 개째를 벗기고 있었다.
Tôi khi ấy đang bóc đến vỏ của quả quýt thứ ba.
- “지금 불구경하러 가고 있는 겁니까”라고 Ahn이 아저씨에게 말했다.
“— Có phải chúng ta đang đi xem hỏa hoạn không?” — Ahn nói với người đàn ông.
- “안 됩니다. 시간이 없습니다. 벌써 열 시 반인데요. 좀더 재미있게 지내야죠. 돈은 이제 얼마 남았습니까?”
“— Không được đâu. Không còn thời gian nữa. Đã mười giờ rưỡi rồi. Chúng ta phải vui vẻ hơn chút nữa chứ. Giờ chú còn lại bao nhiêu tiền?”
- 아저씨는 호주머니를 뒤져서 돈을 모두 털어냈다. 그리고 그것을 Ahn에게 건네줬다.
Người đàn ông lục túi và dốc hết sạch tiền ra, rồi đưa nó cho Ahn.
- 안과 나는 세어 봤다. 천구백 원하고 동전이 몇 개, 십 원짜리가 몇 장이 있었다.
Ahn và tôi cùng đếm. Có một ngàn chín trăm won, vài đồng xu và mấy tờ mười won.
- “됐습니다.” Ahn은 다시 돈을 돌려주면서 말했다. “세상엔 다행히 여자의 특징만 중점적으로 내보이는 여자들이 있습니다.”
“— Được rồi.” — Ahn vừa trả lại tiền vừa nói. “May mắn thay, trên đời này vẫn có những người phụ nữ chỉ phô bày trọng tâm những đặc điểm nữ tính của mình.”
- “내 아내 얘깁니까?”라고 사내가 슬픈 음성으로 물었다. “내 아내의 특징은 잘 웃는다는 것이었습니다.”
“— Anh đang nói về vợ tôi sao?” — Người đàn ông hỏi bằng giọng buồn bã. “Đặc điểm của vợ tôi là cô ấy cười rất tươi.”
- “아닙니다. 종삼(鐘三)으로 가자는 얘기였습니다.” Ahn이 말했다.
“— Không phải. Ý tôi là chúng ta hãy đến Jongsam (Khu phố đèn đỏ) đi.” — Ahn nói.
- 사내는 Ahn을 경멸하는 듯한 웃음을 띠며 고개를 돌려 버렸다.
Người đàn ông nở một nụ cười như thể khinh miệt Ahn rồi quay mặt đi chỗ khác.
- 그러는 사이에 우리는 화재가 난 곳에 도착했다. 삼십 원이 없어졌다.
Trong lúc đó, chúng tôi đã đến nơi xảy ra hỏa hoạn. Ba mươi won nữa đã biến mất.
- 화재가 난 곳은 아래층인 페인트 상점이었는데 지금은 미용 학원 이층에서 불길이 창으로부터 뿜어 나오고 있었다.
Nơi bốc cháy vốn là một cửa hàng sơn ở tầng dưới, nhưng hiện tại ngọn lửa đang phun ra từ những ô cửa sổ ở tầng hai của một học viện thẩm mỹ.
- 경찰들의 호각 소리, 소방차들의 사이렌 소리, 불길 속에서 나는 탁탁 소리, 물줄기가 건물의 벽에 부딪쳐서 나는 소리.
Tiếng còi của cảnh sát, tiếng còi hú của xe cứu hỏa, tiếng lách tách phát ra từ trong đám cháy, và tiếng vòi nước dội mạnh vào tường tòa nhà.
- 그러나 사람들의 소리는 아무것도 나지 않았다.
Thế nhưng, tuyệt nhiên không nghe thấy tiếng người nào cả.
- 사람들은 불빛에 비쳐 무안당한 사람들처럼 붉은 얼굴로 정물처럼 서 있었다.
Dưới ánh lửa, mọi người đứng lặng như những bức tượng tĩnh vật với khuôn mặt đỏ bừng như thể đang cảm thấy xấu hổ.
- 우리는 발밑에 굴러 있는 페인트 통을 하나씩 궁둥이 밑에 깔고 웅크리고 앉아서 불구경을 했다.
Chúng tôi mỗi người lấy một thùng sơn lăn lóc dưới chân làm ghế ngồi, rồi ngồi xổm xuống xem hỏa hoạn.
- 나는 불이 좀더 오래 타기를 바랐다. 미용 학원이라는 간판에 불이 붙고 있었다. ‘원’자에 불이 붙기 시작했다.
Tôi đã hy vọng ngọn lửa sẽ cháy lâu hơn một chút. Biển hiệu có chữ “Học viện thẩm mỹ” đang bắt lửa. Ngọn lửa bắt đầu bén vào chữ “Viện”.
- “김형, 우리 얘기나 합시다.”하고 Ahn이 말했다.
“— Anh Kim này, chúng ta nói chuyện chút đi.” — Ahn nói.
- “화재 같은 건 아무것도 아닙니다. 내일 아침 신문에서 볼 것을 오늘 밤에 미리 봤다는 차이밖에 없습니다.”
