DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT 날개 – 이상 Đôi cánh của nhà văn Yi Sang (Toàn văn)

DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT

날개 – 이상

Đôi cánh của nhà văn Yi Sang

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Trịnh Nguyệt Hân – CSTT Kanata Tân Bình

 

‘박제가 되어 버린 천재’를 아시오?

Bạn có biết về “một thiên tài đã biến thành tiêu bản” không?

나는 유쾌하오.

Tôi thấy khoái trá.

이런 때 연애까지가 유쾌하오.

Ngay cả việc yêu đương trong những lúc thế này cũng thật khoái trá.

육신이 흐느적흐느적하도록 피로했을 때만 정신이 은화처럼 맑소.

Chỉ khi thể xác mệt rã rời đến mức nhũn ra, tinh thần tôi mới tỉnh táo và sáng trong như đồng bạc.

니코틴이 내 횟배 앓는 뱃속으로 스미면 머릿속에 으레 백지가 준비되는 법이오.

Khi chất nicotin ngấm vào cái bụng đang đau thắt vì giun của tôi, trong đầu hiển nhiên sẽ chuẩn bị sẵn một tờ giấy trắng.

그 위에다 나는 위트와 패러독스를 바둑 포석처럼 늘어놓소.

Trên tờ giấy đó, tôi bày ra những lời hóm hỉnh và nghịch lý như những quân cờ vây.

가증할 상식의 병이오.

Đó là căn bệnh của cái thói thường tình đáng ghét.

나는 또 여인과 생활을 설계하오.

Tôi lại thiết kế một cuộc đời với người đàn bà.

연애기법에마저 서먹서먹해진 지성의 극치를 흘깃 좀 들여다본 일이 있는, 말하자면 일종의 정신분일자말이오.

Nói cách khác, đó là một loại người có tinh thần bị phân rã, kẻ từng liếc nhìn vào tận cùng của trí tuệ – nơi mà ngay cả kỹ nghệ yêu đương cũng trở nên xa lạ.

이런 여인의 반 — 그것은 온갖 것의 반이오. — 만을 영수하는 생활을 설계한다는 말이오.

Tôi muốn nói rằng tôi đang thiết kế một cuộc sống mà chỉ tiếp nhận một nửa của người đàn bà ấy — đó là một nửa của vạn vật.

그런 생활 속에 한 발만 들여놓고 흡사 두 개의 태양처럼 마주 쳐다보면서 낄낄거리는 것이오.

Ta chỉ đặt một chân vào cuộc sống ấy, nhìn nhau chằm chằm như hai mặt trời đối diện rồi cười khúc khích.

나는 아마 어지간히 인생의 제행이 싱거워서 견딜 수가 없게끔 되고 그만둔 모양이오.

Có lẽ tôi đã trở nên không thể chịu đựng nổi sự nhạt nhẽo của vạn vật trên đời nên mới từ bỏ.

굿바이.

Vĩnh biệt.

굿바이.

Vĩnh biệt.

그대는 이따금 그대가 제일 싫어하는 음식을 탐식하는 아이러니를 실천해 보는 것도 좋을 것 같소.

Thi thoảng, bạn cũng nên thực hành cái sự mỉa mai là ngốn ngấu món ăn mình ghét nhất xem sao.

위트와 패러독스와…….

Những lời hóm hỉnh và nghịch lý và…

그대 자신을 위조하는 것도 할 만한 일이오.

Việc ngụy tạo chính bản thân mình cũng là điều đáng để thử lắm.

그대의 작품은 한 번도 본 일이 없는 기성품에 의하여 차라리 경편하고 고매하리다.

Tác phẩm của bạn sẽ trở nên nhẹ nhàng và thanh cao hơn bởi những thứ hàng may sẵn mà bạn chưa từng thấy bao giờ.

19세기는 될 수 있거든 봉쇄하여 버리오.

Nếu có thể, hãy phong tỏa thế kỷ 19 lại.

도스토옙스키 정신이란 자칫하면 낭비일 것 같소.

Cái tinh thần Dostoevsky ấy, nếu sơ sẩy một chút sẽ chỉ là sự lãng phí mà thôi.

위고를 불란서의 빵 한 조각이라고는 누가 그랬는지 지언인 듯싶소.

Ai đó đã gọi Victor Hugo là “một mẩu bánh mì của nước Pháp”, nghe thật là lời chí lý.

그러나 인생 혹은 그 모형에 있어서 ‘디테일’ 때문에 속는다거나 해서야 되겠소?

Thế nhưng, trong cuộc đời hay trong hình mẫu của nó, lẽ nào ta lại để mình bị lừa dối bởi những “chi tiết” sao?

화를 보지 마오.

Đừng chuốc lấy họa.

부디 그대께 고하는 것이니…….

Đây là lời tôi khẩn thiết nhắn nhủ bạn…

“테이프가 끊어지면 피가 나오. 생채기도 머지않아 완치될 줄 믿소. 굿바이.”

“Băng bị đứt thì máu sẽ chảy. Tôi tin rằng vết trầy xước cũng sẽ sớm lành thôi. Vĩnh biệt.”

감정은 어떤 ‘포즈’.

Cảm xúc là một kiểu “dáng vẻ” (pose).

(그 ‘포즈’ của 원소만을 지적하는 것이 아닌지 나도 모르겠소.)

(Tôi cũng chẳng biết có phải mình đang chỉ ra nguyên tố của cái “dáng vẻ” đó không nữa.)

그 포우즈가 부동자세에까지 고도화할 때 감정은 딱 공급을 정지합네다.

Khi cái dáng vẻ ấy đạt đến độ cao của tư thế bất động, cảm xúc sẽ dừng cung cấp ngay lập tức.

나는 내 비범한 발육을 회고하여 세상을 보는 안목을 규정하였소.

Tôi hồi tưởng lại sự phát triển phi thường của mình để định ra nhãn quan nhìn đời.

여왕봉과 미망인— 세상의 하고 많은 여인이 본질적으로 이미 미망인이 아닌 이가 있으리까?

Ong chúa và góa phụ — trên thế gian này, trong số bao nhiêu người đàn bà, liệu có ai về bản chất không phải là một góa phụ không?

아니, 여인의 전부가 그 일상에 있어서 개개 ‘미망인’이라는 내 논리가 뜻밖에도 여성에 대한 모독이 되오?

Hay là, cái logic của tôi rằng mọi người đàn bà đều là những “góa phụ” riêng lẻ trong cuộc sống thường nhật của họ, lại bất ngờ trở thành sự sỉ nhục đối với phụ nữ sao?

굿바이. Vĩnh biệt.

그 33번지라는 것이 구조가 흡사 유곽이라는 느낌이 없지 않다.
Tôi không khỏi có cảm giác rằng cái địa chỉ số 33 ấy có cấu trúc hệt như một khu lầu xanh.

한 번지에 18가구가 죽 어깨를 맞대고 늘어서서 창호가 똑같고 아궁이 모양이 똑같다.
Tại một số nhà, 18 hộ gia đình xếp hàng san sát vai nhau, cửa giấy giống hệt nhau và hình dáng lò sưởi cũng giống hệt nhau.

게다가 각 가구에 사는 사람들이 송이송이 꽃과 같이 젊다.
Đã vậy, những người sống trong mỗi căn hộ đều trẻ trung như từng đóa hoa.

해가 들지 않는다.
Ánh nắng không lọt vào.

해가 드는 것을 그들이 모른 체하는 까닭이다.
Đó là vì họ vờ như không biết đến sự hiện diện của mặt trời.

턱살밑에다 철줄을 매고 얼룩 진 이부자리를 널어 말린다는 핑계로 미닫이에 해가 드는 것을 막아 버린다.
Họ chăng dây thép dưới cằm, lấy cớ phơi những bộ chăn nệm lốm đốm vết bẩn để chặn đứng ánh nắng chiếu vào cửa kéo.

침침한 방안에서 낮잠들을 잔다.
Họ ngủ trưa trong những căn phòng tối tăm.

그들은 밤에는 잠을 자지 않나?
Ban đêm họ không ngủ sao?

알 수 없다.
Tôi chẳng rõ.

나는 밤이나 낮이나 잠만 자느라고 그런 것을 알 길이 없다.
Vì tôi thì cứ ngủ suốt bất kể ngày đêm, nên chẳng cách nào biết được những việc đó.

33번지 18가구의 낮은 참 조용하다.
Ban ngày của 18 hộ gia đình tại số 33 thật sự rất tĩnh lặng.

조용한 것은 낮뿐이다.
Chỉ có ban ngày là tĩnh lặng thôi.

어둑어둑하면 그들은 이부자리를 걷어 들인다.
Khi trời bắt đầu sẩm tối, họ thu dọn chăn nệm vào.

전등불이 켜진 뒤의 18가구는 낮보다 훨씬 화려하다.
Sau khi đèn điện bật sáng, 18 hộ gia đình trở nên lộng lẫy hơn hẳn so với ban ngày.

저물도록 미닫이 여닫는 소리가 잦다.
Tiếng mở đóng cửa kéo dồn dập cho đến tận đêm khuya.

바빠진다.
Mọi thứ trở nên bận rộn.

여러 가지 냄새가 나기 시작한다.
Đủ loại mùi bắt đầu bốc lên.

비웃 굽는 내, 탕고도오랑내, 뜨물내, 비눗내.
Mùi cá trích nướng, mùi nước hoa rẻ tiền, mùi nước vo gạo, mùi xà phòng.

그러나 이런 것들보다도 그들의 문패가 제일로 고개를 끄덕이게 하는 것이다.
Thế nhưng, so với những thứ này, chính những tấm biển tên của họ mới là điều khiến người ta phải gật đầu tâm đắc nhất.

이 18가구를 대표하는 대문이라는 것이 일각이 져서 외따로 떨어지기는 했으나, 있다.
Cái cổng lớn đại diện cho 18 hộ này, dẫu có hơi lệch và nằm tách biệt ra một góc, nhưng vẫn hiện hữu.

그러나 그것은 한 번도 닫힌 일이 없는, 한길이나 마찬가지 대문인 것이다.
But đó là cái cổng chưa từng một lần đóng lại, một cái cổng chẳng khác nào đường cái.

온갖 장사치들은 하루 가운데 어느 시간에라도 이 대문을 통하여 드나들 수 있는 것이다.
Mọi hạng buôn bán đều có thể ra vào cái cổng này vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày.

이네들은 문간에서 두부를 사는 것이 아니라, 미닫이를 열고 방에서 두부를 사는 것이다.
Những người ở đây không mua đậu phụ ở ngoài cổng, mà họ mở cửa kéo và mua đậu phụ ngay tại trong phòng.

이렇게 생긴 33번지 대문에 그들 18 가구의 문패를 몰아다 붙이는 것은 의미가 없다.
Việc đem tất cả biển tên của 18 hộ gia đình đó gắn lên cái cổng số 33 như thế này quả thật chẳng có ý nghĩa gì.

그들은 어느 사이엔가 각 미닫이 위 백인당이니 길상당이니 써 붙인 한 곁에다 문패를 붙이는 풍속을 가져 버렸다.
Chẳng biết từ lúc nào, họ đã nảy ra cái phong tục gắn biển tên ngay bên cạnh những dòng chữ như “Bách Nhân Đường” hay “Cát Tường Đường” dán trên mỗi cánh cửa kéo.

내 방 미닫이 위 한 곁에 칼표 딱지를 넷에다 낸 것만한 내— 아니! 내 아내의 명함이 붙어 있는 것도 이 풍속을 좇은 것이 아닐 수 없다.
Việc trên cửa kéo phòng tôi có dán một tấm danh thiếp nhỏ bằng một phần tư nhãn hiệu dao — à không! danh thiếp của vợ tôi — chắc chắn cũng không ngoài việc tuân theo cái phong tục đó.

나는 그러나 그들의 아무와도 놀지 않는다.
Thế nhưng tôi chẳng giao du với bất kỳ ai trong số họ.

놀지 않을 뿐만 아니라 인사도 않는다.
Không chỉ không giao du, tôi còn chẳng thèm chào hỏi.

나는 내 아내와 인사하는 외에 누구와도 인사하고 싶지 않았다.
Ngoài việc chào hỏi vợ mình ra, tôi chẳng muốn chào hỏi bất kỳ ai khác.

내 아내 외의 다른 사람과 인사를 하거나 놀거나 하는 것은 내 아내 낯을 보아 좋지 않은 일인 것만 같이 생각이 되었기 때문이다.
Bởi tôi nghĩ rằng việc chào hỏi hay giao du với người khác ngoài vợ mình là điều không hay ho gì khi nhìn vào mặt vợ.

나는 이만큼까지 내 아내를 소중히 생각한 것이다.
Tôi đã trân trọng vợ mình đến nhường ấy đấy.

내가 이렇게까지 내 아내를 소중히 생각한 까닭은 이 33번지 18가구 속에서 내 아내가 내 아내의 명함처럼 제일 작고 제일 아름다운 것을 안 까닭이다.
Lý do tôi trân trọng vợ mình đến nhường ấy là bởi tôi biết rằng, trong số 18 hộ gia đình ở địa chỉ số 33 này, vợ tôi là người nhỏ nhắn nhất và xinh đẹp nhất, hệt như tấm danh thiếp của cô ấy vậy.

18가구에 각기 빌어 들은 송이송이 꽃들 가운데서도 내 아내가 특히 아름다운 한 떨기의 꽃으로 이 함석지붕 밑 볕 안 드는 지역에서 어디까지든지 찬란하였다.
Giữa những đóa hoa đang nương náu trong 18 hộ gia đình kia, vợ tôi là một nhành hoa đặc biệt kiều diễm, luôn tỏa sáng rực rỡ dù ở trong cái khu vực không chút ánh nắng dưới mái tôn thiếc này.

따라서 그런 한 떨기 꽃을 지키고 — 아니 그 꽃에 매어달려 사는 나라는 존재가 도무지 형언할 수 없는 거북살스러운 존재가 아닐 수 없었던 것은 물론이다.
Dĩ nhiên, chính vì thế mà sự tồn tại của tôi — kẻ đang bảo vệ nhành hoa ấy, hay nói đúng hơn là kẻ đang sống bám vào nó — không khỏi trở thành một sự tồn tại khó chịu và bức bối không sao tả xiết.

나는 어디까지든지 내 방이 — 집이 아니다. 집은 없다. — 마음에 들었다.
Tôi, dù thế nào đi chăng nữa, đối với căn phòng của mình — không phải là nhà. Không có nhà. — đã vô cùng vừa ý.

방안의 기온은 내 체온을 위하여 쾌적하였고, 방안의 침침한 정도가 또한 내 안력을 위하여 쾌적하였다.
Nhiệt độ trong phòng rất dễ chịu đối với thân nhiệt của tôi, và cái độ tối mờ của căn phòng cũng thật vừa vặn cho thị lực của tôi.

나는 내 방 이상의 서늘한 방도 또 따뜻한 방도 희망하지 않았다.
Tôi chẳng hề mong mỏi một căn phòng nào mát mẻ hơn hay ấm áp hơn căn phòng mình đang ở.

이 이상으로 밝거나 이 이상으로 아늑한 방은 원하지 않았다.
Tôi cũng chẳng ước ao một nơi nào sáng sủa hơn hay ấm cúng hơn thế này.

내 방은 나 하나를 위하여 요만한 정도를 꾸준히 지키는 것 같아 늘 내 방에 감사하였고, 나는 또 이런 방을 위하여 이 세상에 태어난 것만 같아서 즐거웠다.
Căn phòng dường như luôn kiên trì giữ nguyên trạng thái vừa vặn này chỉ để dành riêng cho tôi, nên tôi luôn thấy biết ơn nó; và tôi cũng thấy vui sướng vì cảm giác như mình được sinh ra trên đời này chỉ để dành cho một căn phòng như thế.

그러나 이것은 행복이라든가 불행이라든가 하는 것을 계산하는 것은 아니었다.
Thế nhưng, điều này không phải là việc tính toán xem đó là hạnh phúc hay bất hạnh.

말하자면 나는 내가 행복되다고도 생각할 필요가 없었고, 그렇다고 불행하다고도 생각할 필요가 없었다.
Nói cách cách khác, tôi chẳng cần phải nghĩ rằng mình đang hạnh phúc, mà cũng chẳng việc gì phải nghĩ rằng mình đang bất hạnh.

그냥 그날을 그저 까닭없이 펀둥펀둥 게으르고만 있으면 만사는 그만이었던 것이다.
Chỉ cần cứ thế trôi qua ngày đoạn tháng, lười nhác vơ vất chẳng vì lý do gì, thế là xong mọi chuyện.