“— Chuyện hỏa hoạn chẳng có gì to tát cả. Khác biệt duy nhất là chúng ta thấy trước vào đêm nay những gì lẽ ra sáng mai mới đọc được trên mặt báo mà thôi.”
- “저 화재는 김 형의 것도 아니고 내 것도 아니고 이 아저씨 것도 아닙니다. 그렇기 때문에 난 화재엔 흥미가 없습니다. 김 형은 어떻게 생각하십니까?”
“Đám cháy đó không phải của anh Kim, cũng chẳng phải của tôi, và lại càng không phải của chú đây. Vì thế nên tôi chẳng có chút hứng thú nào với hỏa hoạn cả. Anh Kim nghĩ sao?”
- “동감입니다.”
“— Tôi đồng ý.”
- 물줄기 하나가 불타고 있는 ‘학’으로 달려들고 있었다. 물이 닿는 곳에선 회색 연기가 피어올랐다.
Một vòi nước đang nhắm thẳng vào chữ “Học” đang bốc cháy. Khói xám cuồn cuộn bốc lên ở nơi dòng nước chạm vào.
- 힘없는 아저씨가 갑자기 힘차게 깡통으로부터 일어섰다.
Người đàn ông vốn rệu rã bỗng nhiên đứng phắt dậy khỏi chiếc thùng thiếc một cách đầy khí lực.
- “내 아냅니다.”하고 사내는 환한 불길 속을 손가락질하며 눈을 크게 뜨고 소리쳤다.
“— Vợ tôi kìa!” — Người đàn ông vừa chỉ tay vào giữa ngọn lửa rực sáng vừa trợn tròn mắt gào lên.
- “내 아내가 머리를 막 흔들고 있습니다. 골치가 깨질 듯이 아프다고 머리를 막 흔들고 있습니다. 여보…….”
“— Vợ tôi đang lắc đầu liên tục kìa. Cô ấy đang lắc đầu vì đau như búa bổ. Mình ơi…”
- “골치가 깨질 듯이 아픈 게 뇌막염의 증세입니다. 그렇지만 저건 바람에 휘날리는 불길입니다.”
“— Đau đầu như búa bổ đúng là triệu chứng của viêm màng não. Thế nhưng, đó chỉ là ngọn lửa đang tạt theo chiều gió mà thôi.”
- “앉으세요. 불 속에 아주머님이 계실 리가 있습니까?”라고 Ahn이 아저씨를 끌어 앉히며 말했다.
“Chú ngồi xuống đi. Làm sao chị nhà lại có thể ở trong đám cháy được chứ?” — Ahn vừa nói vừa kéo người đàn ông ngồi xuống.
- 그러고 나서 Ahn은 나에게 나지막하게 속삭였다. “이 양반, 우릴 웃기는데요.”
Sau đó, Ahn thì thầm vào tai tôi: “Ông chú này đang làm trò cười cho chúng ta đấy.”
- 나는 꺼졌다고 생각하고 있던 ‘학’에 다시 불이 붙고 있는 것을 보았다.
Tôi nhìn thấy chữ “Học” mà tôi tưởng đã tắt ngấm nay lại bùng cháy trở lại.
- 물줄기가 다시 그곳으로 뻗어가고 있었다. 그러나 물줄기는 겨냥을 잘 잡지 못하고 이러저리 흔들리고 있었다.
Vòi nước lại một lần nữa hướng về phía đó. Thế nhưng, dòng nước không nhắm trúng mục tiêu mà cứ chao đảo qua lại.
- 불은 날쌔게 ‘용’자를 핥고 있었다.
Ngọn lửa nhanh chóng liếm sang chữ “Mỹ”.
- 나는 ‘미’까지 어서 불붙기를 바라고 있었고 그리고 그 간판에 불이 붙은 과정을 그 많은 불구경꾼들 중에서 나 혼자만 알고 있기를 바랐다.
Tôi đã thầm mong ngọn lửa sớm bén tới chữ “Thẩm”, và tôi muốn mình là người duy nhất trong đám đông đang xem hỏa hoạn kia biết được quá trình biển hiệu ấy bắt lửa như thế nào.
- 그러나 그때 문득 나는 불이 생명을 가진 것처럼 생각되어서, 내가 조금 전에 바라고 있던 것을 취소해 버렸다.
Thế nhưng, chính lúc ấy tôi chợt nghĩ rằng ngọn lửa như một sinh vật có sự sống, và thế là tôi liền thu hồi lại mong ước vừa rồi của mình.
- 무언가 하얀 것이 우리가 웅크리고 앉아 있는 곳에서 불타고 있는 건물 쪽으로 날아가는 것이 보였다. 그 비둘기는 불 속으로 떨어졌다.
Tôi nhìn thấy một vật gì đó màu trắng bay từ nơi chúng tôi đang ngồi xổm về phía tòa nhà đang bốc cháy. Đó là một con chim bồ câu, nó đã rơi thẳng vào trong biển lửa.
- “무엇이 불 속으로 날아 들어갔지요?” 내가 안을 돌아다보며 물었다.