내 몸과 마음에 옷처럼 잘 맞는 방 속에서 뒹굴면서, 축 쳐져 있는 것은 행복이니 불행이니 하는 그런 세속적인 계산을 떠난, 가장 편리하고 안일한 말하자면 절대적인 상태인 것이다.
Việc nằm lăn lộn, buông xuôi rã rời trong căn phòng vừa vặn với cả thân xác lẫn tâm hồn mình như một bộ quần áo, chính là một trạng thái tuyệt đối — tiện lợi và an nhàn nhất, vượt xa mọi sự tính toán trần tục về hạnh phúc hay khổ đau.

나는 이런 상태가 좋았다.
Tôi thích trạng thái này.

이 절대적인 내 방은 대문간에서 세어서 똑 일곱째 칸이다.
Căn phòng tuyệt đối này của tôi, tính từ cổng vào, chính xác là gian thứ bảy.

러키세븐의 뜻이 없지 않다.
Nó không phải không mang ý nghĩa của con số bảy may mắn (Lucky Seven).

나는 이 일곱이라는 숫자를 훈장처럼 사랑하였다.
Tôi yêu con số bảy này như yêu một tấm huân chương.

이런 이 방이 가운데 장지로 말미암아 두 칸으로 나뉘어 있었다는 그것이 내 운명의 상징이었던 것을 누가 알랴?
Có ai ngờ được rằng việc căn phòng ấy bị chia làm hai gian bởi một tấm vách ngăn ở giữa lại chính là biểu tượng cho vận mệnh của tôi?

아랫방은 그래도 해가 든다.
Gian phòng phía dưới dù sao cũng có nắng rọi vào.

아침결에 책보만한 해가 들었다가 오후에 손수건만 해지면서 나가 버린다.
Buổi sáng, nắng rọi vào to bằng cái khăn gói sách, rồi đến chiều thu bé lại chỉ bằng chiếc khăn tay trước khi tan biến hẳn.

해가 영영 들지 않는 윗방이 즉 내 방인 것은 말할 것도 없다.
Chẳng cần phải nói, gian phòng phía trên nơi mặt trời vĩnh viễn không rọi tới chính là phòng của tôi.

이렇게 볕드는 방이 아내 방이요, 볕 안드는 방이 내 방이요 하고 아내와 나 둘 중에 누가 정했는지 나는 기억하지 못한다.
Căn phòng có nắng là phòng của vợ, còn căn phòng không nắng là phòng của tôi — chuyện này do vợ hay do tôi quyết định, tôi chẳng còn nhớ rõ nữa.

그러나 나에게는 불평이 없다.
Thế nhưng, tôi chẳng có lấy một lời phàn nàn.

아내가 외출만 하면 나는 얼른 아랫방으로 와서 그 동쪽으로 난 들창을 열어 놓고 열어놓으면 들이비치는 햇살이 아내의 화장대를 비춰 가지각색 병들이 아롱이 지면서 찬란하게 빛나고, 이렇게 빛나는 것을 보는 것은 다시없는 내 오락이다.
Cứ hễ vợ ra ngoài là tôi liền lẻn sang phòng dưới, mở toang cánh cửa sổ hướng Đông; khi đó, ánh nắng ùa vào soi rọi bàn trang điểm của vợ khiến những chiếc lọ đủ màu sắc lấp lánh sắc cầu vồng, rực rỡ vô ngần, và việc ngắm nhìn sự lộng lẫy ấy là thú vui độc nhất vô nhị của tôi.

나는 조그만 돋보기를 꺼내가지고 아내만이 사용하는 지리가미를 꺼내 가지고 그을려가면서 불장난을 하고 논다.
Tôi lấy ra một chiếc kính lúp nhỏ cùng loại giấy vệ sinh (jirigami) mà chỉ vợ mới dùng, rồi bắt đầu chơi trò đốt giấy.

평행광선을 굴절시켜서 한 초점에 모아가지고 그 초점이 따끈따끈해지다가, 마지막에는 종이를 그을리기 시작하고, 가느다란 연기를 내면서 드디어 구멍을 뚫어 놓는 데까지 이르는, 고 얼마 안 되는 동안의 초조한 맛이 죽고 싶을 만큼 내게는 재미있었다.
Khúc xạ những tia sáng song song để tập trung chúng vào một tiêu điểm, khiến điểm đó nóng dần lên, rồi cuối cùng bắt đầu làm sém mặt giấy, tỏa ra làn khói mỏng manh và đục thủng một lỗ — cái cảm giác nôn nao trong khoảnh khắc ngắn ngủi ấy đối với tôi thú vị đến mức muốn chết đi được.

이 장난이 싫증이 나면 나는 또 아내의 손잡이 거울을 가지고 여러 가지로 논다.
Khi đã chán trò này, tôi lại đem chiếc gương cầm tay của vợ ra nghịch đủ kiểu.

거울이란 제 얼굴을 비칠 때만 실용품이다.
Gương soi chỉ là vật dụng thực tế khi người ta soi mặt mình.

그 외의 경우에는 도무지 장난감인 것이다.
Còn ngoài ra, nó hoàn toàn chỉ là một món đồ chơi.

이 장난도 곧 싫증이 난다.
But trò này cũng nhanh chóng làm tôi chán ngấy.

나의 유희심은 육체적인 데서 정신적인 데로 비약한다.
Tính ham chơi của tôi nhảy vọt từ thể xác sang tinh thần.

나는 거울을 내던지고 아내의 화장대 앞에 가까이 가서 나란히 늘어 놓인 그 가지각색의 화장품 병들을 들여다본다.
Tôi quẳng chiếc gương đi, tiến lại gần bàn trang điểm của vợ và nhìn sâu vào những lọ mỹ phẩm đủ loại đang xếp hàng ngay ngắn.

고것들은 세상의 무엇보다도 매력적이다.
Chúng quyến rũ hơn bất cứ thứ gì trên đời.

나는 그 중의 하나만을 골라서 가만히 마개를 빼고 병 구멍을 내 코에 가져다 대고 숨죽이듯이 가벼운 호흡을 하여 본다.
Tôi chọn lấy một lọ, khẽ khàng mở nắp, đưa miệng lọ sát mũi mình rồi thử hít vào một hơi nhẹ bẫng như đang nín thở.

이국적인 센슈얼한 향기가 폐로 스며들면 나는 저절로 스르르 감기는 내 눈을 느낀다.
Khi làn hương ngoại lai đầy nhục cảm (sensual) thấm vào phổi, tôi cảm thấy đôi mắt mình tự nhiên nhắm nghiền lại.

확실히 아내의 체취의 파편이다.
Chắc chắn rồi, đó là một mảnh vụn từ mùi cơ thể của vợ tôi.

나는 도로 병마개를 막고 생각해 본다.
Tôi đậy nắp lọ lại và bắt đầu suy ngẫm.

아내의 어느 부분에서 요 냄새가 났던가를…… 그러나 그것은 분명하지 않다.
Mùi hương này toát ra từ phần nào trên cơ thể vợ tôi nhỉ… Thế nhưng, điều đó chẳng rõ ràng chút nào.

왜?
Tại sao ư?

아내의 체취는 여기 늘어섰을 가지각색 향기의 합계일 것이니까.
Vì mùi cơ thể của vợ hẳn là tổng hòa của tất cả các loại hương thơm đang bày la liệt ở đây.

아내의 방은 늘 화려하였다.
Phòng của vợ luôn rực rỡ.

내 방이 벽에 못 한 개 꽂히지 않은 소박한 것인 반대로, 아내 방에는 천장 밑으로 쫙 돌려 못이 박히고, 못마다 화려한 아내의 치마와 저고리가 걸렸다.
Trái ngược với căn phòng đơn sơ của tôi — nơi chẳng có lấy một chiếc đinh đóng trên tường — thì phòng vợ tôi đinh đóng san sát vòng quanh ngay dưới trần nhà, và trên mỗi chiếc đinh ấy treo lủng lẳng những bộ váy áo (chima và jeogori) sặc sỡ.

여러 가지 무늬가 보기 좋다.
Những hoa văn đa dạng trông thật đẹp mắt.

나는 그 여러 조각의 치마에서 늘 아내의 동체와, 그 동체가 될 수 있는 여러 가지 포우즈를 연상하고 연상하면서 내 마음은 늘 점잖지 못하다.
Từ những mảnh váy áo ấy, tôi luôn liên tưởng đến thân thể của vợ cùng đủ loại tư thế (pose) mà thân thể ấy có thể tạo ra; cứ mải miết liên tưởng như thế, lòng tôi chẳng bao giờ giữ được vẻ đoan trang.

그렇건만 나에게는 옷이 없었다.
Dẫu vậy, tôi chẳng có quần áo.

아내는 내게 옷을 주지 않았다.
Vợ không cho tôi quần áo.

입고 있는 코르덴양복 한 벌이 내 자리옷이었고 통상복과 나들이옷을 겸한 것이었다.
Bộ comple nhung kẻ đang mặc vừa là đồ ngủ, vừa là đồ mặc thường ngày, lại kiêm luôn cả đồ đi chơi của tôi.

그리고 하이넥의 스웨터가 한 조각 사철을 통한 내 내의다.
Và một chiếc áo len cổ cao chính là món nội y duy nhất tôi mặc suốt bốn mùa.

그것들은 하나같이 다 빛이 검다.
Chúng thảy đều mang một màu đen tuyền.

그것은 내 짐작 같아서는 즉 빨래를 될 수 있는 데까지 하지 않아도 보기 싫지 않게 하기 위한 것이 아닌가 한다.
Theo tôi đoán, đó là để dù có không giặt giũ bao lâu đi chăng nữa thì trông cũng không đến nỗi quá chướng mắt.

나는 허리와 두 가랑이 세 군데 다— 고무 밴드가 끼어 있는 부드운 사루마다를 입고 그리고 아무 소리 없이 잘 놀았다.
Tôi mặc chiếc quần lót (sarumada) mềm mại có dây chun ở thắt lưng và hai ống đùi — và cứ thế lặng lẽ chơi đùa một mình.

어느덧 손수건 만해졌던 볕이 나갔는데 아내는 외출에서 돌아오지 않는다.
Chẳng mấy chốc, tia nắng nhỏ bằng chiếc khăn tay đã tan biến, nhưng vợ vẫn chưa đi chơi về.

나는 요만 일에도 좀 피곤하였고 또 아내가 돌아오기 전에 내 방으로 가 있어야 될 것을 생각하고 그만 내 방으로 건너간다.
Tôi thấy hơi mệt mỏi dù chỉ mới làm chừng ấy việc, lại nghĩ mình phải về phòng trước khi vợ quay lại, nên tôi bước sang phòng mình.

내 방은 침침하다.
Phòng của tôi tối mờ mờ.

나는 이불을 뒤집어쓰고 낮잠을 잔다.
Tôi trùm chăn kín đầu và ngủ trưa.

한 번도 걷은 일이 없는 내 이부자리는 내 몸뚱이의 일부분처럼 내게는 참 반갑다.
Bộ chăn nệm chưa từng một lần được gấp lại ấy đối với tôi thật thân thuộc, như thể là một phần cơ thể mình vậy.

잠은 잘 오는 적도 있다.
Cũng có lúc tôi ngủ rất ngon.

그러나 또 전신이 까칫까칫하면서 영 잠이 오지 않는 적도 있다.
Nhưng cũng có lúc toàn thân bứt rứt, chẳng tài nào chợp mắt nổi.

그런 때는 아무 제목으로나 제목을 하나 골라서 연구하였다.
Những khi ấy, tôi chọn đại một chủ đề nào đó để bắt đầu nghiên cứu.

나는 내 좀 축축한 이불속에서 참 여러 가지 발명도 하였고 논문도 많이 썼다.
Dưới lớp chăn hơi ẩm ướt của mình, tôi đã thực hiện biết bao phát minh và cũng đã viết rất nhiều luận văn.

시도 많이 지었다.
Tôi cũng đã làm rất nhiều thơ nữa.

그러나 그것들은 내가 잠이 드는 것과 동시에 내 방에 담겨서 철철 넘치는 그 흐늑흐늑한 공기에 다 비누처럼 풀어져서 온데간데없고, 한잠 자고 깨인 나는 속이 무명헝겊이나 메밀껍질로 띵띵 찬 한 덩어리 베개와도 같은 한 벌 신경이었을 뿐이고 뿐이고 하였다.
Thế nhưng, tất cả chúng, ngay khoảnh khắc tôi chìm vào giấc ngủ, đều tan ra như xà phòng vào bầu không khí đặc quánh đang tràn trề trong căn phòng rồi biến mất không tăm tích, để rồi khi thức dậy sau một giấc ngủ dài, tôi chỉ còn là một bộ dây thần kinh, hệt như một chiếc gối nhồi chặt cứng những mảnh vải thô hay vỏ me-mil mà thôi và mà thôi.

그러기에 나는 빈대가 무엇보다도 싫었다.
Chính vì thế mà tôi ghét lũ rệp hơn bất cứ thứ gì trên đời.

그러나 내 방에서는 겨울에도 몇 마리의 빈대가 끊이지 않고 나왔다.
Thế nhưng, trong căn phòng của tôi, ngay cả giữa mùa đông vẫn có mấy con rệp bò ra không ngớt.

내게 근심이 있었다면 오직 이 빈대를 미워하는 근심일 것이다.
Nếu tôi có điều gì phải lo phiền, thì đó chỉ có thể là nỗi lo phiền vì căm ghét lũ rệp này mà thôi.

나는 빈대에게 물려서 가려운 자리를 피가 나도록 긁었다.
Tôi gãi những chỗ bị rệp cắn đến mức chảy cả máu.

쓰라리다.
Xót xa làm sao.

그것은 그윽한 쾌감에 틀림없었다.
But đó chắc chắn là một khoái cảm sâu kín.

나는 혼곤히 잠이 들다.
Tôi chìm vào giấc ngủ say nồng.

나는 그러나 그런 이불 속의 사색 생활에서도 적극적인 것을 궁리하는 법이 없다.
Thế nhưng, ngay cả trong cuộc sống tư lự dưới lớp chăn ấy, tôi cũng chẳng bao giờ mưu tính điều gì tích cực.

내게는 그럴 필요가 대체 없었다.
Bởi lẽ, tôi căn bản là không có nhu cầu đó.

만일 내가 그런 좀 적극적인 것을 궁리해내었을 경우에 나는 반드시 내 아내와 의논하여야 할 것이고, 그러면 반드시 나는 아내에게 꾸지람을 들을 것이고— 나는 꾸지람이 무서웠다느니 보다는 성가셨다.
Giả sử nếu tôi có nghĩ ra điều gì đó tích cực, tôi nhất định sẽ phải bàn bạc với vợ mình, và khi đó nhất định tôi sẽ bị vợ mắng nhiếc—mà tôi thì, nói là sợ bị mắng thì không đúng bằng nói là tôi thấy phiền phức.

내가 제법 한 사람의 사회인의 자격으로 일을 해 보는 것도 아내에게 사설 듣는 것도 나는 가장 게으른 동물처럼 게으른 것이 좋았다.
Dù là thử làm việc với tư cách của một người xã hội thực thụ hay là phải nghe vợ cằn nhằn, tôi đều thấy thà rằng cứ lười nhác như một con vật lười biếng nhất lại hay hơn.

될 수만 있으면 이 무의미한 인간의 탈을 벗어 버리고도 싶었다.
Nếu có thể, tôi cũng muốn rũ bỏ cái lớp mặt nạ người vô nghĩa này đi cho rảnh nợ.

나에게는 인간 사회가 스스러웠다.
Đối với tôi, xã hội loài người thật gượng gạo.

생활이 스스러웠다.
Cuộc sống thật gượng gạo.

모두가 서먹서먹할 뿐이었다.
Mọi thứ chỉ toàn là sự xa lạ mà thôi.

아내는 하루에 두 번 세수를 한다.
Vợ tôi rửa mặt mỗi ngày hai lần.

나는 하루 한 번도 세수를 하지 않는다.
Tôi thì đến một lần rửa mặt mỗi ngày cũng không.

나는 밤중 세 시나 네 시쯤 해서 변소에 갔다.
Tôi thường đi vệ sinh vào khoảng ba hay bốn giờ sáng.

달이 밝은 밤에는 한참씩 마당에 우두커니 섰다가 들어오곤 한다.
Vào những đêm trăng sáng, tôi thường đứng thẫn thờ giữa sân một lúc lâu rồi mới trở vào.

그러니까 나는 이 18가구의 아무와도 얼굴이 마주치는 일이 거의 없다.
Chính vì thế mà tôi hầu như chẳng bao giờ chạm mặt bất kỳ ai trong số 18 hộ gia đình này.

그러면서도 나는 이 18가구의 젊은 여인네 얼굴들을 거반 다 기억하고 있었다.
Dẫu vậy, tôi vẫn ghi nhớ gần hết khuôn mặt của những người phụ nữ trẻ trong 18 hộ gia đình ấy.

그들은 하나 같이 내 아내만 못하였다.
Tất cả bọn họ đều chẳng có lấy một ai bằng được vợ tôi.

열한 시쯤 해서 하는 아내의 첫 번 세수는 좀 간단하다.
Lần rửa mặt đầu tiên của vợ vào khoảng mười một giờ trưa thì khá đơn giản.

그러나 저녁 일곱 시쯤 해서 하는 두 번째 세수는 손이 많이 간다.
Thế nhưng, lần rửa mặt thứ hai vào khoảng bảy giờ tối thì lại tốn rất nhiều công sức.

아내는 낮에 보다도 밤에 더 좋고 깨끗한 옷을 입는다.
Vợ tôi mặc những bộ đồ đẹp đẽ và sạch sẽ vào ban đêm nhiều hơn là ban ngày.

그리고 낮에도 외출하고 밤에도 외출하였다.
Và cô ấy ra ngoài cả vào ban ngày lẫn ban đêm.

아내에게 직업이 있었던가?
Vợ tôi có nghề nghiệp gì không nhỉ?

나는 아내의 직업이 무엇인지 알 수 없다.
Tôi chẳng thể nào biết được nghề nghiệp của vợ là gì.

만일 아내에게 직업이 없었다면 같이 직업이 없는 나처럼 외출할 필요가 생기지 않을 것인데— 아내는 외출한다.
Nếu vợ không có nghề nghiệp thì hẳn cô ấy đã chẳng cần phải ra ngoài giống như tôi, một kẻ cũng không nghề nghiệp—vậy mà vợ vẫn cứ ra ngoài.

외출할 뿐만 아니라 내객이 많다.
Không chỉ ra ngoài, cô ấy còn có rất nhiều khách khứa đến thăm.

아내에게 내객이 많은 날은 나는 온종일 내 방에서 이불을 쓰고 누워 있어야만 된다.
Vào những ngày vợ có nhiều khách, tôi buộc phải nằm trong phòng mình trùm chăn kín mít suốt cả ngày.

불장난도 못한다.
Tôi không được chơi trò đốt giấy.

화장품 냄새도 못 맡는다.
Cũng chẳng được ngửi mùi mỹ phẩm.

그런 날은 나는 의식적으로 우울해 하였다.
Những ngày như thế, tôi cố tình tỏ ra u uất.

그러면 아내는 나에게 돈을 준다.
Thấy vậy, vợ sẽ cho tôi tiền.

오십 전짜리 은화다.
Đó là một đồng bạc trị giá năm mươi xu.

나는 그것이 좋았다.
Tôi thích điều đó.

그러나 그것을 무엇에 써야 옳을지 몰라서 늘 머리맡에 던져두고 두고 한 것이 어느 결에 모여서 꽤 많아졌다.
Thế nhưng, vì không biết nên dùng số tiền đó vào việc gì cho đúng, tôi cứ vứt chúng ở đầu giường, chẳng biết từ lúc nào chúng đã tích tụ lại thành một khoản khá nhiều.

어느 날 이것을 본 아내는 금고처럼 생긴 벙어리를 사다 준다.
Một ngày nọ, nhìn thấy đống tiền này, vợ đã mua về cho tôi một con lợn đất (không có lỗ lấy tiền ra) trông giống như một chiếc két sắt.

나는 한 푼씩 한 푼씩 그 속에 넣고 열쇠는 아내가 가져갔다.
Tôi bỏ từng xu từng xu vào đó, còn chìa khóa thì vợ giữ lấy.

그 후에도 나는 더러 은화를 그 벙어리에 넣은 것을 기억한다.
Sau đó, tôi nhớ mình vẫn thi thoảng bỏ thêm những đồng bạc vào con lợn đất ấy.

그리고 나는 게을렀다.
And rồi tôi vẫn cứ lười nhác.

얼마 후 아내의 머리 쪽에 보지 못하던 누깔잠이 하나 여드름처럼 돋았던 것은 바로 그 금고형 벙어리의 무게가 가벼워졌다는 증거일까.
Một thời gian sau, việc trên đầu vợ bỗng xuất hiện một chiếc trâm cài tóc đính hạt ngọc chưa từng thấy bao giờ, mọc lên lù lù như một cái mụn, hẳn chính là bằng chứng cho thấy con lợn đất kiểu két sắt kia đã nhẹ đi rồi.

그러나 나는 드디어 머리맡에 놓았던 그 벙어리에 손을 대지 않고 말았다.
Thế nhưng, cuối cùng tôi vẫn chẳng hề động tay vào con lợn đất đặt ở đầu giường ấy.

내 게으름은 그런 것에 내 주의를 환기시키기도 싫었다.
Cái sự lười biếng trong tôi thậm chí còn chẳng muốn bận tâm đến những việc như thế.

아내에게 내객이 있는 날은 이불 속으로 암만 깊이 들어가도 비 오는 날만큼 잠이 잘 오지 않았다.
Những ngày vợ có khách, dù tôi có chui sâu vào trong chăn đến thế nào đi nữa thì cũng chẳng thể ngủ ngon được như những ngày trời mưa.

나는 그런 때 나에게 왜 늘 돈이 있나 왜 돈이 많은가를 연구했다.
Những lúc ấy, tôi bắt đầu nghiên cứu xem tại sao mình luôn có tiền, tại sao tiền lại nhiều đến thế.

내객들은 장지 저쪽에 내가 있는 것을 모르나보다.
Có vẻ như những vị khách không biết tôi đang ở phía bên kia tấm vách ngăn.

내 아내와 나도 좀 하기 어려운 농을 아주 서슴지 않고 쉽게 해 던지는 것이다.
Họ thản nhiên buông những lời trêu ghẹo cợt nhả mà ngay cả tôi và vợ cũng khó lòng thốt ra được.

그러나 내 아내를 찾은 서너 사람의 내객들은 늘 비교적 점잖았다고 볼 수 있는 것이, 자정이 좀 지나면 으레 돌아들 갔다.
Thế nhưng, có thể coi ba bốn vị khách đến thăm vợ tôi vẫn tương đối lịch sự, bởi cứ qua nửa đêm là họ đều ra về.

그들 가운데에는 퍽 교양이 얕은 자도 있는 듯싶었는데, 그런 자는 보통 음식을 사다 먹고 논다.
Trong số đó dường như cũng có kẻ học vấn khá nông cạn, hạng người ấy thường mua đồ ăn về rồi vừa ăn vừa chơi bời.

그래서 보충을 하고 대체로 무사하였다.
Nhờ vậy mà mọi thứ được bù lấp và nhìn chung vẫn bình yên vô sự.

나는 우선 아내의 직업이 무엇인가를 연구하기에 착수하였으나 좁은 시야와 부족한 지식으로는 이것을 알아내기 힘이 든다.
Tôi bắt tay vào nghiên cứu xem nghề nghiệp của vợ rốt cuộc là gì, nhưng với tầm nhìn hạn hẹp và kiến thức thiếu sót, thật khó để tìm ra câu trả lời.

나는 끝끝내 내 아내의 직업이 무엇인가를 모르고 말려나보다.
Có lẽ tôi sẽ mãi mãi chẳng thể nào biết được nghề nghiệp của vợ mình là gì mất thôi.

아내는 늘 진솔 버선만 신었다.
Vợ tôi luôn chỉ đi những đôi tất mới tinh.

아내는 밥도 지었다.
Cô ấy cũng nấu cả cơm nữa.

아내가 밥을 짓는 것을 나는 한 번도 구경한 일은 없으나 언제든지 끼니때면 내 방으로 내 조석 밥을 날라다 주는 것이다.
Tôi chưa từng một lần được tận mắt thấy vợ nấu cơm, nhưng cứ đến bữa là cô ấy lại mang cơm sáng tối vào tận phòng cho tôi.

우리 집에는 나와 내 아내 외의 다른 사람은 아무도 없다.
Trong nhà này ngoài tôi và vợ ra chẳng còn ai khác.

이 밥은 분명 아내가 손수 지었음에 틀림없다.
Bữa cơm này chắc chắn là do tự tay vợ nấu rồi, không sai vào đâu được.

그러나 아내는 한 번도 나를 자기 방으로 부른 일은 없다.
Thế nhưng, vợ chưa bao giờ gọi tôi sang phòng cô ấy dù chỉ một lần.

나는 늘 윗방에서나 혼자서 밥을 먹고 잠을 잤다.
Tôi luôn chỉ ăn cơm và ngủ một mình ở gian phòng phía trên.

밥은 너무 맛이 없었다.
Cơm thật chẳng ngon chút nào.

반찬이 너무 엉성하였다.
Thức ăn thì quá sơ sài.

나는 닭이나 강아지처럼 말없이 주는 모이를 넓적넓적 받아먹기는 했으나 내심 야속하게 생각한 적도 더러 없지 않다.
Dẫu tôi cứ lẳng lặng mà ăn ngấu nghiến những mẩu thức ăn được ban cho như một con gà hay một chú chó nhỏ, nhưng thâm tâm đôi khi cũng không khỏi cảm thấy tủi thân.

나는 안색이 여지없이 창백해가면서 말라 들어갔다.
Sắc mặt tôi trở nên trắng bệch không còn chút thần sắc nào và người thì cứ gầy rộc đi.

나날이 눈에 보이듯이 기운이 줄어들었다.
Sức lực tôi giảm sút thấy rõ qua từng ngày.

영 양 부족으로 하여 몸뚱이 곳곳의 뼈가 불쑥불쑥 내어 밀었다.
Do thiếu dinh dưỡng trầm trọng mà xương xẩu khắp thân mình cứ thế lồi ra lởm chởm.

하룻밤 사이에도 수십 차를 돌쳐 눕지 않고는 여기저기가 배겨서 나는 배겨낼 수가 없었다.
Ngay cả trong một đêm, nếu không trở mình đến vài chục lần thì khắp nơi trên cơ thể đều đau nhức đến mức tôi không tài nào chịu đựng nổi.

그렇기 때문에 나는 내 이불 속에서 아내가 늘 흔히 쓸 수 있는 저 돈의 출처를 탐색해 내는 일 변 장지 틈으로 새어나오는 아랫방의 음성은 무엇일까를 간단히 연구하였다.
Chính vì thế, dưới lớp chăn của mình, tôi vừa tìm cách dò xét nguồn gốc số tiền mà vợ vẫn tiêu xài thoải mái, vừa nghiên cứu sơ qua xem những âm thanh vọng ra từ phòng dưới qua khe vách ngăn kia rốt cuộc là gì.

나는 잠이 잘 안 왔다.
Tôi chẳng tài nào ngủ được.

깨달았다.
Tôi đã nhận ra rồi.

아내가 쓰는 그 돈은 내게는 다만 실없는 사람들로밖에 보이지 않는 까닭 모를 내객들이 놓고 가는 것이 틀림없으리라는 것을 깨달았다.
Tôi nhận ra rằng số tiền vợ tiêu chắc chắn là do những vị khách không rõ lai lịch — những kẻ mà trong mắt tôi chỉ là hạng người phù phiếm — để lại.

그러나 왜 그들 내객은 돈을 놓고 가나?
Thế nhưng, tại sao những vị khách ấy lại để tiền lại?

왜 내 아내는 그 돈을 받아야 되나?
Tại sao vợ tôi lại phải nhận số tiền đó?

하는 예의 관념이 내게는 도무지 알 수 없는 것이었다.
Những khái niệm về lễ nghi ấy đối với tôi hoàn toàn là điều không thể hiểu nổi.

그것은 그저 예의에 지나지 않는 것일까?
Liệu đó chỉ đơn thuần là phép lịch sự thôi sao?

그렇지 않으면 혹 무슨 대가일까?
Hay đó là một loại thù lao nào đó?

보수일까?
Là tiền công chăng?

내 아 내가 그들의 눈에는 동정을 받아야만 할 한 가엾은 인물로 보였던가?
Hay trong mắt họ, vợ tôi là một nhân vật đáng thương cần được nhận sự đồng cảm?

이런 것들을 생각하노라면 으레 내 머리는 그냥 혼란하여 버리고 버리고 하였다.
Cứ mải nghĩ ngợi những điều như thế, đầu óc tôi lại trở nên rối bời và cứ thế rối bời mãi.

잠들기 전에 획득했다는 결론이 오직 불쾌하다는 것뿐이었으면서도 나는 그런 것을 아내에게 물어 보거나 한 일이 참 한 번도 없다.
Dẫu cho cái kết luận rút ra được trước khi chìm vào giấc ngủ chỉ toàn là sự khó chịu, nhưng tôi thật sự chưa bao giờ thử hỏi vợ về những điều đó dù chỉ một lần.

그것은 대체 귀찮기도 하려니와 한잠 자고 일어나는 나는 사뭇 딴 사람처럼 이것도 저것도 다 깨끗이 잊어버리고 그만 두는 까닭이다.
Ấy là vì việc đó căn bản là rất phiền phức, lại thêm sau khi ngủ dậy, tôi dường như trở thành một con người hoàn toàn khác, đã quên sạch bách cả chuyện này lẫn chuyện kia rồi thôi luôn.

내객들이 돌아가고, 혹 외출에서 돌아오고 하면 아내는 간편한 것으로 옷을 바꾸어 입고 내 방으로 나를 찾아온다.
Khi khách khứa đã ra về, hoặc khi đi chơi về, vợ sẽ thay một bộ đồ đơn giản rồi sang phòng tìm tôi.

그리고 이불을 들치고 내 귀에는 영 생동생동한 몇 마디 말로 나를 위로하려든다.
Cô ấy sẽ lật chăn ra và cố gắng an ủi tôi bằng vài lời nghe thật sống động lọt vào tai.

나는 조소도 고소도 홍소도 아닌 웃음을 얼굴에 띠고 아내의 아름다운 얼굴을 쳐다본다.
Tôi nhìn vào khuôn mặt xinh đẹp của vợ với một nụ cười chẳng phải giễu cợt, chẳng phải cay đắng, cũng chẳng phải cười vang.

아내는 방그레 웃는다.
Vợ tôi mỉm cười rạng rỡ.

그러나 그 얼굴에 떠도는 일말의 애수를 나는 놓치지 않는다.
Thế nhưng, tôi không để lỡ một thoáng u buồn đang phảng phất trên khuôn mặt ấy.

아내는 능히 내가 배고파하는 것을 눈치 챌 것이다.
Vợ tôi thừa sức nhận ra rằng tôi đang đói.

그러나 아랫방에서 먹고 남은 음식을 나에게 주려 들지는 않는다.
Thế nhưng, cô ấy không hề có ý định đưa cho tôi những thức ăn thừa từ phòng dưới.

그것은 어디까지든지 나를 존경하는 마음일 것임에 틀림없다.
Điều đó chắc chắn là xuất phát từ tấm lòng tôn trọng tôi đến tận cùng.

나는 배가 고프면서도 적이 마음이 든든한 것을 좋아했다.
Dẫu đang đói bụng, tôi vẫn thích cái cảm giác lòng mình trở nên vững chãi hơn một chút.

아내가 무엇이라고 지껄이고 갔는지 귀에 남아 있을 리가 없다.
Chẳng có lý nào những lời vợ vừa lảm nhảm lại còn sót lại bên tai tôi.

다만 내 머리맡에 아내가 놓고 간 은화가 전등불에 흐릿하게 빛나고 있을 뿐이다.
Chỉ có đồng bạc vợ để lại nơi đầu giường là đang tỏa sáng mờ ảo dưới ánh đèn điện mà thôi.

고 금고형 벙어리 속에 은화가 얼마만큼이나 모였을까?
Liệu trong con lợn đất kiểu két sắt kia đã gom góp được bao nhiêu đồng bạc rồi nhỉ?

나는 그러나 그것을 쳐들어 보지 않았다.
Thế nhưng, tôi chưa từng nhấc nó lên để kiểm tra.

그저 아무런 의욕도 기원도 없이 그 단춧구멍처럼 생긴 틈바구니로 은화를 떨어뜨려 둘 뿐이었다.
Tôi chỉ lẳng lặng thả những đồng bạc vào cái khe hở trông như lỗ khuy áo ấy, chẳng một chút ham muốn hay nguyện cầu nào.

왜 아내의 내객들이 아내에게 돈을 놓고 가나 하는 것이 풀 수 없는 의문인 것같이, 왜 아내는 나에게 돈을 놓고 가나 하는 것도 역시 나에게는 똑같이 풀 수 없는 의문이었다.
Cũng giống như việc tại sao những vị khách của vợ lại để tiền lại cho cô ấy là một nghi vấn không lời giải, thì việc tại sao vợ lại để tiền lại cho tôi cũng là một nghi vấn mà tôi hoàn toàn không thể thấu hiểu.