“— Cái gì vừa bay vào trong lửa thế?” — Tôi quay sang hỏi Ahn.
- “예 뭐가 날아갔습니다.” 안은 나에게 대답하고 나서 이번엔 아저씨를 돌아다보며, “보셨어요?”하고 그에게 물었다.
“— Vâng, có cái gì đó vừa bay vào.” — Ahn đáp lời tôi rồi quay sang hỏi người đàn ông: “Chú có thấy không?”
- 아저씨는 잠자코 앉아 있었다. 그때 순경 한 사람이 우리 쪽으로 달려왔다.
Người đàn ông vẫn ngồi im lặng. Đúng lúc đó, một viên cảnh sát chạy về phía chúng tôi.
- “당신이다.”라고 순경은 아저씨를 한 손으로 붙잡으면서 말했다. “방금 무엇을 불 속에 던졌소?”
“— Chính là ông.” — Viên cảnh sát vừa nói vừa chộp lấy tay người đàn ông. “Ông vừa quăng cái gì vào trong lửa thế?”
- “아무것도 안 던졌습니다.”
“— Tôi không ném cái gì cả.”
- “뭐라구요?” 순경은 때릴 듯한 시늉을 하며 아저씨에게 소리쳤다. “내가 던지는 걸 봤단 말요. 무얼 불 속에 던졌소?”
“— Cái gì cơ?” — Viên cảnh sát quát lên, làm bộ như sắp đánh người đàn ông. “Chính mắt tôi đã thấy ông ném cơ mà. Ông đã ném cái gì vào lửa?”
- “돈입니다.”
“— Là tiền.”
- “돈?”
“— Tiền sao?”
- “돈과 돌을 수건에 싸서 던졌습니다.”
“— Tôi đã bọc tiền và một hòn đá vào chiếc khăn tay rồi ném đi.”
- “정말이오?” 순경은 우리에게 물었다.
“— Có thật không?” — Viên cảnh sát hỏi chúng tôi.
- “예, 돈이었습니다. 이 아저씨는 불난 곳에 돈을 던지면 장사가 잘 된다는 이상한 믿음을 가졌답니다. 말하자면 좀 돌았다고 할 수 있는 사람이지만 나쁜 짓을 결코 하지 않는 장사꾼입니다.” 안이 대답했다.
“— Vâng, là tiền đấy ạ. Chú này có một niềm tin kỳ lạ rằng hễ ném tiền vào nơi đang cháy thì việc làm ăn sẽ phát đạt. Có thể nói là đầu óc hơi có vấn đề một chút, nhưng chú ấy chỉ là một người buôn bán lương thiện, chẳng bao giờ làm việc ác đâu.” — Ahn trả lời.
- “돈은 얼마였소?”
“— Số tiền là bao nhiêu?”
- “일 원짜리 동전 한 개였습니다.” 안이 다시 대답했다.
“— Chỉ là một đồng xu một won thôi ạ.” — Ahn lại đáp.
- 순경이 가고 났을 때 안이 사내에게 물었다.
Sau khi viên cảnh sát đi khỏi, Ahn hỏi người đàn ông:
- “정말 돈을 던졌습니까?”
“— Chú đã ném tiền thật sao?”
- “예.”
“— Vâng.”
- 우리는 꽤 오랫동안 불꽃이 튀는 탁탁 소리에 귀를 기울이고 있었다. 한참 후에 안이 사내에게 말했다.
Chúng tôi đứng lắng nghe tiếng lách tách của tàn lửa bắn ra trong một hồi lâu. Một lát sau, Ahn nói với người đàn ông:
- “결국 그 돈은 다 쓴 셈이군요…… 자, 이젠 약속이 끝났으니 우린 가겠습니다. 안녕히 계십시오.”라고 나는 아저씨에게 작별 인사를 했다.
“— Rốt cuộc thì số tiền đó cũng đã tiêu hết sạch rồi nhỉ… Nào, giờ lời hứa cũng đã xong, chúng tôi xin phép đi trước. Chào chú nhé.” — Tôi nói lời tạm biệt với người đàn ông.
- 안과 나는 돌아서서 걷기 시작했다. 사내가 우리를 쫓아와서 안과 나의 팔을 반쪽씩 붙잡았다.
Ahn và tôi quay lưng bước đi. Người đàn ông đuổi theo, mỗi tay nắm chặt lấy một cánh tay của tôi và Ahn.
- “나 혼자 있기가 무섭습니다.” 그는 벌벌 떨며 말했다.
“— Tôi sợ phải ở lại một mình lắm.” — Ông ta run rẩy nói.
- “곧 통행 금지 시간이 됩니다. 난 여관으로 가서 잘 작정입니다.” 안이 말했다.
“— Sắp đến giờ giới nghiêm rồi. Tôi định sẽ đến lữ quán để ngủ.” — Ahn nói.
- “난 집으로 갈 겁니다.” 내가 말했다.
“— Còn tôi sẽ về nhà.” — Tôi nói.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