내 비록 아내가 내게 돈을 놓고 가는 것이 싫지 않았다 하더라도 그것은 다만 고것이 내 손가락 닿는 순간에서부터 고 벙어리 주둥이에서 자취를 감추기까지의 하잘것없는 짧은 촉각이 좋았달 뿐이지 그 이상 아무 기쁨도 없다.
Dẫu cho tôi không hề ghét việc vợ để tiền lại cho mình, nhưng đó chẳng qua chỉ là vì tôi thích cái cảm giác xúc giác ngắn ngủi, tầm thường từ khoảnh khắc ngón tay chạm vào đồng bạc cho đến khi nó mất hút vào miệng con lợn đất, ngoài ra chẳng còn niềm vui nào khác.

어느 날 나는 고 벙어리를 변소에 갖다 넣어 버렸다.
Một ngày nọ, tôi đã đem con lợn đất ấy vứt vào hố xí.

그 때 벙어리 속에는 몇 푼이나 되는지 모르겠으나 고 은화들이 꽤 들어 있었다.
Khi đó, chẳng biết trong bụng nó có bao nhiêu xu, nhưng chắc hẳn những đồng bạc ấy cũng đã hòm hòm rồi.

나는 내가 지구 위에 살며 내가 이렇게 살고 있는 지구가 질풍신뢰의 속력으로 광대무변의 공간을 달리고 있다는 것을 생각했을 때 참 허망하였다.
Khi nghĩ về việc mình đang sống trên trái đất, và chính cái trái đất mà tôi đang sống đây đang lao đi với tốc độ sấm sét giữa không gian bao la vô tận, tôi bỗng thấy thật hư ảo làm sao.

나는 이렇게 부지런한 지구 위에서는 현기증도 날 것 같고 해서 한시바삐 내려 버리고 싶었다.
Trên một trái đất cần mẫn đến nhường này, tôi cảm thấy như mình sắp lên cơn chóng mặt và chỉ muốn được bước xuống ngay lập tức.

이불 속에서 이런 생각을 하고 난 뒤에는 나는 고 은화를 고 벙어리에 넣고 넣고 하는 것조차 귀찮아졌다.
Trên một trái đất cần mẫn đến nhường này, tôi cảm thấy như mình sắp lên cơn chóng mặt và chỉ muốn được bước xuống ngay lập tức.

나중에 고 은화를 고 벙어리에 넣고 넣고 하는 것조차 귀찮아졌다. 나는 아내가 손수 벙어리를 사용하였으면 하고 생각하였다.
Tôi đã nghĩ giá mà vợ mình tự mình dùng con lợn đất ấy thì tốt.

벙어리도 돈도 사실은 아내에게만 필요한 것이지 내게는 애초부터 의미가 전연 없는 것이었으니까 될 수만 있으면 그 벙어리를 아내는 아내 방으로 가져갔으면 하고 기다렸다.
Cả con lợn đất lẫn tiền nong, thực chất chỉ cần thiết cho vợ mà thôi, còn với tôi thì ngay từ đầu chúng đã hoàn toàn vô nghĩa; vì vậy nếu có thể, tôi đã chờ đợi vợ mang con lợn đất ấy về phòng của cô ấy.

그러나 아내는 가져가지 않는다.
Thế nhưng vợ không mang đi.

나는 내가 아내 방으로 가져다 둘까 하고 생각하여 보았으나 그 즈음에는 아내의 내객이 워낙 많아서 내가 아내 방에 가 볼 기회가 도무지 없었다.
Tôi đã định bụng hay là mình tự mang sang phòng vợ, nhưng dạo ấy khách khứa của cô ấy đông quá nên tôi chẳng có lấy một cơ hội để ghé qua.

그래서 나는 하는 수 없이 변소에 갖다 집어넣어 버리고 만 것이다.
Chính vì vậy, tôi chẳng còn cách nào khác là đem vứt quách nó vào hố xí cho xong.

나는 서글픈 마음으로 아내의 꾸지람을 기다렸다.
Tôi đã đợi chờ một lời mắng nhiếc từ vợ với cõi lòng trĩu nặng.

그러나 아내는 끝내 아무 말도 하지 않았다.
Thế nhưng, vợ tôi rốt cuộc chẳng nói một lời nào.

않았을 뿐 아니라 여전히 돈은 돈대로 머리맡에 놓고 가지 않나!
Không những không mắng, mà chẳng phải cô ấy vẫn cứ đều đặn để tiền lại nơi đầu giường tôi đó sao!

내 머리맡에는 어느덧 은화가 꽤 많이 모였다.
Thế là nơi đầu giường tôi, chẳng mấy chốc những đồng bạc lại tích tụ lại khá nhiều.

내객이 아내에게 돈을 놓고 가는 것이나 아내가 내게 돈을 놓고 가는 것이나 일종의 쾌감 — 그 외의 다른 아무런 이유도 없는 것이 아닐까 하는 것을 나는 또 이불 속에서 연구하기 시작하였다.
Việc khách khứa để tiền lại cho vợ, hay việc vợ để tiền lại cho tôi, liệu có phải chỉ đơn thuần là một loại khoái cảm — ngoài ra chẳng còn lý do nào khác chăng; tôi lại bắt đầu nghiên cứu điều đó dưới lớp chăn.

쾌감이라면 어떤 종류의 쾌감일까를 계속하여 연구하였다.
Nếu là khoái cảm thì đó là loại khoái cảm gì, tôi cứ tiếp tục nghiên cứu mãi.

그러나 그것은 이불 속의 연구로는 알 길이 없었다.
Thế nhưng, chuyện đó thì chẳng cách nào thấu rõ được nếu chỉ nghiên cứu dưới lớp chăn.

쾌감, 쾌감, 하고 나는 뜻밖에도 이 문제에 대해서만 흥미를 느꼈다.
Khoái cảm, khoái cảm, tôi bỗng nhiên chỉ cảm thấy hứng thú với duy nhất vấn đề này.

아내는 물론 나를 늘 감금하여 두다시피 하여 왔다.
Dĩ nhiên là vợ vẫn luôn để tôi trong tình trạng gần như bị giam cầm.

내게 불평이 있을 리 없다.
Tôi chẳng có lý gì để phàn nàn.

그런 중에도 나는 그 쾌감이라는 것의 유무를 체험하고 싶었다.
Thế nhưng, giữa hoàn cảnh ấy, tôi vẫn muốn được trải nghiệm xem cái gọi là khoái cảm kia rốt cuộc có tồn tại hay không.

나는 아내의 밤 외출 틈을 타서 밖으로 나왔다.
Tôi đã nhân lúc vợ ra ngoài vào ban đêm để lẻn ra khỏi nhà.

나는 거리에서 잊어버리지 않고 가지고 나온 은화를 지폐로 바꾼다.
Trên đường phố, tôi không quên đổi những đồng bạc mang theo thành tiền giấy.

오 원이나 된다.
Được những năm won.

그것을 주머니에 넣고 나는 목적지를 잃어버리기 위하여 얼마든지 거리를 쏘다녔다.
Tôi bỏ tiền vào túi rồi cứ thế lang thang khắp các con phố cốt để đánh mất đi đích đến của mình.

오래간만에 보는 거리는 거의 경이에 가까울 만큼 내 신경을 흥분시키지 않고는 마지않았다.
Những đường phố lâu ngày mới thấy lại đã khiến dây thần kinh của tôi hưng phấn đến mức gần như kinh ngạc.

나는 금시에 피곤하여 버렸다.
Tôi lập tức cảm thấy mệt lử.

그러나 나는 참았다.
Thế nhưng tôi vẫn nén chịu.

그리고 밤이 이슥하도록 까닭을 잃어버린 채 이 거리 저 거리로 지향 없이 헤매었다.
And cho đến tận đêm khuya, tôi cứ lang thang vô định từ phố này sang phố khác mà chẳng rõ lý do.

돈은 물론 한 푼도 쓰지 않았다.
Dĩ nhiên tôi không tiêu một xu nào.

돈을 쓸 아무 엄두도 나서지 않았다.
Tôi chẳng có lấy một ý niệm gì về việc tiêu tiền.

나는 벌써 돈을 쓰는 기능을 완전히 상실한 것 같았다.
Dường như tôi đã hoàn toàn đánh mất đi cái chức năng tiêu tiền mất rồi.

나는 과연 피로를 이 이상 견디기가 어려웠다.
Quả thực tôi không thể chịu đựng thêm sự mệt mỏi này được nữa.

나는 가까스로 내 집을 찾았다.
Tôi vất vả lắm mới tìm được đường về nhà.

나는 내 방을 가려면 아내 방을 통과하지 않으면 안 될 것을 알고, 아내에게 내객이 있나 없나를 걱정하면서 미닫이 앞에서 좀 거북살스럽게 기침을 한 번 했더니, 이것은 참 또 너무도 암상스럽게 미닫이가 열리면서 아내의 얼굴과 그 등 뒤에 낯선 남자의 얼굴이 이쪽을 내다보는 것이다.
Biết rằng muốn về phòng mình thì không còn cách nào khác là phải đi xuyên qua phòng vợ, tôi vừa lo lắng không biết cô ấy có khách hay không, vừa khẽ khàng hắng giọng một tiếng trước cửa kéo; ngay lập tức, cánh cửa mở ra một cách đầy cay nghiệt, hiện ra khuôn mặt của vợ và phía sau cô ấy là khuôn mặt của một gã đàn ông lạ hoắc đang nhìn ra phía này.

나는 별안간 내어 쏟아지는 불빛에 눈이 부셔서 좀 머뭇머뭇했다.
Tôi bị lóa mắt trước luồng ánh sáng thình lình ùa ra nên đã thoáng ngập ngừng.

나는 아내의 눈초리를 못 본 것은 아니다.
Không phải là tôi không nhìn thấy ánh mắt sắc lẹm của vợ.

그러나 나는 모른 체하는 수밖에 없었다.
Thế nhưng, tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc vờ như không biết.

왜?
Tại sao ư?

나는 어쨌든 아내의 방을 통과하지 아니하면 안 되니까…….
Vì dù sao đi nữa, tôi cũng buộc phải đi ngang qua phòng của vợ mới về được phòng mình mà…

나는 이불을 뒤집어썼다.
Tôi trùm chăn kín mít.

무엇보다도 다리가 아파서 견딜 수가 없었다.
Trên hết, đôi chân tôi đau nhức đến mức không thể chịu đựng nổi.

이불 속에서는 가슴이 울렁거리면서 암만해도 까무러칠 것만 같았다.
Dưới lớp chăn, lồng ngực tôi phập phồng dữ dội, cảm giác như sắp ngất đi đến nơi.

걸을 때는 몰랐더니 숨이 차다.
Lúc đi thì không biết, giờ mới thấy hụt hơi làm sao.

등에 식은땀이 쭉 내배인다.
Môi hôi lạnh chảy ròng ròng ướt đẫm cả lưng.

나는 외출한 것을 후회하였다.
Tôi hối hận vì đã ra ngoài.

이런 피로를 잊고 어서 잠이 들었으면 좋았다.
Giá mà tôi có thể quên đi sự mệt mỏi này để nhanh chóng chìm vào giấc ngủ thì tốt biết mấy.

한잠 잘 자고 싶었다.
Tôi chỉ muốn được ngủ một giấc thật ngon.

얼마동안이나 비스듬히 엎드려 있었더니 차츰차츰 뚝딱 거리는 가슴 동계가 가라앉는다.
Nằm sấp một lúc lâu, nhịp tim đập thình thình dần dần dịu lại.

그만해도 우선 살 것 같았다.
Chừng ấy thôi cũng đủ khiến tôi cảm thấy như sống lại rồi.

나는 몸을 들쳐 반듯이 천장을 향하여 눕고 쭉 다리를 뻗었다.
Tôi trở mình nằm ngửa lên trần nhà và duỗi thẳng đôi chân ra.

그러나 나는 또 다시 가슴의 동계를 피할 수 없게 되었다.
Thế nhưng, tôi lại một lần nữa không thể tránh khỏi cơn đánh trống ngực.

아랫방에서 아내와 그 남자의 내 귀에도 들리지 않을 만큼 낮은 목소리로 소곤거리는 기척이 장지 틈으로 전하여 왔던 것이다.
Những âm thanh xì xào của vợ và gã đàn ông ở phòng dưới — nhỏ đến mức tai tôi không nghe rõ lời — đã lọt qua khe vách ngăn mà truyền đến.

청각을 더 예민하게 하기 위하여 나는 눈을 떴다.
Để thính giác trở nên nhạy bén hơn, tôi đã mở mắt ra.

그리고 숨을 죽였다.
Và rồi, tôi nín thở.

그러나 그 때는 벌써 아내와 남자는 앉았던 자리를 툭툭 털고 일어섰고 일어서면서 옷과 모자 쓰는 기척이 나는 듯하더니 이어 미닫이가 열리고 구두 뒤축 소리가 나고 그리고 뜰에 내려서는 소리가 쿵 하고 나면서 뒤를 따르는 아내의 고무신 소리가 두어 발짝 찍찍 나고 사뿐사뿐 나나 하는 사이에 두 사람의 발소리가 대문 쪽으로 사라졌다.
Thế nhưng, khi đó vợ tôi và gã đàn ông đã phủi áo đứng dậy khỏi chỗ ngồi, dường như có tiếng sột soạt của việc mặc áo đội mũ, rồi tiếp đó cánh cửa kéo mở ra, tiếng gót giày nện xuống, tiếng nhảy xuống sân vang lên một nhát “cộp”, hòa cùng tiếng giày cao su của vợ lẹt xẹt đuổi theo vài bước, rồi trong lúc tiếng bước chân rón rén vang lên thì tiếng chân của hai người họ đã mất hút phía cổng lớn.

나는 아내의 이런 태도를 본 일이 없다.
Tôi chưa bao giờ thấy vợ mình có thái độ như thế này.

아내는 어떤 사람과도 결코 소곤거리는 법이 없다.
Vợ tôi tuyệt đối không bao giờ thì thầm to nhỏ với bất kỳ ai.

나는 윗방에서 이불을 쓰고 누운 동안에도 혹 술이 취해서 혀가 잘 돌아가지 않는 내객들의 담화는 더러 놓치는 수가 있어도 아내의 높지도 낮지도 않은 말소리는 일찍이 한마디도 놓쳐 본 일이 없다.
Trong khi nằm trùm chăn ở phòng trên, dẫu tôi có đôi lần bỏ lỡ câu chuyện của những vị khách say rượu nói năng lí nhí, nhưng chưa một lần nào tôi để sót dù chỉ một lời từ giọng nói chẳng cao chẳng thấp của vợ mình.

더러 내 귀에 거슬리는 소리가 있어도 나는 그것이 태연한 목소리로 내 귀에 들렸다는 이유로 충분히 안심이 되었다.
Dẫu đôi khi có những âm thanh lọt tai khiến tôi khó chịu, nhưng chỉ cần chúng được thốt ra bằng chất giọng thản nhiên ấy là tôi đã thấy đủ yên lòng.

그렇던 아내의 이런 태도는 필시 그 속에 여간하지 않은 사정이 있는 듯 시피 생각이 되고 내 마음은 좀 서운했으나 그보다도 나는 좀 너무 피로해서 오늘만은 이불 속에서 아무것도 연구하지 않기로 굳게 결심하고 잠을 기다렸다.
Thái độ khác lạ này của vợ khiến tôi nghĩ chắc hẳn bên trong ẩn chứa một sự tình chẳng hề bình thường, lòng tôi thấy hơi buồn tủi; nhưng hơn cả thế, vì quá mệt mỏi nên tôi đã hạ quyết tâm đêm nay sẽ không nghiên cứu bất cứ điều gì dưới lớp chăn nữa mà nằm đợi giấc ngủ đến.

낮잠은 좀처럼 오지 않았다.
Giấc ngủ trưa chẳng chịu tìm đến.

대문간에 나간 아내도 좀처럼 들어오지 않았다.
Người vợ đã ra tận cổng cũng mãi chẳng thấy quay vào.

그러는 동안에 흐지부지 나는 잠이 들어 버렸다.
Trong lúc đó, tôi cứ thế lơ mơ rồi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.

꿈이 얼쑹덜쑹 종을 잡을 수 없는 거리의 풍경을 여전히 헤매었다.
Trong mơ, tôi vẫn cứ lang thang qua những cảnh sắc đường phố loang lổ, chẳng thể nào nắm bắt được.

나는 몹시 흔들렸다.
Tôi bị lay mạnh.

내객을 보내고 들어온 아내가 잠든 나를 잡아 흔드는 것이다.
Người vợ sau khi tiễn khách quay vào đã túm lấy tôi đang ngủ mà lắc mạnh.

나는 눈을 번쩍 뜨고 아내의 얼굴을 쳐다보았다.
Tôi bừng tỉnh mở mắt và nhìn chằm chằm vào khuôn mặt vợ.

아내의 얼굴에는 웃음이 없다.
Trên khuôn mặt vợ không có nụ cười.

나는 좀 눈을 비비고 아내의 얼굴을 자세히 보았다.
Tôi dụi mắt một chút rồi quan sát kỹ khuôn mặt cô ấy.

노기가 눈초리에 떠서 얇은 입술이 바르르 떨린다.
Cơn thịnh nộ hiện rõ nơi đuôi mắt và làn môi mỏng đang run lên bần bật.

좀처럼 이 노기가 풀리기는 어려울 것 같았다.
Dường như cơn giận này sẽ chẳng dễ gì nguôi ngoai.

나는 그대로 눈을 감아 버렸다.
Tôi cứ thế nhắm nghiền mắt lại.

벼락이 내리기를 기다린 것이다.
Tôi nằm đó chờ đợi một trận lôi đình giáng xuống.

그러나 쌔근 하는 숨소리가 나면서 부스스 아내의 치맛자락 소리가 나고 장지가 여닫히며 아내는 아내 방으로 돌아갔다.
Thế nhưng, sau một tiếng thở hắt ra, tiếng tà váy sột soạt vang lên, cánh cửa ngăn đóng mở rồi vợ tôi quay trở về phòng của mình.

나는 다시 몸을 돌쳐 이불을 뒤집어쓰고는 개구리처럼 엎드리고 엎드려서 배가 고픈 가운데도 오늘 밤의 외출을 또 한 번 후회하였다.
Tôi lại trở mình trùm kín chăn, nằm sấp người như một con ếch, và dù đang đói bụng, tôi vẫn một lần nữa hối hận về chuyến ra ngoài đêm nay.

나는 이불 속에서 아내에게 사죄하였다.
Dưới lớp chăn, tôi thầm tạ lỗi với vợ.

그것은 네 오해라고…… 나는 사실 밤이 퍽 이슥한 줄만 알았던 것이다.
Rằng đó là sự hiểu lầm của cô thôi… Tôi thật sự cứ ngỡ đêm đã về khuya lắm rồi.

그것이 네 말마따나 자정 전인지는 정말이지 꿈에도 몰랐다.
Việc lúc đó vẫn còn chưa đến nửa đêm như lời cô nói, thật sự tôi có nằm mơ cũng không ngờ tới.

나는 너무 피곤하였다.
Tôi đã quá mệt mỏi rồi.

오래간만에 나는 너무 많이 걸은 것이 잘못이다.
Lỗi là tại lâu ngày tôi mới đi bộ mà lại đi quá nhiều.

내 잘못이라면 잘못은 그것 밖에 없다.
Nếu bảo tôi có lỗi, thì lỗi lầm duy nhất chỉ là bấy nhiêu đó thôi.

외출은 왜 하였더냐고?
Hỏi tại sao tôi lại ra ngoài ư?

나는 그 머리맡에 저절로 모인 오 원 돈을 아무에게라도 좋으니 주어보고 싶었던 것이다.
Tôi chỉ là muốn đem số tiền năm won tự dưng tích tụ nơi đầu giường ấy cho bất kỳ ai cũng được, thế thôi.

그뿐이다.
Chỉ có thế thôi mà.

그러나 그것도 내 잘못이라면 나는 그렇게 알겠다.
Thế nhưng, nếu điều đó cũng là lỗi của tôi, thì tôi xin nhận là như vậy.

나는 후회하고 있지 않나?
Chẳng phải tôi đang hối hận đây sao?

내가 그 오 원 돈을 써 버릴 수가 있었던들 나는 자정 안에 집에 돌아올 수 없었을 것이다.
Nếu tôi có thể tiêu hết số tiền năm won ấy, hẳn tôi đã không dẫn xác về nhà trước nửa đêm như thế này.

그러나 거리는 너무 복잡하였고 사람은 너무도 들끓었다.
But phố xá quá đỗi phức tạp và người ngợm thì đông đúc nhung nhúc.

나는 어느 사람을 붙들고 그 오 원 돈을 내어 주어야할지 갈피를 잡을 수가 없었다.
Tôi chẳng thể nào định thần được là mình nên túm lấy ai để đưa cho họ số tiền năm won đó.

그러는 동안에 나는 여지없이 피곤해 버리고 말았던 것이다.
Trong lúc ấy, tôi đã hoàn toàn kiệt sức mất rồi.

나는 무엇보다도 좀 쉬고 싶었다.
Trên hết, tôi chỉ muốn được nghỉ ngơi một chút.

눕고 싶었다.
Tôi muốn được nằm xuống.

그래서 나는 하는 수 없이 집으로 돌아온 것이다.
Vì thế nên tôi chẳng còn cách nào khác là phải quay về nhà.

내 짐작 같아서는 밤이 어지간히 늦은 줄만 알았는데, 그것이 불행히도 자정 전이었다는 것은 참 안된 일이다.
Theo phán đoán của mình, tôi cứ ngỡ đêm đã muộn lắm rồi, thật không may khi lúc ấy vẫn còn chưa tới nửa đêm, đúng là một chuyện đáng tiếc.

미안한 일이다.
Thật là một chuyện đáng lỗi đạo.

나는 얼마든지 사죄하여도 좋다.
Tôi có thể tạ lỗi bao nhiêu lần cũng được.

그러나 종시 아내의 오해를 풀지 못하였다 하면 내가 이렇게까지 사죄하는 보람은 그럼 어디 있나?
Thế nhưng, nếu rốt cuộc vẫn không thể hóa giải được sự hiểu lầm của vợ, thì cái công sức tạ lỗi đến mức này của tôi phó mặc cho ai đây?

한심하였다.
Thật là thảm hại.

한 시간 동안을 나는 이렇게 초조하게 굴지 않으면 안 되었다.
Suốt một tiếng đồng hồ, tôi cứ phải bồn chồn lo lắng như thế.

나는 이불을 홱 젖혀 버리고 일어나서 장지를 열고 아내 방으로 비칠비칠 달려갔던 것이다.
Tôi hất tung chăn ra, đứng dậy mở cánh cửa ngăn rồi lảo đảo lao sang phòng vợ.

내게는 거의 의식이라는 것이 없었다.
Khi đó trong tôi gần như chẳng còn chút ý thức nào.

나는 아내 이불 위에 엎드러지면서 바지 포켓 속에서 그 돈 오 원을 꺼내 아내 손에 쥐어 준 것을 간신히 기억할 뿐이다.
Tôi chỉ còn nhớ mang máng việc mình đổ ập xuống chăn của vợ, móc từ trong túi quần ra số tiền năm won ấy rồi dúi vào tay cô ấy mà thôi.

이튿날 잠이 깨었을 때 나는 내 아내 방 아내 이불 속에 있었다.
Ngày hôm sau khi tỉnh giấc, tôi thấy mình đang nằm trong chăn của vợ, ngay chính trong căn phòng của cô ấy.

이것이 이 33번지에서 살기 시작한 이래 내가 아내 방에서 잔 맨 처음이었다.
Đây là lần đầu tiên tôi ngủ trong phòng vợ kể từ khi bắt đầu sinh sống tại địa chỉ số 33 này.

해가 들창에 훨씬 높았는데 아내는 이미 외출하고 벌써 내 곁에 있지는 않다.
Mặt trời đã lên cao quá cửa sổ, nhưng vợ tôi đã ra ngoài và không còn ở bên cạnh tôi nữa.

아니!
À không!

아내는 엊저녁 내가 의식을 잃은 동안에 외출한 것인지도 모른다.
Có lẽ vợ đã ra ngoài ngay từ tối qua, trong lúc tôi vẫn còn đang bất tỉnh nhân sự cũng nên.

그러나 나는 그런 것을 조사하고 싶지 않았다.
Thế nhưng, tôi chẳng muốn điều tra những việc như thế làm gì.

다만 전신이 찌뿌드드한 것이 손가락 하나 꼼짝할 힘조차 없었다.
Chỉ là toàn thân tôi rã rời, đến sức lực để cử động một ngón tay cũng chẳng còn.

책보보다 좀 작은 면적의 볕이 눈이 부시다.
Ánh nắng với diện tích nhỏ hơn cả cái khăn gói sách đang làm tôi chói mắt.

그 속에서 수없이 먼지가 흡사 미생물처럼 난무한다.
Trong luồng sáng ấy, vô số hạt bụi nhảy múa loạn xạ hệt như những vi sinh vật.

코가 콱 막히는 것 같다.
Cảm giác như mũi tôi nghẹt đặc lại.

나는 다시 눈을 감고 이불을 푹 뒤집어쓰고 낮잠을 자기에 착수하였다.
Tôi lại nhắm mắt, trùm chăn kín mít và bắt đầu công cuộc ngủ trưa.

그러나 코를 스치는 아내의 체취는 꽤 도발적이었다.
Thế nhưng, mùi cơ thể của vợ thoảng qua mũi thật là khiêu khích.

나는 몸을 여러 번 여러 번 비비꼬면서 아내의 화장대에 늘어선 고 가지각색 화장품 병들의 마개를 뽑았을 때 풍기는 냄새를 더듬느라고 좀처럼 잠은 들지 않는 것을 나는 어찌하는 수도 없었다.
Tôi cứ vặn vẹo thân mình hết lần này đến lần khác, mải mê lần tìm lại mùi hương tỏa ra khi mở nắp những lọ mỹ phẩm đủ màu sắc xếp hàng trên bàn trang điểm của vợ, nên chẳng cách nào chợp mắt nổi.

견디다 못하여 나는 그만 이불을 걷어차고 벌떡 일어나서 내 방으로 갔다.
Chịu không thấu, tôi đành đạp tung chăn, nhỏm dậy rồi đi về phòng mình.

내 방에는 다 식어빠진 내 끼니가 가지런히 놓여 있는 것이다.
Trong phòng tôi, bữa cơm đã nguội ngắt được đặt ngay ngắn sẵn đó.

아내는 내 모이를 여기다 두고 나간 것이다.
Vợ tôi đã để lại phần “mồi” cho tôi rồi mới đi ra ngoài.

나는 우선 배가 고팠다.
Trước hết là tôi thấy đói.

한 숟갈을 입에 떠 넣었을 때 그 촉감은 참 너무도 냉회와 같이 써늘하였다.
Khi xúc một thìa đưa vào miệng, cảm giác chạm vào đầu lưỡi thật là lạnh lẽo, hệt như tro tàn nguội ngắt vậy.

나는 숟갈을 놓고 내 이불 속으로 들어갔다.
Tôi bỏ thìa xuống rồi chui vào trong chăn của mình.

하룻밤을 비었던 내 이부자리는 여전히 반갑게 나를 맞아 준다.
Bộ chăn nệm để trống suốt một đêm vẫn niềm nở đón nhận tôi như xưa.

나는 내 이불을 뒤집어쓰고 이번에는 참 늘어지게 한잠 잤다.
Tôi trùm chăn kín đầu và lần này đã ngủ một giấc thật dài, thật say—

잘—
thật say—

내가 잠을 깬 것은 전등이 켜진 뒤다.
Tôi tỉnh giấc sau khi đèn điện đã bật sáng.

그러나 아내는 아직도 돌아오지 않았나보다.
Thế nhưng, có vẻ như vợ tôi vẫn chưa quay về.

아니!
À không!

돌아왔다 또 나갔는지 알 수 없다.
Biết đâu cô ấy đã về rồi lại đi tiếp cũng nên.

그러나 그런 것을 상고하여 무엇하나?
Nhưng xét nét những chuyện đó để làm gì chứ?

정신이 한결 난다.
Tinh tinh thần tôi đã tỉnh táo hơn hẳn.

나는 밤일을 생각해 보았다.
Tôi ngẫm lại chuyện đêm qua.

그 돈 오 원을 아내 손에 쥐어 주고 넘어졌을 때에 느낄 수 있었던 쾌감을 나는 무엇이라고 설명할 수가 없었다.
Cái khoái cảm cảm nhận được khi dúi số tiền năm won ấy vào tay vợ rồi ngã quỵ xuống, tôi chẳng biết phải giải thích ra sao.

그러나 내객들이 내 아내에게 돈 놓고 가는 심리며 내 아내가 내게 돈 놓고 가는 심리의 비밀을 나는 알아낸 것 같아서 여간 즐거운 것이 아니다.
Thế nhưng, tôi cảm thấy như mình đã khám phá ra bí mật về tâm lý của những vị khách khi để tiền lại cho vợ tôi, và cả tâm lý của vợ khi để tiền lại cho tôi, điều đó khiến tôi vui sướng không thèm giấu giếm.

나는 속으로 빙그레 웃어 보았다.
Tôi thầm nở một nụ cười mãn nguyện trong lòng.

이런 것을 모르고 오늘까지 지내온 내 자신이 어떻게 우스꽝스럽게 보이는지 몰랐다.
Tôi không ngờ bản thân mình, kẻ đã sống đến tận hôm nay mà chẳng hề hay biết những điều này, lại trông nực cười đến thế.

따라서 나는 또 오늘 밤에도 외출하고 싶었다.
Chính vì thế, đêm nay tôi lại muốn ra ngoài lần nữa.

그러나 돈이 없다.
Nhưng chắc chắn là tôi không có tiền.

나는 또 엊저녁에 그 돈 오 원을 한꺼번에 아내에게 주어 버린 것을 후회하였다.
Tôi lại hối hận vì đêm qua đã đưa một lúc năm won cho vợ.

또 고 벙어리를 변소에 갖다 처넣어 버린 것도 후회하였다.
Cũng hối hận vì đã vứt con lợn đất ấy vào hố xí.

나는 실없이 실망하면서 습관처럼 그 돈 오 원이 들어 있던 내 바지 포켓에 손을 넣어 한번 휘둘러보았다.
Tôi thất vọng một cách vớ vẩn, rồi theo thói quen, tôi thọc tay vào túi quần nơi từng đựng năm won ấy để quờ quạng một vòng.

뜻밖에도 내 손에 쥐어지는 것이 있었다.
Thật bất ngờ, tay tôi chạm phải thứ gì đó.

이 원 밖에 없다.
Chỉ có hai won thôi.

그러나 많아야 맛은 아니다.
Nhưng nhiều không có nghĩa là hay.

얼마간이고 있으면 된다.
Miễn là có một chút là được.

나는 그만한 것이 여간 고마운 것이 아니었다.
Đối với tôi, bấy nhiêu đó cũng đủ khiến tôi thấy biết ơn vô cùng.

나는 기운을 얻었다.
Tôi như được tiếp thêm sinh lực.

나는 그 단벌 다 떨어진 코르덴 양복을 걸치고 배고픈 것도 주제 사나운 것도 다 잊어버리고 활갯짓을 하면서 또 거리로 나섰다.
Tôi khoác lên mình bộ comple nhung kẻ sờn rách duy nhất, quên bẵng cả cái đói lẫn bộ dạng thảm hại của mình, vừa vung vẩy cánh tay vừa bước ra phố.

나서면서 나는 제발 시간이 화살 단듯해서 자정이 어서 홱 지나 버렸으면 하고 조바심을 태웠다.
Vừa bước đi, tôi vừa nôn nóng cầu mong thời gian trôi nhanh như tên bắn để nửa đêm mau chóng qua đi.

아내에게 돈을 주고 아내 방에서 자 보는 것은 어디까지든지 좋았지만 만일 잘못해서 자정 전에 집에 들어갔다가 아내의 눈총을 맞는 것은 그것은 여간 무서운 일이 아니었다.
Việc đưa tiền cho vợ rồi được ngủ trong phòng cô ấy dù thế nào cũng thật tuyệt, nhưng nếu chẳng may về nhà trước nửa đêm để rồi phải nhận ánh mắt hình viên đạn của vợ thì thật là đáng sợ vô cùng.

나는 저물도록 길가 시계를 들여다보고 들여다보고 하면서 또 지향 없이 거리를 방황하였다.
Cho đến tận khi trời tối, tôi cứ mải miết nhìn chằm chằm vào những chiếc đồng hồ ven đường và lang thang vô định khắp các con phố.

그러나 이날은 좀처럼 피곤하지는 않았다.
Thế nhưng ngày hôm nay tôi chẳng mấy thấy mệt mỏi.

다만 시간이 좀 너무 더디게 가는 것만 같아서 안타까웠다.
Chỉ là thấy sốt ruột vì thời gian trôi đi quá đỗi chậm chạp.

경성역(京城驛) 시계가 확실히 자정을 지난 것을 본 뒤에 나는 집을 향하였다.
Sau khi tận mắt thấy chiếc đồng hồ ở ga Gyeong-seong chắc chắn đã quá nửa đêm, tôi mới hướng về phía nhà mình.

그날은 그 일각대문에서 아내와 아내의 남자가 이야기하고 서 있는 것을 만났다.
Ngày hôm đó, ngay tại chiếc cổng một mái ấy, tôi đã bắt gặp vợ mình và gã đàn ông nọ đang đứng trò chuyện.

나는 모른 체하고 두 사람 곁을 지나서 내 방으로 들어갔다.
Tôi vờ như không biết, đi ngang qua hai người họ rồi vào phòng mình.

뒤이어 아내도 들어왔다.
Ngay sau đó vợ cũng vào theo.

와서는 이 밤중에 평생 안 하던 쓰레질을 하는 것이었다.
Cô ấy bắt đầu quét dọn, một việc mà cả đời cô chưa từng làm vào giờ này đêm khuya.

조금 있다가 아내가 눕는 기척을 엿보자마자 나는 또 장지를 열고 아내 방으로 가서 그 돈 이 원을 아내 손에 덥석 쥐어 주고 그리고— 하여간 그 이 원을 오늘 밤에도 쓰지 않고 도로 가져온 것이 참 이상하다는 듯이 아내는 내 얼굴을 몇 번이고 엿보고— 아내는 드디어 아무 말도 없이 나를 자기 방에 재워 주었다.
Một lúc sau, ngay khi nghe thấy tiếng vợ nằm xuống, tôi lại mở cánh cửa ngăn, sang phòng vợ và chộp lấy tay cô ấy mà dúi vào đó hai won, và rồi— Dù sao đi nữa, vợ cứ nhìn đi nhìn lại khuôn mặt tôi như thể thấy thật kỳ lạ khi đêm nay tôi lại mang hai won ấy về mà không tiêu xài gì— Cuối cùng vợ chẳng nói một lời mà cứ thế để tôi ngủ lại trong phòng mình.

나는 이 기쁨을 세상의 무엇과도 바꾸고 싶지는 않았다.
Tôi chẳng muốn đổi niềm vui này lấy bất cứ thứ gì trên đời.

나는 편히 잘 잤다.
Tôi đã ngủ một giấc thật ngon lành.

이튿날도 내가 잠이 깨었을 때는 아내는 보이지 않았다.
Ngày hôm sau khi tỉnh giấc, tôi cũng chẳng thấy vợ đâu.

나는 또 내 방으로 가서 피곤한 몸이 낮잠을 잤다.
Tôi lại về phòng mình và ngủ trưa cho đỡ mệt.

내가 아내에게 흔들려 깨었을 때는 역시 불이 들어온 뒤였다.
Khi tôi bị vợ lay tỉnh thì đèn cũng đã bật sáng rồi.

아내는 자기 방으로 나를 오라는 것이다.
Vợ bảo tôi hãy sang phòng cô ấy đi.

이런 일은 또 처음이다.
Chuyện như thế này quả là lần đầu tiên.

아내는 끊임없이 얼굴에 미소를 띠고 내 팔을 이끄는 것이 다.
Vợ cứ liên tục nở nụ cười trên môi và kéo lấy cánh tay tôi.

나는 이런 아내의 태도 이면에 엔간치 않은 음모가 숨어 있지나 않은가 하고 적이 불안을 느끼지 않을 수 없었다.
Tôi không khỏi cảm thấy chút bất an, tự hỏi liệu đằng sau thái độ này của vợ có ẩn giấu một âm mưu không hề nhỏ nào không.

나는 아내의 하자는 대로 아내의 방으로 끌려갔다.
Tôi bị kéo sang phòng vợ đúng như ý muốn của cô ấy.

아내 방에는 저녁 밥상이 조촐하게 차려져 있는 것이다.
Trong phòng vợ, một mâm cơm chiều đã được bày biện tươm tất.

생각하여 보면 나는 이틀을 굶었다.
Nghĩ lại thì tôi đã nhịn đói suốt hai ngày rồi.

나는 지금 배고픈 것까지도 긴가민가 잊어버리고 어름어름하던 차다.
Lúc này tôi đang ở trạng thái lờ đờ, đến cái đói cũng chẳng còn nhớ rõ là có thật hay không nữa.

나는 생각하였다.
Tôi đã thầm nghĩ.

이 최후의 만찬을 먹고 나자마자 벼락이 내려도 나는 차라리 후회하지 않을 것을.
Dẫu cho ngay sau khi ăn xong “bữa tối cuối cùng” này có bị sét đánh đi chăng nữa, tôi cũng chẳng hề hối hận.

사실 나는 인간 세상이 너무나 심심해서 못 견디겠던 차다.
Thực sự là tôi đang ở vào cái lúc cảm thấy thế gian này quá đỗi buồn tẻ đến mức không thể chịu đựng nổi.

모든 것이 성가시고 귀찮았으나 그러나 불의의 재난이라는 것은 즐겁다.
Mọi thứ đều thật phiền toái và rắc rối, thế nhưng những tai ương bất ngờ lại thật là khoái lạc.

나는 마음을 턱 놓고 조용히 아내와 마주 이 해괴한 저녁밥을 먹었다.
Tôi trút bỏ gánh nặng trong lòng, lẳng lặng ngồi đối diện với vợ và ăn bữa cơm chiều quái gở này.

우리 부부는 이야기하는 법이 없었다.
Vợ chồng chúng tôi vốn chẳng bao giờ trò chuyện.

밥을 먹은 뒤에도 나는 말이 없이 부스스 일어나서 내 방으로 건너가 버렸다.
Sau khi ăn xong, tôi cũng chẳng nói chẳng rằng, lờ đờ đứng dậy rồi bước sang phòng mình.

아내는 나를 붙잡지 않았다.
Vợ không giữ tôi lại.

나는 벽에 기대어 앉아서 담배를 한 대 피워 물고 그리고 벼락이 떨어질 테거든 어서 떨어져라 하고 기다렸다.
Tôi ngồi tựa lưng vào tường, châm một điếu thuốc rồi nằm chờ trận lôi đình, tự nhủ nếu nó có giáng xuống thì hãy mau mau giáng xuống đi.

오 분!
Năm phút!

십 분!
Mười phút!

그러나 벼락은 내리지 않았다.
Thế nhưng, trận lôi đình đã không giáng xuống.

긴장이 차츰 풀어지기 시작한다.
Sự căng thẳng bắt đầu dần tan biến.

나는 어느덧 오늘 밤에도 외출할 것을 생각하고 있었다.
Chẳng mấy chốc, tôi lại nghĩ đến việc ra ngoài vào đêm nay.

돈이 있었으면 하고 생각하고 있었다.
Tôi đã thầm mong mình có tiền.

그러나 돈은 확실히 없다.
Nhưng chắc chắn là tôi không có tiền.

오늘은 외출하여도 나중에 올 무슨 기쁨이 있나?
Ngày hôm nay dù có ra ngoài đi nữa, liệu có niềm vui nào chờ đợi tôi phía sau không?

내 앞이 그저 아뜩하였다.
Trước mắt tôi chỉ là một màn mịt mù.

나는 화가 나서 이불을 뒤집어쓰고 이리 뒹굴 저리 뒹굴 굴렀다.
Tôi phát cáu lên, trùm chăn kín đầu rồi lăn lộn hết bên này sang bên kia.

금시 먹은 밥이 목으로 자꾸 치밀어 올라온다.
Miếng cơm vừa ăn xong cứ trực trào lên cổ họng.

메스꺼웠다.
Tôi cảm thấy buồn nôn.

하늘에서 얼마라도 좋으니 왜 지폐가 소낙비처럼 퍼붓지 않나?
Tại sao từ trên trời không đổ xuống một trận mưa tiền giấy, bao nhiêu cũng được chứ?

그것이 그저 한없이 야속하고 슬펐다.
Điều đó chỉ khiến tôi thấy tủi thân và buồn bã vô hạn.

나는 이렇게 밖에 돈을 구하는 아무런 방법도 알지는 못했다.
Tôi chẳng biết cách nào khác để kiếm tiền ngoài việc đó cả.

나는 이불 속에서 좀 울었나 보다.
Dưới lớp chăn, chắc là tôi đã khóc một chút.

왜 없느냐면서…….
Tôi vừa khóc vừa hỏi tại sao mình lại không có tiền…

그랬더니 아내가 또 내 방에를 왔다.
Thế rồi vợ lại sang phòng tôi.

나는 깜짝 놀라 아마 이제야 벼락이 내리려 나보다 하고 숨을 죽이고 두꺼비 모양으로 엎드려 있었다.
Tôi giật mình thon thót, ngỡ rằng cuối cùng trận lôi đình cũng sắp giáng xuống nên nín thở, nằm phục xuống như một con cóc.

그러나 떨어진 입을 새어나오는 아내의 말소리는 참 부드러웠다.
Thế nhưng, những lời thốt ra từ đôi môi hé mở của vợ thật dịu dàng.

정다웠다.
Thật nồng ấm.

아내는 내가 왜 우는지를 안다는 것이다.
Vợ nói rằng cô ấy biết tại sao tôi khóc.

돈이 없어서 그러는 게 아니란다.
Cô ấy bảo không phải vì tôi thiếu tiền đâu.

나는 실없이 깜짝 놀랐다.
Tôi sững sờ một cách vớ vẩn.

어떻게 사람의 속을 환하게 들여다보는고 해서 나는 한편으로 슬그머니 겁도 안 나는 것은 아니었으나 저렇게 말하는 것을 보면 아마 내게 돈을 줄 생각이 있나보다, 만일 그렇다면 오죽이나 좋은 일일까.
Vì cô ấy nhìn thấu tâm can mình nên một mặt tôi cũng thấy hơi rờn rợn, nhưng nghe những lời ấy, tôi đoán có lẽ cô ấy định cho mình tiền, nếu đúng thế thì thật tốt biết bao.

나는 이불 속에 뚤뚤 말린 채 고개도 들지 않고 아내의 다음 거동을 기다리고 있으니까 ‘옜소’하고 내 머리맡에 내려뜨리는 것은 그 가뿐한 음향으로 보아 지폐에 틀림없었다.
Tôi cứ nằm cuộn tròn trong chăn, không buồn ngẩng đầu lên mà chờ đợi động thái tiếp theo của vợ, rồi một tiếng “Này” vang lên cùng thứ gì đó rơi xuống đầu giường; nghe âm thanh nhẹ hẫng ấy, tôi biết chắc đó là tiền giấy.

그리고 내 귀에다 대고 오늘일랑 어제보다도 늦게 돌아와도 좋다고 속삭이는 것이다.
Và rồi cô ấy ghé sát tai tôi thì thầm rằng, ngày hôm nay tôi có về muộn hơn hôm qua cũng chẳng sao.

그것은 어렵지 않다.
Việc đó chẳng khó gì.

우선 그 돈이 무엇보다도 고맙고 반가웠다.
Trước hết, số tiền ấy đối với tôi là đáng quý và đáng mừng hơn cả.

어쨌든 나섰다.
Dù sao thì tôi cũng đã ra ngoài.

나는 좀 야맹증이다.
Tôi hơi bị quáng gà.

그래서 될 수 있는 대로 밝은 거리로 돌아다기로 했다.
Vì vậy, tôi quyết định sẽ chỉ loanh quanh ở những con phố sáng sủa.

그리고는 경성역 일 이등 대합실 한 곁 티이루움에를 들렀다.
Sau đó, tôi ghé vào một phòng trà (tea room) bên cạnh phòng chờ hạng nhất và hạng hai của ga Gyeong-seong.

그것은 내게는 큰 발견이었다.
Đó là một phát hiện lớn đối với tôi.

거기는 우선 아무도 아는 사람이 안 온다.
Ở đó, trước hết là chẳng có người quen nào tới.

설사 왔다가도 곧 돌아가니까 좋다.
Mà giả sử có ai tới thì họ cũng đi ngay, nên thật tuyệt.

나는 날마다 여기 와서 시간을 보내리라 속으로 생각하여 두었다.
Tôi thầm nhủ trong lòng rằng từ nay mỗi ngày sẽ đều đến đây để giết thời gian.

제일 여기 시계가 어느 시계보다도 정확하리라는 것이 좋았다.
Điều tôi thích nhất là đồng hồ ở đây chắc chắn sẽ chính xác hơn bất kỳ nơi nào khác.

섣불리 서투른 시계를 보고 그것을 믿고 시간 전에 집에 돌아갔다가 큰 코를 다쳐서는 안 된다.
Tôi không được phép nhìn nhầm một chiếc đồng hồ sai lệch rồi tin vào nó mà về nhà trước giờ quy định để rồi phải chuốc lấy họa lớn.

나는 한 복스에 아무것도 없는 것과 마주 앉아서 잘 끓은 커피를 마셨다.
Tôi ngồi trong một ngăn riêng (box), đối diện với hư không và nhâm nhi tách cà phê đã pha khéo.

총총한 가운데 여객들은 그래도 한 잔 커피가 즐거운가보다.
Giữa sự hối hả, có vẻ như những hành khách vẫn thấy thú vị với một tách cà phê.

얼른얼른 마시고 무얼 좀 생각하는 것같이 담벼락도 좀 쳐다보고 하다가 곧 나가 버린다.
Họ uống thật nhanh, nhìn chằm chằm vào bức tường như đang suy tư điều gì, rồi lập tức rời đi.

서글프다.
Thật là thảm hại.

그러나 내게는 이 서글픈 분위기가 거리의 티이루움들의 그 거추장스러운 분위기보다는 절실하고 마음에 들었다.
Thế nhưng đối với tôi, bầu không khí thảm hại này lại chân thực và vừa ý hơn cái không khí rườm rà của những phòng trà ngoài phố kia.

이따금 들리는 날카로운 혹은 우렁찬 기적 소리가 모오짜르트보다도 더 가깝다.
Thi thoảng, tiếng còi tàu sắc lẹm hay vang dội vọng lại còn nghe gần gũi hơn cả nhạc Mozart.

나는 메뉴에 적힌 몇 가지 안 되는 음식 이름을 치읽고 내리읽고 여러 번 읽었다.
Tôi đọc đi đọc lại, đọc từ trên xuống dưới rồi từ dưới lên trên cái danh sách vài món ăn ít ỏi ghi trong thực đơn.

그 것들은 아물아물하는 것이 어딘가 내 어렸을 때 동무들 이름과 비슷한 데가 있었다.
Những cái tên ấy cứ chập chờn, đâu đó gợi cho tôi sự tương đồng với tên những người bạn thuở nhỏ của mình.

거기서 얼마나 내가 오래 앉았는지 정신이 오락가락하는 중에 객이 슬며시 뜸해지면서 이 구석 저 구석 걷어치우기 시작하는 것을 보면 아마 닫는 시간이 된 모양이다.
Tôi chẳng biết mình đã ngồi đó bao lâu, nhưng trong lúc tâm trí đang mông lung, thấy khách khứa thưa thớt dần và người ta bắt đầu dọn dẹp từng góc một, có lẽ đã đến giờ đóng cửa.

열 한 시가 좀 지났구나, 여기도 결코 내 안주의 곳은 아니구나, 어디 가서 자정을 넘길까?
Đã quá mười một giờ rồi, nơi này rốt cuộc cũng chẳng phải chốn dung thân của mình, biết đi đâu để đợi qua nửa đêm đây?

두루 걱정을 하면서 나는 밖으로 나섰다
Vừa lo lắng đủ đường, tôi vừa bước ra ngoài.

비가 온다.
Trời đang mưa.

빗발이 제법 굵은 것이 우비도 우산도 없는 나를 고생을 시킬 작정이다.
Những hạt mưa khá nặng hạt dường như đang định làm khổ một kẻ không áo mưa cũng chẳng ô dù như tôi.

그렇다고 이런 괴이한 풍모를 차리고 이 홀에서 어물어물하는 수도 없고 에이 비를 맞으면 맞았지 하고 그냥 나서 버렸다.
Dẫu vậy, với bộ dạng quái gở này, tôi không thể cứ lảng vảng mãi ở sảnh đợi được, nên thầm nhủ “thôi thì cứ để mưa xối xả cũng được” rồi cứ thế bước đi.

대단히 선선해서 견딜 수가 없다.
Trời lạnh buốt đến mức tôi không tài nào chịu nổi.

코르덴 옷이 젖기 시작하더니 나중에는 속속들이 스며들면서 치근거린다.
Bộ quần áo nhung kẻ bắt đầu sũng nước, rồi chẳng mấy chốc nước ngấm tận vào trong, dính bết vào da thịt.

비를 맞아 가면서라도 견딜 수 있는 데까지 거리를 돌아다녀서 시간을 보내려 하였으나, 인제는 선선해서 이 이상은 더 견딜 수가 없다.
Tôi đã định cứ thế đội mưa lang thang khắp phố cho đến khi không chịu nổi nữa để giết thời gian, nhưng giờ thì lạnh quá, tôi không thể chịu đựng thêm được nữa rồi.

오한이 자꾸 일어나면서 이이가 딱딱 맞부딪는다.
Cơn rùng mình cứ liên tục ập đến làm hai hàm răng va vào nhau lập cập.

나는 걸음을 늦추면서 생각하였다.

Tôi bước chậm lại và suy ngẫm.

오늘 같은 궂은 날도 아내에게 내객이 있을라구?

Một ngày thời tiết tồi tệ thế này, liệu vợ có khách không nhỉ?

없겠지, 하는 생각이 드는 것이다.

“Chắc là không đâu”, ý nghĩ đó hiện lên trong đầu tôi.

집으로 가야겠다.

Mình phải về nhà thôi.

아내에게 불행히 내객이 있거든 내 사정을 하리라.

Nếu chẳng may vợ có khách, mình sẽ phân trần hoàn cảnh của mình.

사정을 하면 이렇게 비가 오는 것을 눈으로 보고 알아주겠지.

Nếu mình phân trần, cô ấy tận mắt thấy trời mưa thế này chắc sẽ thấu hiểu cho mình thôi.

부리나케 와 보니까 그러나 아내에게는 내객이 있었다.

Tôi vội vã chạy về, nhưng hỡi ôi, vợ tôi đang có khách.

나는 너무 춥고 척척해서 얼떨결에 노크 하는 것을 잊었다.

Vì quá lạnh và ướt át, trong lúc bối rối tôi đã quên mất việc gõ cửa.

그래서 나는 보면 아내가 덜 좋아할 것을 그만 보았다.

And thế là, tôi đã lỡ nhìn thấy một cảnh tượng mà vợ tôi chẳng hề muốn tôi thấy chút nào.

나는 감발자국 같은 발자국을 내면서 덤벙덤벙 아내 방을 디디고 내 방으로 가서 쭉 빠진 옷을 활활 벗어 버리고 이불을 뒤써다.

Tôi để lại những dấu chân loang lổ như vết chân trần, thình thịch bước qua phòng vợ để về phòng mình, rồi lột sạch bộ quần áo sũng nước, vứt sang một bên và trùm chăn kín mít.

덜덜덜덜 떨린다.

Toàn thân tôi run lẩy bẩy.

오한이 점점 더 심해 들어온다.

Cơn ớn lạnh ngày một trầm trọng hơn.

여전 땅이 꺼져 들어가는 것만 같았다.

Vẫn cảm giác như mặt đất đang sụt xuống dưới chân.

나는 그만 의식을 잃어버리고 말았다.

Và rồi, tôi lịm đi, mất sạch ý thức.

이튿날 내가 눈을 떴을 때 아내는 내 머리맡에 앉아서 제법 근심스러운 얼굴이다.

Ngày hôm sau khi tôi mở mắt ra, vợ đang ngồi bên đầu giường với vẻ mặt khá lo âu.

나는 감기가 들었다.

Tôi đã bị cảm lạnh.

여전히 으스스 춥고 또 골치가 아프고 입에 군침이 도는 것이 씁쓸하면서 다리팔이 척 늘어져서 노곤하다.

Toàn thân vẫn rùng mình ớn lạnh, đầu đau nhức, miệng đắng ngắt tiết ra nước dãi, chân tay thì rã rời, mệt mỏi vô cùng.

아내는 내 머리를 쓱 짚어 보더니 약을 먹어야지 한다.

Vợ khẽ chạm tay lên trán tôi rồi bảo rằng phải uống thuốc thôi.

아내 손이 이마에 선뜻한 것을 보면 신열이 어지간한 모양인데 약을 먹는다면 해열제를 먹어야지 하고 속생각을 하자니까 아내는 따뜻한 물에 하얀 정제약 네 개를 준다.

Cảm nhận bàn tay vợ mát lạnh trên trán, tôi biết cơn sốt của mình cũng không hề nhẹ; đang thầm nghĩ nếu uống thuốc thì phải uống thuốc hạ sốt, thì vợ mang đến cho tôi một cốc nước ấm cùng bốn viên thuốc trắng.

이것을 먹고 한잠 푹 자고 나면 괜찮다는 것이다.

Cô ấy bảo uống thuốc này xong rồi ngủ một giấc thật sâu là sẽ ổn thôi.

나는 널름 받아먹었다.

Tôi liền đón lấy và uống ngay.

쌉싸래한 것이 짐작 같아서는 아마 아스피린인가 싶다.

Vị hơi đắng, theo tôi đoán có lẽ là Aspirin.

나는 다시 이불을 쓰고 단번에 그냥 죽은 것처럼 잠이 들어 버렸다.

Tôi lại trùm chăn và ngay lập tức chìm vào giấc ngủ như thể đã chết.

나는 콧물을 훌쩍훌쩍 하면서 여러 날을 앓았다.

Tôi đã ốm suốt nhiều ngày, mũi cứ sụt sùi mãi.

앓는 동안에 끊이지 않고 그 정제약을 먹었다.

Trong suốt thời gian bị bệnh, tôi vẫn không ngừng uống những viên thuốc ấy.

그러는 동안에 감기도 나았다.

Trong khoảng thời gian đó, cơn cảm lạnh cũng đã khỏi.

그러나 입맛은 여전히 소태처럼 썼다.

Thế nhưng dư vị trong miệng vẫn đắng ngắt như mật đắng.

나는 차츰 또 외출하고 싶은 생각이 났다.

Dần dà, tôi lại nảy ra ý muốn ra ngoài.

그러나 아내는 나더러 외출하지 말라고 이르는 것이다.

Thế nhưng vợ lại dặn tôi đừng có đi đâu cả.

이 약을 날마다 먹고 그리고 가만히 누워 있으라는 것이다.

Cô ấy bảo tôi hãy cứ uống thuốc này mỗi ngày rồi nằm yên đó.

공연히 외출을 하다가 이렇게 감기가 들어서 저를 고생시키는 게 아니란다.

Cô ấy bảo đừng có ra ngoài vô ích để rồi bị cảm lạnh làm khổ cô ấy nữa.

그도 그렇다.

Ngẫm lại cũng đúng.

그럼 외출을 하지 않겠다고 맹세하고 그 약을 연복하여 몸을 좀 보해 보리라고 나는 생각하였다.

Thế là tôi thề sẽ không ra ngoài nữa, định bụng cứ tiếp tục uống thuốc đó để bồi bổ cơ thể xem sao.

나는 날마다 이불을 뒤집어쓰고 밤이나 낮이나 잤다.

Ngày qua ngày, tôi trùm chăn kín mít và ngủ suốt bất kể ngày đêm.

유난스럽게 밤이나 낮이나 졸려서 견딜 수가 없는 것이다.

Chẳng hiểu sao cả ngày lẫn đêm tôi cứ buồn ngủ đến mức không cưỡng lại được.

나는 이렇게 잠이 자꾸만 오는 것은 내가 몸이 훨씬 튼튼해진 증거라고 굳게 믿었다.

Tôi tin chắc rằng việc mình cứ buồn ngủ liên miên thế này là minh chứng cho thấy cơ thể đang dần khỏe mạnh hơn nhiều.

나는 아마 한 달이나 이렇게 지냈나보다.

Có lẽ tôi đã sống như thế suốt một tháng trời.

내 머리와 수염이 좀 너무 자라서 후틋해서 견딜 수가 없어서 내 거울을 좀 보리라고 아내가 외출한 틈을 타서 나는 아내 방으로 가서 아내의 화장대 앞에 앉아 보았다.

Tóc và râu ria mọc dài quá khiến tôi thấy vướng víu không chịu nổi, nên nhân lúc vợ ra ngoài, tôi lẻn sang phòng cô ấy, ngồi trước bàn trang điểm định soi gương một chút.

상당하다.

Thật kinh khủng.

수염과 머리가 참 상당하였다.

Râu và tóc tôi mọc dài đến mức kinh khủng.

오늘은 이발을 좀 하리라고 생각하고 겸사겸사 고 화장품 병들 마개를 뽑고 이것저것 맡아 보았다.

Tôi định bụng hôm nay sẽ đi cắt tóc, sẵn tiện mở nắp mấy lọ mỹ phẩm kia ra hít hà đủ loại mùi hương.

한동안 잊어버렸던 향기 가운데서는 몸이 배배 꼬일 것 같은 체취가 전해 나왔다.

Giữa những làn hương đã lâu không chạm tới, thoảng ra một mùi cơ thể khiến người ta phải rùng mình vặn vẹo.

나는 아내의 이름을 속으로만 한 번 불러 보았다.

Tôi thầm gọi tên vợ một lần trong lòng.

“연심이—”하고……

“Yeon-sim à—”…

오래간만에 돋보기 장난도 하였다.

Sau bao lâu, tôi lại chơi trò thấu kính.

거울 장난도 하였다.

Cả trò nghịch gương nữa.

창에 든 볕이 여간 따뜻한 것이 아니었다.

Ánh nắng rọi qua cửa sổ thật ấm áp làm sao.

생각하면 오월이 아니냐.

Ngẫm lại thì chẳng phải đã là tháng Năm rồi đó sao.

나는 커다랗게 기지개를 한 번 켜 보고 아내 베개를 내려 베고 벌떡 자빠져서는 이렇게도 편안하고 즐거운 세월을 하느님께 흠씬 자랑하여 주고 싶었다.

Tôi vươn vai một cái thật dài, gối đầu lên gối của vợ rồi nằm vật ra, chỉ muốn khoe khoang với Chúa về những ngày tháng bình yên và vui sướng nhường này.

나는 참 세상의 아무것과도 교섭을 가지지 않는다.

Tôi thực sự chẳng màng giao thiệp với bất cứ thứ gì trên đời này.

하느님도 아마 나를 칭찬할 수도 처벌할 수도 없는 것 같다.

Đến cả Chúa chắc cũng chẳng thể khen ngợi hay trừng phạt nổi tôi nữa.

그러나 다음 순간 실로 세상에도 이상스러운 것이 눈에 띄었다.

Thế nhưng, ngay khoảnh khắc tiếp theo, một thứ thực sự kỳ quái trên đời này đã lọt vào mắt tôi.

그것은 최면약 아달린 갑이었다.

Đó chính là vỏ hộp thuốc ngủ Adalin.

나는 그것을 아내의 화장대 밑에서 발견하고 그것이 흡사 아스피린처럼 생겼다고 느꼈다.

Tôi phát hiện ra nó dưới gầm bàn trang điểm của vợ và cảm thấy nó trông hệt như Aspirin.

나는 그것을 열어 보았다.

Tôi mở nó ra.

꼭 네 개가 비었다.

Chính xác là thiếu mất bốn viên.

나는 오늘 아침에 네 개의 아스피린을 먹은 것을 기억하고 있었다.

Tôi nhớ rõ sáng nay mình đã uống bốn viên Aspirin.

나는 잤다.

Tôi đã ngủ.

어제도 그제도 그끄제도……

Cả hôm qua, hôm kia, hôm kìa nữa…

나는 졸려서 견딜 수가 없었다.

Tôi đã buồn ngủ đến mức không chịu nổi.

나는 감기가 다 나았는데도……

Dẫu cơn cảm lạnh đã khỏi hẳn rồi…

아내는 내게 아스피린을 주었다.

nhưng vợ vẫn cho tôi uống Aspirin.

내가 잠이 든 동안에 이웃에 불이 난 일이 있다.

Trong lúc tôi đang ngủ, nhà hàng xóm từng xảy ra hỏa hoạn.

그때에도 나는 자느라고 몰랐다.

Lúc đó tôi cũng vì mải ngủ mà chẳng hề hay biết.

이렇게 나는 잤다.

Tôi đã ngủ như thế đấy.

나는 아스피린으로 알고 그럼 한 달 동안을 두고 아달린을 먹어온 것이다.

Cứ tưởng là Aspirin, hóa ra suốt một tháng trời tôi đã uống Adalin.

이것은 좀 너무 심하다.

Chuyện này thật là quá quắt.

별안간 아뜩하더니 하마터면 나는 까무러칠 뻔하였다.

Đầu óc bỗng chốc tối sầm lại, suýt chút nữa tôi đã ngã quỵ.

나는 그 아달린을 주머니에 넣고 집을 나섰다.

Tôi bỏ hộp Adalin đó vào túi rồi rời khỏi nhà.

그리고 산을 찾아 올라갔다.

Tôi tìm đường leo lên núi.

인간 세상의 아무것도 보기가 싫었던 것이다.

Vì tôi chẳng muốn nhìn bất cứ thứ gì của thế gian loài người nữa.

걸으면서 나는 아무쪼록 아내에 관계되는 일은 일 체 생각하지 않도록 노력하였다.

Vừa bước đi, tôi vừa cố gắng hết sức để không nghĩ ngợi bất cứ điều gì liên quan đến vợ.

길에서 까무러치기 쉬우니까다.

Bởi nếu không, tôi rất dễ bị ngất xỉu ngay giữa đường.

나는 어디라도 양지가 바른 자리를 하나 골라 자리를 잡아 가지고 서서히 아내에 관하여서 연구할 작정이었다.

Tôi định bụng sẽ chọn một chỗ nào đó thật ấm áp để ngồi xuống, rồi từ từ nghiên cứu về vợ mình.

나는 길가의 돌 장판, 구경도 못한 진개나리꽃, 종달새, 돌멩이도 새끼를 까는 이야기, 이런 것만 생각하였다.

Tôi chỉ nghĩ về những phiến đá ven đường, về loài hoa nghinh xuân chưa từng thấy, về chim sơn ca, về chuyện cả những hòn đá cũng đẻ con.

다행히 길 가에서 나는 졸도하지 않았다.

Thật may là tôi đã không bị ngất giữa đường.

거기는 벤치가 있었다.

Ở đó có một chiếc ghế băng.

나는 거기 정좌하고 그리고 그 아스피린과 아달린에 관하여 연구하였다.

Tôi ngồi ngay ngắn xuống đó rồi bắt đầu nghiên cứu về Aspirin và Adalin.

그러나 머리가 도무지 혼란하여 생각이 체계를 이루지 않는다.

Thế nhưng đầu óc tôi rối bời, chẳng thể suy nghĩ cho ra ngô ra khoai.

단 오 분이 못가서 나는 그만 귀찮은 생각이 번쩍 들면서 심술이 났다.

Chưa đầy năm phút, tôi bỗng thấy phiền phức và nảy sinh ý nghĩ cáu kỉnh.

나는 주머니에서 가지고 온 아달린을 꺼내 남은 여섯 개를 한꺼번에 질겅질겅 씹어 먹어 버렸다.

Tôi lấy hộp Adalin trong túi ra rồi nhai ngấu nghiến một lúc cả sáu viên còn lại.

맛이 익살맞다.

Vị của nó thật kỳ quặc.

그러고 나서 나는 그 벤치 위에 가로 기다랗게 누웠다.

Sau đó, tôi nằm dài ra trên chiếc ghế băng ấy.

무슨 생각으로 내가 그 따위 짓을 했나, 알 수가 없다.

Chẳng biết tôi đã nghĩ gì mà lại làm cái hành động tồi tệ đó, bản thân tôi cũng không rõ.

그저 그러고 싶었다.

Chỉ là tôi muốn làm thế thôi.

나는 게서 그냥 깊이 잠이 들었다.

Tôi cứ thế chìm sâu vào giấc ngủ ngay tại đó.

잠결에도 바위틈으로 흐르는 물소리가 졸졸 하고 언제까지나 귀에 어렴풋이 들려 왔다.

Ngay cả trong giấc ngủ, tiếng nước chảy róc rách qua khe đá vẫn cứ văng vẳng bên tai mãi không thôi.

내가 잠을 깨었을 때는 날이 환히 밝은 뒤다.

Khi tôi tỉnh giấc, trời đã sáng rõ.

나는 거기서 일주야를 잔 것이다.

Tôi đã ngủ ở đó suốt một ngày một đêm.

풍경이 그냥 노오랗게 보인다.

Cảnh vật trước mắt cứ vàng rực lên.

그 속에서도 나는 번개처럼 아스피린과 아달린이 생각났다.

Ngay cả trong trạng thái đó, ý nghĩ về Aspirin và Adalin vẫn lóe lên như tia chớp.

아스피린, 아달린, 아스피린, 아달린, 맑스, 말사스, 마도로스, 아스피린, 아달린……

Aspirin, Adalin, Aspirin, Adalin, Marx, Malthus, Madros, Aspirin, Adalin…

아내는 한 달 동안 아달린을 아스피린이라고 속이고 내게 먹였다.

Suốt một tháng trời, vợ đã lừa dối tôi, bảo Adalin là Aspirin rồi bắt tôi uống.

그것은 아내 방에서 이 아달린 갑이 발견된 것으로 미루어 증거가 너무나 확실하다.

Bằng chứng quá rõ ràng khi tôi đã tìm thấy vỏ hộp Adalin ấy trong phòng của vợ.

무슨 목적으로 아내는 나를 밤이나 낮이나 재웠어야 됐나?

Vì mục đích gì mà vợ phải bắt tôi ngủ suốt ngày đêm như thế?

나를 밤이나 낮이나 재워 놓고, 그리고 아내는 내가 자는 동안에 무슨 짓을 했나?

Sau khi bắt tôi ngủ say, vợ đã làm những gì trong lúc tôi đang thiếp đi?

나를 조금씩 조금씩 죽이려던 것일까?

Có phải cô ấy định giết tôi dần giết mòn không?

그러나 또 생각하여 보면 내가 한 달을 두고 먹어 온 것이 아스피린이었는지도 모른다.?

Nhưng rồi ngẫm lại, biết đâu thứ tôi uống suốt một tháng qua thực sự là Aspirin thì sao.

아내는 무슨 근심되는 일이 있어서 밤이면 잠이 잘 오지 않아서 정작 아내가 아달린을 사용한 것이나 아닌지?

Hay là vợ có điều gì lo phiền nên đêm về không ngủ được, và chính cô ấy mới là người sử dụng Adalin?

그렇다면 나는 참 미안하다.

Nếu đúng là thế thì tôi thật có lỗi quá.

나는 아내에게 이렇게 큰 의혹을 가졌다는 것이 참 안됐다.

Tôi thấy thật tồi tệ khi đã nảy sinh nghi ngờ lớn đến nhường này đối với vợ.

나는 그래서 부리나케 거기서 내려왔다.

Vì vậy, tôi vội vàng rời khỏi đó.

아랫도리가 홰홰 내어 저이면서 어찔어찔한 것을 나는 겨우 집을 향하여 걸었다.

Đôi chân tôi bủn rủn, đầu óc choáng váng, tôi gắng gượng bước về phía nhà mình.

여덟 시 가까이였다.

Lúc đó đã gần tám giờ.

나는 내 잘못된 생각을 죄다 일러바치고 아내에게 사죄하려는 것이다.

Tôi định bụng sẽ thú nhận hết những suy nghĩ sai lầm của mình và tạ lỗi với vợ.

나는 너무 급해서 그만 또 말을 잊어버렸다.

Vì quá vội vàng nên tôi lại quên bẵng mất việc phải hắng giọng báo trước.

그랬더니 이건 참 큰일 났다.

And rồi, một chuyện tồi tệ đã xảy ra.

나는 내 눈으로 절대로 보아서 안 될 것을 그만 딱 보아 버리고 만 것이다.

Tôi đã tận mắt chứng kiến một cảnh tượng mà bản thân tuyệt đối không bao giờ nên nhìn thấy.

나는 얼떨결에 그만 냉큼 미닫이를 닫고 그리고 현기증이 나는 것을 진정시키느라고 잠깐 고개를 숙이고 눈을 감고 기둥을 짚고 섰자니까, 일 초 여유도 없이 홱 미닫이가 다시 열리더니 매무새를 풀어헤친 아내가 불쑥 내밀면서 내 멱살을 잡는 것이다.

Trong lúc hốt hoảng, tôi vội vàng đóng sầm cửa kéo lại, rồi để trấn tĩnh cơn chóng mặt, tôi khom người xuống, nhắm mắt và bám tay vào cột mà đứng; thế nhưng, chưa đầy một giây sau, cánh cửa kéo bỗng văng mạnh ra, người vợ trong bộ dạng xộc xệch lao vụt tới và túm lấy cổ áo tôi.

나는 그만 어지러워서 게가 나둥그러졌다.

Tôi vì quá choáng váng mà ngã nhào ngay tại đó.

그랬더니 아내는 넘어진 내 위에 덮치면서 내 살을 함부로 물어뜯는 것이다.

Thế rồi vợ tôi chồm lên người tôi đang ngã gục và điên cuồng cắn xé da thịt tôi.

아파 죽겠다.

Đau đến chết đi được.

나는 사실 반항할 의사도 힘도 없어서 그냥 넙적 엎드려 있으면서 어떻게 되나 보고 있자니까, 뒤이어 남자가 나오는 것 같더니 아내를 한 아름에 덥석 안아 가지고 방으로 들어가는 것이다.

Thực lòng tôi chẳng có ý chí hay sức lực nào để phản kháng nên cứ nằm rạp xuống xem chuyện sẽ đi đến đâu; ngay sau đó, dường như gã đàn ông kia bước ra, hắn ôm gọn lấy vợ tôi rồi bế thốc cô ấy vào trong phòng.

아내는 아무 말 없이 다소곳이 그렇게 안겨 들어가는 것이 내 눈에 여간 미운 것이 아니다.

Vợ tôi chẳng nói lời nào, cứ thế ngoan ngoãn để hắn bế vào trong, cảnh tượng ấy trong mắt tôi thật đáng ghét biết bao.

밉다.

Thật đáng ghét.

아내는 너 밤새워 가면서 도둑질하러 다니느냐, 계집질하러 다니느냐고 발악이다.

Vợ tôi gào thét lên rằng tôi đi thâu đêm suốt sáng như thế là để đi ăn trộm hay là đi theo gái.

이것은 참 너무 억울하다.

Chuyện này thật quá đỗi oan ức.

나는 어안이 벙벙하여 도무지 입이 떨어지지를 않았다.

Tôi sững sờ đến mức không thốt nên lời.

너는 그야말로 나를 살해하려던 것이 아니냐고 소리를 한 번 꽥 질러 보고도 싶었으나, 그런 긴가민가한 소리를 섣불리 입 밖에 내었다가는 무슨 화를 볼는지 알 수 없다.

Tôi cũng muốn hét to lên một tiếng rằng chẳng phải cô mới chính là kẻ định giết hại tôi sao, nhưng nếu hấp tấp thốt ra những lời nửa tin nửa ngờ ấy thì chẳng biết sẽ chuốc lấy họa gì.

차라리 억울하지만 잠자코 있는 것이 우선 상책인 듯시피 생각이 들길래, 나는 이것은 또 무슨 생각으로 그랬는지 모르지만 툭툭 떨고 일어나서 내 바지 포켓 속에 남은 돈 몇 원 몇십 전을 가만히 꺼내서는 몰래 미닫이를 열고 살며시 문지방 밑에다 놓고 나서는, 나는 그냥 줄달음박질을 쳐서 나와 버렸다.

Dẫu oan ức nhưng tôi nghĩ thà rằng cứ giữ im lặng là thượng sách; và rồi, chẳng hiểu mình đang nghĩ gì, tôi phủi quần áo đứng dậy, lặng lẽ móc nốt vài won vài chục xu còn lại trong túi quần, âm thầm mở cửa kéo rồi nhẹ nhàng đặt xuống dưới ngưỡng cửa, sau đó tôi cứ thế cắm đầu chạy thẳng ra khỏi nhà.

여러 번 자동차에 치일 뻔 하면서 나는 그래도 경성역으로 찾아갔다.

Suýt chút nữa thì bị ô tô đâm phải mấy lần, nhưng tôi vẫn tìm đường đến ga Gyeong-seong.

빈자리와 마주 앉아서 이 쓰디쓴 입맛을 거두기 위하여 무엇으로나 입가심을 하고 싶었다.

Ngồi đối diện với một chỗ trống, tôi muốn dùng thứ gì đó để súc miệng, ngõ hầu xua đi vị đắng ngắt trong miệng này.

커피!

Cà phê!

좋다.

Được đấy.

그러나 경성역 홀에 한 걸음 들여 놓았을 때 나는 내 주머니에는 돈이 한 푼도 없는 것을 그것을 깜박 잊었던 것을 깨달았다.

Thế nhưng, ngay khi vừa bước chân vào sảnh ga Gyeong-seong, tôi mới chợt nhận ra mình đã quên khuấy mất việc trong túi chẳng còn lấy một xu.

또 아뜩하였다.

Đầu óc lại tối sầm lại.

나는 어디선가 그저 맥없이 머뭇머뭇하면서 어쩔 줄을 모를 뿐이었다.

Tôi chỉ biết đứng thẫn thờ vô định ở đâu đó, hoàn toàn không biết phải làm gì.

얼빠진 사람처럼 그저 이리 갔다 저리 갔다 하면서…….

Cứ như một kẻ mất hồn, tôi đi tới đi lui một cách vô nghĩa…

나는 어디로 어디로 들입다 쏘다녔는지 하나도 모른다.

Tôi hoàn toàn chẳng biết mình đã lang thang qua những đâu.

다만 몇 시간 후에 내가 미쓰꼬시 옥상에 있는 것을 깨달았을 때는 거의 대낮이었다.

Chỉ là vài giờ sau đó, khi nhận ra mình đang ở trên sân thượng của bách hóa Mitsukoshi, lúc ấy trời đã gần trưa.

나는 거기 아무 데나 주저앉아서 내 자라 온 스물여섯 해를 회고하여 보았다.

Tôi ngồi bệt xuống một chỗ bất kỳ ở đó và hồi tưởng lại hai mươi sáu năm cuộc đời mình.

몽롱한 기억 속에서는 이렇다는 아무 제목도 불거져 나오지 않았다.

Trong ký ức mông lung, chẳng có một tiêu đề rõ rệt nào hiện ra cả.

나는 또 내 자신에게 물어 보았다.

Tôi lại tự hỏi bản thân mình.

너는 인생에 무슨 욕심이 있느냐고, 그러나 있다고도 없다고도 그런 대답은 하기가 싫었다.

Rằng mình có tham vọng gì với cuộc đời này không, nhưng tôi chẳng muốn trả lời là có hay không.

나는 거의 나 자신의 존재를 인식하기조차도 어려웠다.

Tôi dường như khó lòng nhận thức nổi cả sự tồn tại của chính bản thân mình.

허리를 굽혀서 나는 그저 금붕어를 들여다보고 있었다.

Tôi khom lưng xuống, cứ thế nhìn chằm chằm vào lũ cá vàng.

금붕어는 참 잘들도 생겼다.

Lũ cá vàng trông thật là đẹp đẽ.

작은놈은 작은놈대로 큰놈은 큰놈대로 다 싱싱하니 보기 좋았다.

Con nhỏ ra con nhỏ, con lớn ra con lớn, thảy đều tươi tắn và đẹp mắt.

내려 비치는 오월 햇살에 금붕어들은 그릇 바탕에 그림자를 내려뜨렸다.

Dưới ánh nắng tháng Năm rọi xuống, lũ cá vàng đổ bóng mình lên đáy chậu.

지느러미는 하늘하늘 손수건을 흔드는 흉내를 낸다.

Vây cá dập dờn như đang bắt chước điệu bộ vẫy khăn tay.

나는 이 지느러미 수효를 헤어 보기도 하면서 굽힌 허리를 좀처럼 펴지 않았다.

Tôi vừa thử đếm số lượng vây cá, vừa mãi chẳng chịu vươn thẳng cái lưng đang khom xuống.

등이 따뜻하다.

Tấm lưng cảm thấy thật ấm áp.

나는 또 오탁의 거리를 내려다보았다.

Tôi lại nhìn xuống con phố ô trọc phía dưới.

거기서는 피곤한 생활이 똑 금붕어 지느러미처럼 흐늑흐늑 허우적거렸다.

Ở đó, những cuộc đời mệt mỏi đang vật lộn rệu rã hệt như những chiếc vây cá vàng.

눈에 보이지 않는 끈적끈적한 줄에 엉켜서 헤어나지들을 못한다.

Họ bị vướng vào những sợi dây dính dấp vô hình và chẳng thể nào thoát ra nổi.

나는 피로와 공복 때문에 무너져 들어가는 몸뚱이를 끌고 그 오탁의 거리 속으로 섞여 가지 않는 수도 없다 생각하였다.

Tôi nghĩ rằng, mình không còn cách nào khác là phải kéo cái thân xác đang đổ sụp vì mệt mỏi và đói khát này để hòa vào giữa con phố ô trọc ấy.

나서서 나는 또 문득 생각하여 보았다.

Vừa bước đi, tôi bỗng chợt nghĩ.

이 발길이 지금 어디로 향하여 가는 것인가를……

Rằng bước chân này giờ đây đang hướng về đâu…

그때 내 눈앞에는 아내의 모가지가 벼락처럼 내려 떨어졌다.

Chính lúc đó, hình ảnh cái cổ của vợ tôi đổ ập xuống trước mắt như một tia sét.

아스피린과 아달린.

Aspirin và Adalin.

우리들은 서로 오해하고 있느니라.

Chúng ta đang hiểu lầm nhau.

설마 아내가 아스피린 대신에 아달린의 정량을 나에게 먹여 왔을까?

Chẳng lẽ người vợ lại thực sự cho tôi uống liều lượng thuốc Adalin thay vì Aspirin sao?

나는 그것을 믿을 수는 없다.

Tôi không thể tin điều đó.

아내가 대체 그럴 까닭이 없을 것이니, 그러면 나는 날밤을 새면서 도둑질을 계집질을 하였나?

Bởi căn bản là vợ chẳng có lý do gì để làm thế, vậy thì có phải tôi đã thức trắng đêm để đi ăn trộm hay đi theo gái không?

정말이지 아니다.

Thật lòng là không phải vậy.

우리 부부는 숙명적으로 발이 맞지 않는 절름발이인 것이다.

Vợ chồng chúng tôi vốn dĩ là những kẻ thọt chân không khớp bước một cách định mệnh.

내나 아내나 제 거동에 로직을 붙일 필요는 없다.

Cả tôi lẫn vợ đều không cần phải gán ghép logic cho hành động của mình.

변해할 필요도 없다.

Cũng chẳng cần phải biện minh.

사실은 사실대로 오해는 오해대로 그저 끝없이 발을 절뚝거리면서 세상을 걸어가면 되는 것이다.

Sự thật cứ là sự thật, hiểu lầm cứ là hiểu lầm, chúng tôi cứ thế bước đi giữa thế gian với những bước chân khập khiễng không bao giờ dứt.

그렇지 않을까?

Chẳng phải vậy sao?

그러나 나는 이 발길이 아내에게로 돌아가야 옳은가 이것만은 분간하기가 좀 어려웠다.

Thế nhưng, liệu bước chân này có nên quay trở về với vợ hay không, duy chỉ điều này là tôi khó lòng phân định rõ rệt.

가야하나?

Phải về sao?

그럼 어디로 가나?

Vậy thì biết đi đâu đây?

이때 뚜우 하고 정오 사이렌이 울었다.

Chính lúc ấy, tiếng còi tầm buổi trưa vang lên một hồi dài “tu uuu”.

사람들은 모두 네 활개를 펴고 닭처럼 푸드덕거리는 것 같고 온갖 유리와 강철과 대리석과 지폐와 잉크가 부글부글 끓고 수선을 떨고 하는 것 같은 찰나!

Ấy là khoảnh khắc mà dường như mọi người đều dang rộng tay chân và vỗ cánh phành phạch như lũ gà, là lúc mà mọi thứ thủy tinh, thép cứng, đá cẩm thạch, tiền giấy và mực in đều sôi sục cuồng nhiệt và náo loạn!

그야말로 현란을 극한 정오다.

Quả thực là một buổi chính ngọ rực rỡ đến cực điểm.

나는 불현듯 겨드랑이가 가렵다.

Bất chợt, tôi thấy ngứa ngáy nơi nách mình.

아하, 그것은 내 인공의 날개가 돋았던 자국이다.

A ha, đó chính là dấu vết nơi đôi cánh nhân tạo của tôi từng mọc ra.

오늘은 없는 이 날개.

Đôi cánh mà ngày hôm nay chẳng còn hiện hữu.

머릿속에서는 희망과 야심이 말소된 페이지가 딕셔너리 넘어가듯 번뜩였다.

Trong đầu tôi, những trang giấy nơi hy vọng và tham vọng đã bị xóa sổ cứ lóe lên bần bật như tiếng lật của một cuốn từ điển.

나는 걷던 걸음을 멈추고 그리고 일어나 한 번 이렇게 외쳐 보고 싶었다.

Tôi dừng bước chân đang đi, rồi đứng thẳng dậy và muốn hét vang lên một lần như thế này.

날개야 다시 돋아라.

Đôi cánh ơi, hãy mọc ra lần nữa.

날자.

Bay nào.

날자.

Bay nào.

한 번만 더 날자꾸나.

Hãy bay thêm một lần nữa thôi.

한 번만 더 날아 보자꾸나.

Hãy thử cất cánh bay thêm một lần nữa thôi nào.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo