DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT Khi hoa me-mil nở của nhà văn Lee Hyo-seok

DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT

Khi hoa me-mil nở của nhà văn Lee Hyo-seok

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Trịnh Nguyệt Hân – CSTT Kanata Tân Bình

 

1. 메밀꽃 필 무렵

Khi hoa me-mil nở

2. 여름 장이란 애시당초에 글러서, 해는 아직 중천에 있건만 장판은 벌써 쓸쓸하고 더운 햇발이 벌여놓은 전 휘장 밑으로 등줄기를 훅훅 볶는다.

Phiên chợ hè vốn dĩ ngay từ đầu đã chẳng ra sao, mặt trời tuy còn treo giữa đỉnh đầu mà bãi chợ đã sớm đìu hiu, những tia nắng oi nồng thiêu đốt tấm lưng dưới những tấm bạt hàng giăng san sát.

3. 마을 사람들은 거의 돌아간 뒤요, 팔리지 못한 나무꾼패가 길거리에 궁깃거리고들 있으나, 석유병이나 받고 고깃마리나 사면 족할 이 축들을 바라고 언제까지든지 버티고 있을 법은 없다.

Dân làng hầu hết đã ra về, chỉ còn đám tiều phu chưa bán được hàng vẫn đang lảng vảng trên đường, nhưng chẳng thể trông mong gì vào lũ người chỉ mong đổi lấy chai dầu hỏa hay miếng thịt vụn ấy mà bám trụ lại mãi được.

4. 칩칩스럽게 날아드는 파리떼도 장난꾼 각다귀들도 귀찮다.

Lũ ruồi nhặng bay đến bâu bám dính dấp cùng đám trẻ ranh nghịch ngợm thật khiến người ta phát phiền.

5. 얽음뱅이요 왼손잡이인 드팀전의 허생원은 기어이 동업의 조선달을 나꾸어보았다.

Heo Saeng-won, người bán vải vóc có gương mặt rỗ và là kẻ thuận tay trái, cuối cùng cũng cất lời ướm hỏi người bạn đồng nghiệp Cho Seon-dal:

6. “그만 거둘까?”

“Nghỉ tay dọn hàng thôi chứ?”

7. “잘 생각했네. 봉평장에서 한 번이나 흐뭇하게 사본 일이 있었을까? 내일 대화장에서나 한몫 벌어야겠네.”

“Tính thế là phải. Ở cái chợ Bong-pyeong này đã bao giờ buôn bán được gì cho ra hồn đâu? Để ngày mai tới chợ Dae-hwa kiếm một mớ vậy.”

8. “오늘 밤은 밤을 새서 걸어야 될걸.”

“Đêm nay chắc phải đi bộ suốt đêm đấy.”

9. “달이 뜨렷다.”

“Trăng sắp lên rồi kia kìa.”

10. 절렁절렁 소리를 내며 조선달이 그날 산 돈을 따지는 것을 보고 허생원은 말뚝에서 넓은 휘장을 걷고 벌여놓았던 물건을 거두기 시작하였다.

Thấy Cho Seon-dal vừa kiểm lại số tiền kiếm được trong ngày kêu leng keng, Heo Saeng-won cũng bắt đầu tháo tấm bạt rộng khỏi cọc và thu dọn hàng hóa bày biện nãy giờ.

11. 무명 필과 주단 바리가 두 고리짝에 꼭 찼다.

Những sấp vải thô và lụa là xếp đầy khít trong hai chiếc hòm mây.

12. 멍석 위에는 천조각이 어수선하게 남았다.

Trên tấm chiếu cói chỉ còn lại mấy mảnh vải vụn vương vãi lộn xộn.

13. 다른 축들도 벌써 거의 전들을 걷고 있었다.

Những kẻ khác cũng đã gần như dọn dẹp xong sạp hàng của mình.

14. 약바르게 떠나는 패도 있었다.

Có nhóm khách thương nhanh chân đã bắt đầu khởi hành.

15. 어물장수도, 땜장이도, 엿장수도, 생강장수도, 꼴들이 보이지 않았다.

Từ gã bán cá khô, thợ hàn nồi đến người bán kẹo kéo, bán gừng, chẳng còn thấy bóng dáng một ai.

16. 내일은 진부와 대화에 장이 선다.

Ngày mai, phiên chợ sẽ họp ở Jin-bu và Dae-hwa.

17. 축들은 그 어느쪽으로든지 밤을 새며 육칠십리 밤길을 타박거리지 않으면 안 된다.

Đám người buôn chuyến ấy, dù đi ngả nào cũng phải cuốc bộ suốt đêm trên quãng đường sáu, bảy mươi dặm đầy mệt mỏi.

18. 장판은 잔치 뒤마당같이 어수선하게 벌어지고, 술집에서는 싸움이 터져 있었다.

Bãi chợ lộn xộn như cái sân sau của một đám tiệc, và từ phía quán rượu, một cuộc ẩu đả đã nổ ra.

19. 주정꾼 욕지거리에 섞여 계집의 앙칼진 목소리가 찢어졌다.

Tiếng chửi bới của mấy gã say rượu lẫn trong tiếng gào thét lanh lảnh của người đàn bà nghe xé cả tai.

20. 장날 저녁은 정해놓고 계집의 고함 소리로 시작되는 것이다.

Những buổi chiều tối ngày phiên chợ thường luôn bắt đầu bằng tiếng la hét của đàn bà như một lẽ đương nhiên.

21. “생원, 시침을 떼두 다 아네.…… 충줏집 말야.”

“Này Saeng-won, đừng có giả tảng nữa, tôi biết tỏng rồi… Chuyện bà chủ quán Chung-ju ấy.”

22. 계집 목소리로 문득 생각난 듯이 조선달은 비죽이 웃는다.

Nghe tiếng đàn bà, Cho Seon-dal như chợt nhớ ra điều gì liền nở nụ cười đầy ẩn ý.

23. “화중지병이지. 연소패들을 적수로 하구야 대거리가 돼야 말이지.”

“Chỉ là hoa trong gương thôi. Phải đối đầu với đám trai trẻ thì làm sao mà địch lại cho được.”

24. “그렇지두 않을걸. 축들이 사족을 못쓰는 것두 사실은 사실이나, 아무리 그렇다군 해두 왜 그 동이 말일세. 감쪽같이 충줏집을 후린 눈치거든.”

“Cũng chẳng hẳn vậy đâu. Việc đám đàn ông mê mệt bả là thật, nhưng dù thế nào đi nữa, cái cậu Dong-i ấy mà… Nghe đâu cậu ta đã bí mật hớp hồn được bà chủ quán Chung-ju rồi.”

25. “무어, 그 애숭이가? 물건 가지구 낚았나부지. 착실한 녀석인 줄 알았더니.”

“Cái gì, thằng nhóc ranh đó á? Chắc là dùng hàng hóa để mồi chài rồi. Cứ tưởng nó là đứa tử tế cơ đấy.”

26. “그 길만은 알 수 있나.……궁리 말구 가보세나그려. 내 한 턱 씀세.”

“Chuyện đó thì ai mà biết được… Đừng nghĩ ngợi nữa, đi xem sao. Tôi sẽ bao ông một chầu.”

27. 그다지 마음이 당기지 않는 것을 쫓아갔다.

Dù không mấy hứng thú nhưng Heo Saeng-won vẫn đi theo.

28. 허생원은 계집과는 연분이 멀었다.

Heo Saeng-won vốn chẳng có duyên với đàn bà.

29. 얽음뱅이 상판을 쳐들고 대어설 숫기도 없었으나, 계집 편에서 정을 보낸 적도 없었고, 쓸쓸하고 뒤틀린 반생이었다.

Gương mặt rỗ chằng rỗ chịt khiến ông chẳng đủ tự tin để ngẩng đầu đối diện, mà cũng chưa từng có người phụ nữ nào trao tình cảm cho ông, quả là một nửa đời người cô độc và trắc trở.

30. 충줏집을 생각만 하여도 철없이 얼굴이 붉어지고 발 밑이 떨리고 그 자리에 소스라쳐버린다.

Chỉ cần nghĩ đến bà chủ quán Chung-ju là ông lại đỏ mặt như một đứa trẻ, chân tay run rẩy và chết lặng tại chỗ.

31. 충줏집 문을 들어서 술좌석에서 짜장 동이를 만났을 때에는 어찌된 서슬엔지 발끈 화가 나버렸다.

Thế nhưng khi bước chân vào quán và thực sự chạm mặt Dong-i nơi bàn rượu, chẳng hiểu sao cơn giận trong ông lại bùng lên dữ dội.

32. 상 위에 붉은 얼굴을 쳐들고 제법 계집과 농탕치는 것을 보고서야 견딜 수 없었던 것이다.

Thấy cậu ta ngẩng khuôn mặt đỏ gay bên bàn rượu, thản nhiên lả lơi trêu ghẹo người đàn bà, ông không tài nào chịu đựng nổi.

33. 녀석이 제법 난질꾼인데, 꼴사납다.

Thằng ranh này hóa ra cũng là hạng lẳng lơ, thật chướng tai gai mắt.

34. 머리에 피도 안 마른 녀석이 낮부터 술 처먹고 계집과 농탕이야.

Cái loại miệng còn hôi sữa mà đã nốc rượu từ ban trưa rồi lăng nhăng với đàn bà.

35. 장돌뱅이 망신만 시키고 돌아다니누나.

Thật làm nhục mặt cánh bán hàng rong này quá đi mất.

36. 그 꼴에 우리들과 한몫 보자는 셈이지.

Cái hạng ấy mà cũng muốn đứng chung hàng ngũ với bọn ta sao.

37. 동이 앞에 막아서면서부터 책망이었다.

Vừa đứng chắn trước mặt Dong-i, ông đã buông lời khiển trách ngay lập tức.

38. 걱정두 팔자요 하는 듯이 빤히 쳐다보는 상기된 눈망울에 부딪힐 때, 얼결김에 따귀를 하나 갈겨 주지 않고는 배길 수 없었다.

Khi chạm phải ánh mắt đỏ rực đang nhìn chằm chằm như muốn bảo “ông rảnh hơi lo chuyện bao đồng quá đấy”, trong cơn mất bình tĩnh, ông đã không kiềm lòng được mà giáng cho cậu ta một cái tát.

39. 동이도 화를 쓰고 팩하고 일어서기는 하였으나, 허생원은 조금도 동색하는 법 없이 마음먹은대로는 다 지껄였다—

Dong-i cũng đùng đùng nổi giận đứng phắt dậy, nhưng Heo Saeng-won chẳng hề nao núng, trút hết những lời định nói:

40. 어디서 주워먹은 선머슴인지는 모르겠으나 네게도 아비 어미 있겠지?

Ta chẳng biết ngươi là cái loại choai choai nhặt nhạnh từ đâu tới, nhưng ngươi cũng có cha mẹ chứ hả?

41. 그 사나운 꼴 보면 맘 좋겠다.

Họ mà thấy cái bộ dạng thô thiển này thì chắc vui lòng lắm đấy.

42. 장사란 탐탁하게 해야 되지, 계집이 다 무어야.

Làm nghề buôn bán thì phải cho ra hồn, đàn bà con gái là cái gì hả?

43. 나가거라, 냉큼 꼴 치워.

Cút ngay, khuất mắt ta mau!

44. 그러나 한마디도 대거리하지 않고 하염없이 나가는 꼴을 보려니, 도리어 측은히 여겨졌다.

Thế nhưng nhìn dáng vẻ cậu ta không thèm cãi lại một lời mà cứ thế lẳng lặng bước đi, trong lòng ông bỗng trào lên sự thương cảm.

45. 아직두 서름서름한 사인데 너무 과하지 않았을까 하고 마음이 섬뾵해졌다.

Mối quan hệ đôi bên vốn vẫn còn xa lạ, ông bỗng thấy lạnh cả người khi nghĩ rằng mình đã có phần quá đáng.

46. 주제도 넘지, 같은 술손님이면서도 아무리 젊다고 자식 낳게 된 것을 붙들고 치고 닦아셀 것은 무어야 원.

Thật là quá quắt, cùng là khách rượu với nhau, dù người ta có trẻ tuổi đến mấy thì việc gì phải lôi một đứa đáng tuổi con cháu ra mà đánh đập, mắng nhiếc cơ chứ.

47. 충줏집은 입술을 쭝긋하고 술 붓는 솜씨도 거칠었으나, 젊은 애들한테는 그것이 약이 된다고 하고 그 자리는 조선달이 얼버무려 넘겼다.

Bà chủ quán Chung-ju bĩu môi, đôi tay rót rượu cũng trở nên thô bạo, nhưng Cho Seon-dal đã khéo léo dàn xếp qua chuyện bằng cách nói rằng đối với bọn trẻ thì những lời đó chính là phương thuốc quý.

48. 너 녀석한테 반했지?

Bà phải lòng thằng nhóc đó rồi chứ gì?

49. 애숭이를 빨면 죄된다.

Cưng nựng cái thằng ranh con ấy là có tội đấy.

50. 한참 법석을 친 후이다.

Đó là sau khi một hồi náo loạn vừa dứt.

51. 담도 생긴데다가 웬일인지 흠뻑 취해보고 싶은 생각도 있어서 허생원은 주는 술잔이면 거의 다 들이켰다.

Sẵn có chút can đảm lại thêm lòng bỗng muốn say một trận cho ra trò, Heo Saeng-won dốc cạn hầu hết những chén rượu được mời.

52. 거나해짐을 따라 계집 생각보다도 동이의 뒷일이 한결같이 궁금해졌다.

Khi hơi men đã thấm, thay vì nghĩ đến người đàn bà, ông lại chỉ một mực lo lắng không biết chuyện sau đó của Dong-i ra sao.

53. 내 꼴에 계집을 가로채서는 어떡헐 작정 이었누 하고, 어리석은 꼬락서니를 모질게 책망하는 마음도 한편에 있었다.

Trong lòng ông thầm tự trách mình một cách cay nghiệt vì cái bộ dạng ngớ ngẩn ấy: “Thân mình thế này mà còn định tranh giành đàn bà với ai, định tính làm gì không biết.”

54. 그렇기 때문에 얼마나 지난 뒤인지 동이가 헐레벌떡거리며 황급히 부르러 왔을 때에는, 마시던 잔을 그자리에 던지고 정신없이 허덕이며 충줏집을 뛰어나간 것이었다.

Chính vì thế, chẳng biết bao lâu sau, khi Dong-i hớt hải chạy đến gọi gấp, ông đã quẳng luôn chén rượu đang uống dở, cuống cuồng chạy ra khỏi quán Chung-ju.

55. “생원 당나귀가 바를 끊구 야단이에요.”

“Saeng-won! Con lừa của ông bị đứt dây buộc, đang lồng lộn lên kìa!”

56. “각다귀들 장난이지 필연코.”

“Chắc chắn lại là trò nghịch ngợm của lũ trẻ ranh rồi.”

57. 짐승도 짐승이려니와 동이의 마음씨가 가슴을 울렸다.

Con vật là một chuyện, nhưng tấm lòng của Dong-i mới thực sự làm ông rung động.

58. 뒤를 따라 장판을 달음질하려니 거슴츠레한 눈이 뜨거워질 것 같다.

Chạy theo sau cậu ta giữa bãi chợ, đôi mắt kèm nhèm của ông bỗng trở nên nóng hổi.

59. “부락스런 녀석들이라 어쩌는 수 있어야죠..”

“Lũ trẻ đó hung hăng quá, chẳng biết làm thế nào được…”

60. “나귀를 몹시 구는 녀석들은 그냥 두지는 않을걸.”

“Những đứa dám hành hạ con lừa, ta nhất định sẽ không để yên đâu.”

61. 반평생을 같이 지내온 짐승이었다.

Đó là con vật đã gắn bó với ông suốt nửa đời người.

62. 같은 주막에서 잠자고 같은 달빛에 젖으면서 장에서 장으로 걸어다니는 동안에 이십년의 세월이 사람과 짐승을 함께 늙게 하였다.

Cùng ngủ chung một quán trọ, cùng đẫm mình dưới một ánh trăng, rong đuổi từ phiên chợ này sang phiên chợ khác, hai mươi năm trời đã khiến con người và con vật cùng già đi bên nhau.

63. 까스러진 목뒤 털은 주인의 머리털과도 같이 바스러지고, 개진개진 젖은 눈은 주인의 눈과 같이 눈꼽을 흘렸다.

Lớp lông sau gáy xơ xác cũng khô gãy như mái tóc của người chủ, đôi mắt ướt nhòe nhoẹt cũng chảy ghèn y hệt mắt ông.

64. 몽당비처럼 짧게 슬리운 꼬리는 파리를 쫓으려고 기껏 휘저어 보아야 벌써 다리까지는 닿지 않았다.

Cái đuôi ngắn ngủn mòn vẹt như cán chổi, dù có cố sức quẫy để đuổi ruồi thì cũng chẳng còn chạm tới được đến chân.

65. 닳아 없어진 굽을 몇번이나 도려내고 새 철을 신겼는지 모른다.

Chẳng biết ông đã bao nhiêu lần gọt bỏ phần móng mòn vẹt để đóng lại bộ móng sắt mới.

66. 굽은 벌써 더 자라나기는 틀렸고 닳아버린 철 사이로는 피가 빼짓이 흘렀다.

Phần móng đã chẳng thể mọc thêm được nữa, và giữa những khe sắt mòn vẹt, những giọt máu rỉ ra khe khẽ.

67. 냄새만 맡고도 주인을 분간하였다.

Chỉ cần ngửi mùi, nó đã nhận ra chủ nhân.

68. 호소하는 목소리로 야단스럽게 울며 반겨한다.

Nó kêu lên ầm ĩ bằng giọng như đang than vãn để đón chào ông.

69. 어린아이를 달래듯이 목덜미를 어루만져 주니 나귀는 코를 벌름거리고 입을 투르르거렸다.

Khi ông vuốt ve gáy nó như dỗ dành một đứa trẻ, con lừa phập phồng cánh mũi và khịt mũi “phì phì”.

70. 콧물이 튀었다.

Nước mũi bắn cả ra ngoài.

71. 허생원은 짐승 때문에 속도 무던히는 썩였다.

Heo Saeng-won cũng đã khổ tâm rất nhiều vì con vật này.

72. 아이들의 장난이 심한 눈치여서, 땀밴 몸뚱어리가 부들부들 떨리고 좀체 흥분이 식지 않는 모양이었다.

Có vẻ lũ trẻ đã trêu chọc quá trớn khiến thân hình đẫm mồ hôi của nó vẫn run lẩy bẩy, mãi không nguôi được cơn kích động.

73. 굴레가 벗어지고 안장도 떨어졌다.

Dây cương bị tuột, yên xe cũng rơi ra.

74. 요 몹쓸 자식들, 하고 허생원은 호령을 하였으나, 패들은 벌써 줄행랑을 논 뒤요 몇 남지 않은 아이들이 호령에 놀래 비슬비슬 멀어졌다.

“Lũ khốn kiếp này!”, Heo Saeng-won quát lớn, nhưng đám nghịch ngợm đã cao chạy xa bay, chỉ còn vài đứa trẻ sót lại giật mình trước tiếng quát rồi lủi dần ra xa.

75. “우리들 장난이 아니우. 암놈을 보고 저 혼자 발광이지.”

“Không phải chúng cháu nghịch đâu. Nó nhìn thấy con lừa cái nên tự mình phát điên lên đấy chứ.”

76. 코흘리개 한녀석이 멀리서 소리를 쳤다.

Một đứa nhóc mũi thò lò đứng từ xa hét vọng lại.

77. “고녀석 말투가……”

“Cái thằng nhóc này, ăn nói kiểu gì thế…”

78. “김첨지 당나귀가 가버리니까 온통 흙을 차고 거품을 흘리면서 미친 소같이 날뛰는걸. 꼴이 우스워 우리는 보고만 있었다우. 배를 좀 보지.”

“Khi con lừa của ông thợ Kim đi khỏi, nó cứ đá tung bụi đất, sùi cả bọt mép rồi lồng lộn lên như con bò điên ấy. Thấy buồn cười nên chúng cháu chỉ đứng xem thôi. Nhìn cái bụng nó mà xem.”

79. 아이는 앙돌아진 투로 소리를 치며 깔깔 웃었다.

Đứa trẻ hét lên bằng giọng bướng bỉnh rồi cười nắc nẻ.

80. 허생원은 모르는 결에 낯이 뜨거워졌다.

Heo Saeng-won bỗng thấy mặt nóng bừng lên lúc nào không hay.

81. 뭇 시선을 막으려고 그는 짐승의 배 앞을 가리워 서지 않으면 안 되었다.

Để ngăn những ánh mắt tò mò, ông buộc phải đứng che trước bụng con vật.

82. “늙은 주제에 암샘을 내는 셈야. 저놈의 짐승이.”

“Già bằng nấy tuổi đầu rồi mà còn ham hố cái giống cái. Cái đồ thú vật này.”

83. 아이의 웃음소리에 허생원은 주춤하면서 기어이 견딜 수 없어 채찍을 들더니 아이를 쫓았다.

Trước tiếng cười của đứa trẻ, Heo Saeng-won khựng lại, rồi không nhịn được nữa, ông cầm roi đuổi theo nó.

84. “쫓으려거든 쫓아보지. 왼손잡이가 사람을 때려.”

“Đuổi được thì đuổi đi! Đồ thuận tay trái lại đi đánh người kìa!”

85. 줄달음에 달아나는 각다귀에는 당하는 재주가 없었다.

Ông chẳng thể nào bì kịp những bước chân thoăn thoắt của đứa trẻ ranh đang tháo chạy.

86. 왼손잡이는 아이 하나도 후릴 수 없다.

Kẻ thuận tay trái ngay đến một đứa trẻ cũng chẳng đánh trúng nổi.

87. 그만 채찍을 던졌다.

Ông đành buông rơi cây roi.

88. 술기도 돌아 몸이 유난스럽게 화끈거렸다.

Hơi rượu bốc lên khiến cơ thể ông nóng ran một cách lạ thường.

89. “그만 떠나세. 녀석들과 어울리다가는 한이 없어. 장판의 각다귀들이란 어른보다도 더 무서운 것들인걸.”

“Thôi đi thôi. Cứ dây dưa với bọn chúng thì chẳng bao giờ dứt được. Lũ trẻ ranh ở bãi chợ này còn đáng sợ hơn cả người lớn.”

90. 조선달과 동이는 각각 제 나귀에 안장을 얹고 짐을 싣기 시작하였다.

Cho Seon-dal và Dong-i mỗi người bắt đầu đặt yên lên lừa của mình và chất hàng hóa lên.

91. 해가 꽤 많이 기울어진 모양이었다.

Mặt trời dường như đã lặn xuống khá thấp.

92. 드팀전 장돌이을 시작한 지 이십년이나 되어도 허생원은 봉평장을 빼논 적은 드물었다.

Dù đã trải qua hai mươi năm làm nghề bán vải rong, Heo Saeng-won hiếm khi nào bỏ lỡ phiên chợ Bong-pyeong.

93. 충주 제천 등의 이웃 군에도 가고, 멀리 영남 지방도 헤매기는 하였으나 강릉쯤에 물건 하러 가는 외에는 처음부터 끝까지 군내를 돌아다녔다.

Ông cũng từng đến các huyện lân cận như Chung-ju, Je-cheon, thậm chí lặn lội tới tận vùng Yeong-nam xa xôi, nhưng ngoài những lúc đi lấy hàng tận Gang-neung, ông vẫn chỉ quanh quẩn buôn bán trong huyện từ đầu chí cuối.

94. 닷새만큼씩의 장날에는 달보다도 확실하게 면에서 면으로 건너간다.

Cứ mỗi năm ngày một phiên chợ, ông lại băng từ tổng này sang tổng khác, còn đều đặn và chắc chắn hơn cả sự tuần hoàn của mặt trăng.

95. 고향이 청주라고 자랑삼아 말하였으나 고향에 돌보러 간 일도 있는 것 같지는 않았다.

Dẫu thường tự hào khoe quê quán ở Chung-ju, nhưng xem ra ông cũng chẳng mấy khi về thăm lại quê nhà.

96. 장에서 장으로 가는 길의 아름다운 강산이 그대로 그에게는 그리운 고향이었다.

Cảnh sắc núi sông tươi đẹp trên những cung đường từ phiên chợ này sang phiên chợ khác vốn dĩ đã trở thành quê hương yêu dấu đối với ông.

97. 반날 동안이나 뚜벅뚜벅 걷고 장터 있는 마을에 거의 가까왔을 때, 거친 나귀가 한바탕 우렁차게 울면–더구나 그것이 저녁녘이어서 등불들이 어둠 속에 깜박거릴 무렵이면 늘 당하는 것이건만 허생원은 변치 않고 언제든지 가슴이 뛰놀았다.

Sau nửa ngày ròng rã cuốc bộ, khi đã đến gần ngôi làng nơi họp chợ, tiếng con lừa già bỗng cất lên vang dội—nhất là vào lúc hoàng hôn khi những ánh đèn bắt đầu leo lét trong màn đêm, dẫu là cảnh tượng quen thuộc bao năm qua nhưng tim Heo Saeng-won vẫn không khỏi xao động.

98. 젊은시절에는 알뜰하게 벌어 돈푼이나 모아본 적도 있기는 있었으나, 읍내에 백중이 열린 해 호탕스럽게 놀고 투전을 하고 하여 사흘 동안에 다 털어버렸다.

Thời trẻ ông cũng từng chắt bóp dành dụm được ít tiền, nhưng vào năm có lễ hội Baek-jung ở trong trấn, ông đã chơi bời phóng túng và lao vào bài bạc đến mức trắng tay chỉ sau ba ngày.

99. 나귀까지 팔게 된 판이었으나 애끓는 정분에 그것만은 이를 물고 단념하였다.

Đã đến nước phải bán cả con lừa, nhưng vì tình thâm nghĩa nặng, ông đành nghiến răng quyết giữ nó lại bằng được.

100. 결국 도로아미타불로 장돌이를 다시 시작할 수밖에 없었다.

Cuối cùng mọi công sức đổ sông đổ biển, ông chẳng còn cách nào khác là quay lại kiếp bán hàng rong.

101. 짐승을 데리고 읍내를 도망해 나왔을 때에는 너를 팔지 않기 다행이었다고 길가에서 울면서 짐승의 등을 어루만졌던 것이었다.

Khi dắt con vật trốn chạy khỏi thị trấn, ông đã vừa khóc vừa vuốt ve lưng nó bên vệ đường, tự nhủ rằng thật may mắn khi đã không bán đi người bạn này.

102. 빚을 지기 시작하니 재산을 모을 염은 당초에 틀리고 간신히 입에 풀칠을 하러 장에서 장으로 돌아다니게 되었다.

Từ khi nợ nần chồng chất, ý định tích cóp tài sản coi như tan thành mây khói, ông cứ thế phiêu bạt từ chợ này sang chợ khác chỉ để kiếm miếng ăn qua ngày.

103. 호탕스럽게 놀았다고는 하여도 계집 하나 후려보지는 못하였다.

Dẫu nói là từng chơi bời phóng túng, nhưng ông cũng chưa từng chiếm được trái tim của người đàn bà nào.

104. 계집이란 쌀쌀하고 매정한 것이었다. 평생 인연이 없는 것이라고 신세가 서글퍼졌다.

Đàn bà với ông thật lạnh lùng và vô tình. Ông cảm thấy xót xa cho số phận mình, một đời không có lấy một mối nhân duyên.

105. 일신에 가까운 것이라고는 언제나 변함없는 한 필의 당나귀였다.

Thứ duy nhất luôn kề cận bên thân mình chẳng ai khác ngoài con lừa trung thành này.

106. 그렇다고는 하여도 꼭 한번의 첫일을 잊을 수는 없었다.

Dù vậy, ông chẳng thể nào quên được cái “lần đầu tiên” ấy.

107. 뒤에도 처음에도 없는 단 한번의 괴이한 인연!

Một mối nhân duyên kỳ lạ duy nhất, chẳng bao giờ lặp lại lần thứ hai trong đời!

108. 봉평에 다니기 시작한 젊은 시절의 일이었으나 그것을 생각할 적만은 그도 산 보람을 느꼈다.

Đó là chuyện từ thời trẻ khi ông mới bắt đầu lui tới Bong-pyeong, nhưng mỗi khi nhớ lại, ông mới cảm thấy cuộc đời mình còn chút ý nghĩa để sống.

109. “달밤이었으나 어떻게 해서 그렇게 됐는지 지금 생각해두 도무지 알 수 없어.”

“Cũng vào một đêm trăng, nhưng chẳng hiểu sao chuyện lại thành ra thế, đến giờ nghĩ lại tôi vẫn không tài nào giải thích nổi.”

110. 허생원은 오늘밤도 또 그 이야기를 끄집어내려는 것이다.

Đêm nay, Heo Saeng-won lại định khơi lại câu chuyện cũ ấy.

111. 조선달은 친구가 된 이래 귀에 못이 박히도록 들어 왔다.

Cho Seon-dal kể từ khi kết bạn đã nghe câu chuyện này đến mòn cả tai.

112. 그렇다고 싫증을 낼 수도 없었으나 허생원은 시치미를 떼고 되풀이할대로는 되풀이하고야 말았다.

Dẫu vậy ông cũng chẳng nỡ tỏ vẻ chán chường, còn Heo Saeng-won thì cứ tảng lờ đi mà lặp đi lặp lại câu chuyện theo ý mình.

113. “달밤에는 그런 이야기가 격에 맞거든,”

“Vào đêm trăng thế này, kể chuyện đó mới thật đúng điệu.”

114. 조선달 편을 바라는 보았으나 물론 미안해서가 아니라 달빛에 감동하여서였다.

Ông liếc nhìn về phía Cho Seon-dal, dĩ nhiên không phải vì thấy có lỗi, mà bởi trái tim đang xao xuyến trước ánh trăng.

115. 이지러는 졌으나 보름을 갓 지난 달은 부드러운 빛을 흐뭇이 흘리고 있다.

Trăng đã bắt đầu khuyết nhưng vì vừa mới qua rằm nên vẫn đang tỏa xuống những dòng ánh sáng dịu nhẹ, tràn trề.

116. 대화까지는 팔십리의 밤길, 고개를 둘이나 넘고 개울을 하나 건너고 벌판과 산길을 걸어야 된다.

Đường đến Dae-hwa dài tám mươi dặm đêm, phải vượt qua hai con đèo, lội qua một dòng suối và băng qua cả cánh đồng lẫn đường núi.

117. 길은 지금 긴 산허리에 걸려 있다.

Con đường giờ đây đang vắt ngang qua sườn núi dài.

118. 밤중을 지난 무렵인지 죽은듯이 고요한 속에서 짐승 같은 달의 숨소리가 손에 잡힐 듯이 들리며, 콩포기와 옥수수 잎새가 한층 달에 푸르게 젖었다.

Đã quá nửa đêm, trong không gian tĩnh mịch như tờ, tiếng thở của ánh trăng tựa như một loài linh thú vang lên rõ mồn một ngay sát bên tai, và những khóm đậu, lá ngô càng thêm xanh mướt dưới làn sương trăng.

119. 산허리는 온통 메밀밭이어서 피기 시작한 꽃이 소금을 뿌린 듯이 흐뭇한 달빛에 숨이 막힐 지경이다.

Khắp sườn núi toàn là những cánh đồng me-mil, hoa bắt đầu nở trắng xóa như ai đó rắc muối lên, đẹp đến nghẹt thở dưới ánh trăng rạng rỡ.

120. 붉은 대궁이 향기같이 애잔하고 나귀들의 걸음도 시원하다.

Những thân cây màu đỏ nhạt trông thê lương như một làn hương, và bước chân của lũ lừa cũng trở nên nhẹ nhàng, khoan khoái.

121. 길이 좁은 까닭에 세 사람은 나귀를 타고 외줄로 늘어섰다.

Vì đường hẹp nên ba người cưỡi lừa nối đuôi nhau thành một hàng dọc.

122. 방울소리가 시원스럽게 딸랑딸랑 메밀밭게로 흘러간다.

Tiếng chuông lừa vang lên “tùng tùng, leng keng” một cách thanh thoát, trôi về phía cánh đồng hoa me-mil.

123. 앞장 선 허생원의 이야기소리는 꽁무니에 선 동이에게는 확적히는 안 들렸으나, 그는 그대로 개운한 제멋에 적적하지는 않았다.

Tiếng kể chuyện của Heo Saeng-won đi đầu dẫu không lọt rõ vào tai Dong-i đi cuối hàng, nhưng cậu vẫn cảm thấy khoan khoái trong thế giới riêng của mình mà không hề thấy cô độc.

124. “장선 꼭 이런 날 밤이었네. 객줏집 토방이란 무더워서 잠이 들어야지. 밤중은 돼서 혼자 일어나 개울가에 목욕하러 나갔지. 봉평은 지금이나 그제나 마찬가지지, 보이는 곳마다 메밀밭이어서 개울가가 어디없이 하얀 꽃이야. 돌밭에 벗어도 좋을 것을, 달이 너무나 밝은 까닭에 옷을 벗으러 물방앗간으로 들어가지 않았나. 이상한 일도 많지. 거기서 난데없는 성서방네 처녀와 마주쳤단 말이네. 봉평서야 제일가는 일색이었지—팔자에 있었나부지.”

“Đó cũng là một đêm sau phiên chợ y hệt như thế này. Ở trong gian phòng đất của quán trọ nóng nực quá chẳng tài nào chợp mắt nổi. Đến nửa đêm, tôi một mình thức dậy ra bờ suối để tắm cho mát. Bong-pyeong bây giờ hay ngày xưa cũng thế thôi, nơi nào mắt nhìn tới cũng thấy cánh đồng me-mil, dọc bờ suối chỗ nào cũng trắng xóa màu hoa. Lẽ ra cứ cởi đồ ngay bãi đá là được rồi, nhưng vì trăng sáng quá nên tôi lại lẩn vào cái nhà xay lúa bằng sức nước để thay đồ. Thật là kỳ lạ thay. Chính ở đó, tôi đã chạm trán với cô con gái nhà lão Seong, người mà chẳng ai ngờ tới. Cô ấy vốn là đệ nhất mỹ nhân ở vùng Bong-pyeong này đấy—chắc là do số phận sắp đặt cả thôi.”

125. 아무렴, 하고 응답하면서 말머리를 아끼는 듯이 한참이나 담배를 빨 뿐이었다.

“Dĩ nhiên rồi,” ông đáp lại, rồi dường như muốn giữ lại dư vị câu chuyện, ông im lặng rít một hơi thuốc thật dài.

126. 구수한 자줏빛 연기가 밤기운 속에 흘러서는 녹았다.

Làn khói thuốc màu tím thơm nồng bay vào không trung rồi tan dần trong hơi lạnh của đêm.

127. “날 기다린 것은 아니었으나 그렇다고 달리 기다리는 놈팽이가 있는 것두 아니었네. 처녀는 울고 있단 말야. 짐작은 대고 있으나 성서방네는 한창 어려워서 들고날 판인 때였지. 한집안 일이니 딸에겐들 걱정이 없을 리 있겠나? 좋은 데만 있으면 시집도 보내련만 시집은 죽어도 싫다지……그러나 처녀란 울 때같이 정을 끄는 때가 있을까! 처음에는 놀라기도 한 눈치였으나 걱정 있을 때는 누그러지기도 쉬운 듯해서 이럭저럭 이야기가 되었네……생각하면 무섭고도 기막힌 밤이었어.”

“Cô ấy không phải đứng đợi tôi, nhưng cũng chẳng phải là đang chờ đợi gã nhân tình nào khác đâu. Cô ấy đang khóc. Tôi cũng đoán được phần nào, nhà lão Seong khi ấy đang lúc túng quẫn đến mức sắp phải bỏ xứ mà đi. Chuyện gia đình lâm vào đường cùng như thế, phận làm con gái sao tránh khỏi ưu phiền? Gia đình bảo nếu có nơi tử tế thì sẽ gả đi, nhưng cô ấy thà chết chứ không chịu lấy chồng… Thế nhưng, chẳng lẽ trên đời này còn lúc nào người con gái trông đáng tình hơn là lúc họ khóc hay sao! Ban đầu cô ấy cũng có vẻ hốt hoảng, nhưng có lẽ khi lòng đang mang nặng ưu phiền thì người ta cũng dễ mủi lòng hơn, cứ thế mà chúng tôi chuyện trò với nhau… Nghĩ lại, đó quả là một đêm vừa hãi hùng vừa tuyệt diệu.”

128. “제천인지로 줄행랑을 놓은 건 그 다음 날이렷지.”

“Có phải ngay ngày hôm sau là họ đã tháo chạy đi Je-cheon rồi không?”

129. “다음 장도막에는 벌써 온 집안이 사라진 뒤였네. 장판은 소문에 발끈 뒤집혀 오죽해야 술집에 팔려가기가 상수라고 처녀의 뒷공론이 자자들 하단 말이야. 제천 장판을 몇 번이나 뒤졌겠나. 허나 처녀의 꼴은 꿩궈먹은 자리야. 첫날밤이 마지막 밤이었지. 그 때부터 봉평이 마음에 든 것이 반평생을 두고 다니게 되었네. 반평생인들 잊을 수 있겠나.”

“Đến phiên chợ sau thì cả nhà họ đã biến mất không tăm tích. Cả bãi chợ xôn xao bàn tán, người ta còn kháo nhau rằng chắc cô nàng đã bị bán vào lầu xanh rồi. Chẳng biết tôi đã lùng sục khắp các phiên chợ ở Je-cheon bao nhiêu lần nữa. Thế nhưng bóng dáng cô ấy đã hoàn toàn bặt vô âm tín. Đêm đầu tiên ấy cũng chính là đêm cuối cùng. Kể từ đó, vì nặng lòng với vùng Bong-pyeong này mà tôi đã đi đi về về suốt nửa đời người. Đã nửa đời người rồi, làm sao mà quên cho được.”

130. “수 좋았지. 그렇게 신통한 일이란 쉽지 않어. 항용 못난것 얻어 새끼 낳고 걱정 늘고, 생각만 해두 진저리가 나지……그러나 늙으막바지까지 장돌뱅이로 지내기도 힘드는 노릇 아닌가. 난 가을까지만 하구 이 생계와두 하직하려네. 대화쯤에 조그만 전방이나 하나 벌이구 식구들을 부르겠어. 사시장천 뚜벅뚜벅 걷기란 여간이래야지.”

“Ông đúng là có phúc. Chuyện kỳ diệu như thế chẳng dễ gì gặp được đâu. Chứ như thường tình, lấy phải mụ vợ kém cỏi rồi đẻ con đẻ cái, lo toan chất chồng, chỉ nghĩ đến thôi cũng đủ rùng mình rồi… Thế nhưng, cứ sống kiếp bán hàng rong cho đến lúc già khụ thế này cũng chẳng phải chuyện dễ dàng gì. Tôi tính chỉ làm nốt đến mùa thu này rồi bỏ nghề thôi.

Kiếm cái cửa hàng nhỏ ở Dae-hwa rồi đón gia đình về. Chứ quanh năm suốt tháng cứ cuốc bộ thế này thì thật quá sức.”

131. “옛 처녀나 만나면 같이나 살까……난 거꾸러질 때까지 이 길 걷고 저 달 볼 테야.”

“Nếu gặp lại người con gái năm xưa thì họa chăng mới sống chung được… Còn không, tôi sẽ cứ bước tiếp trên con đường này và ngắm vầng trăng kia cho đến khi ngã xuống thì thôi.”

132. 산길을 벗어나니 큰 길로 틔어졌다. 꽁무니의 동이도 앞으로 나서 나귀들은 가로 늘어섰다.

Vừa ra khỏi đường núi thì con đường lớn mở ra trước mắt. Dong-i vốn đi cuối hàng cũng vượt lên phía trước, ba con lừa đi dàn hàng ngang.

133. “총각두 젊겠다, 지금이 한창시절이렷다. 충줏집에서는 그만 실수를 해서 그 꼴이 되었으나 설게 생각 말게.”

“Cậu vẫn còn trẻ, đang độ sung sức nhất. Chuyện ở quán Chung-ju vừa rồi là do ta lỡ lời nên mới ra nông nỗi đó, mong cậu đừng để bụng.”

134. “처 천만에요. 되려 부끄러워요. 계집이란 지금 웬 제격인가요. 자나 깨나 어머니 생각뿐인데요.”

“Ôi, không có gì đâu ạ. Cháu còn thấy xấu hổ nữa là. Giờ này cháu còn tâm trí đâu mà nghĩ đến đàn bà con gái. Lúc nào cháu cũng chỉ nghĩ về mẹ thôi.”

135. 허생원의 이야기로 실심해 한 끝이라 동이의 어조는 한풀 수그러진 것이었다.

Có lẽ vì xúc động sau khi nghe câu chuyện của Heo Saeng-won nên giọng điệu của Dong-i đã dịu đi rất nhiều.

136. “아비 어미란 말에 가슴이 터지는 것도 같았으나 제겐 아버지가 없어요. 피붙이라고는 어머니 하나뿐인걸요.”

“Lúc nãy nghe ông nhắc đến cha mẹ, tim cháu như thắt lại, nhưng cháu không có cha. Trên đời này cháu chỉ có mẹ là người thân duy nhất thôi.”

137. “돌아가셨나?”

“Ông cụ mất rồi sao?”

138. “당초부터 없어요.”

“Ngay từ đầu đã không có rồi ạ.”

139. “그런 법이 세상에……”

“Trên đời lại có chuyện như thế sao…”

140. 생원과 선달이 야단스럽게 껄껄들 웃으니 동이는 정색하고 우길 수밖에는 없었다.

Khi Saeng-won và Seon-dal cười phá lên đầy vẻ hoài nghi, Dong-i chỉ còn biết nghiêm mặt khẳng định chắc nịch.

141. “부끄러워서 말하지 않으려 했으나 정말예요. 제천 촌에서 달도 차지 않은 아이를 낳고 어머니는 집을 쫓겨났죠. 우스운 이야기나, 그러기 때문에 지금까지 아버지 얼굴도 본 적 없고 있는 고장도 모르고 지내 와요.”

“Vì xấu hổ nên cháu không định nói ra, nhưng đó là sự thật. Mẹ cháu sinh con khi chưa đủ tháng ở một ngôi làng tại Je-cheon rồi bị đuổi khỏi nhà. Nghe thì có vẻ buồn cười, nhưng chính vì thế mà cho đến tận bây giờ cháu vẫn chưa một lần biết mặt cha, cũng chẳng biết ông ấy đang ở phương trời nào.”

142. 고개가 앞에 놓인 까닭에 세 사람은 나귀를 내렸다.

Vì trước mặt là một con đèo nên cả ba người đều xuống lừa.

143. 둔덕은 험하고 입을 벌리기도 대근하여 이야기는 한동안 끊겼다. 나귀는 건듯하면 미끄러졌다.

Dốc đèo hiểm trở, việc mở lời cũng thấy nhọc nhằn nên câu chuyện bỗng đứt quãng một hồi. Những con lừa cứ hễ sơ sẩy là lại trượt chân.

144. 허생원은 숨이 차 몇 번이고 다리를 쉬지 않으면 안 되었다.

Heo Saeng-won hụt hơi, cứ đi được một đoạn lại phải dừng lại nghỉ chân.

145. 고개를 넘을 때마다 나이가 알렸다.

Mỗi lần vượt đèo, ông lại càng cảm nhận rõ gánh nặng của tuổi tác.

146. 동이 같은 젊은축이 끝이없이 부러웠다.

Ông thấy ghen tị không sao tả xiết với những người trẻ tuổi như Dong-i.

147. 땀이 등을 한바탕 쭉 씻어내렸다.

Mồ hôi chảy ròng ròng ướt đẫm cả lưng.

148. 고개 너머는 바로 개울이었다.

Vừa qua khỏi con đèo là một dòng suối.

149. 장마에 흘겨버린 널다리가 아직도 걸리지 않은 채로 있는 까닭에 벗고 건너야 되었다.

Vì cây cầu ván đã bị lũ cuốn trôi vẫn chưa được bắc lại nên họ buộc phải cởi đồ để lội qua.

150. 고의를 벗어 띠로 등에 얽어매고 반 벌거숭이의 우스꽝스런 꼴로 물 속에 뛰어들었다.

Họ cởi quần dài ra, dùng thắt lưng buộc chặt lên lưng rồi nhảy xuống nước trong bộ dạng bán khỏa thân trông thật nực cười.

151. 금방 땀을 흘린 뒤였으나 밤 물은 뼈를 찔렀다.

Dù vừa mới vã mồ hôi xong nhưng dòng nước đêm lạnh thấu xương như đâm vào tận tủy.

152. “그래 대체 기르긴 누가 기르구?”

“Thế rồi rốt cuộc ai là người nuôi nấng cậu?”

153. “어머니는 하는 수 없이 의부를 얻어가서 술장사를 시작했죠. 술이 고주래서 의부라고 전 망나니예요. 철 들어서부터 맞기 시작한 것이 하룬들 편한 날 있었을까? 어머니는 말리다가 채이고 맞고 칼부림을 당하고 하니 집 꼴이 무어겠소. 열여덟 살 때 집을 뛰쳐나서부터 이짓이죠.”

“Mẹ cháu không còn cách nào khác đành đi bước nữa với một người cha dượng rồi bắt đầu nghề bán rượu. Lão ta là một tên nát rượu, tính khí chẳng khác gì phường đồ tể. Từ lúc biết nhận thức đến nay, chẳng có ngày nào cháu không bị ăn đòn. Mẹ cháu vào can ngăn thì bị đá, bị đánh, thậm chí bị lão dọa cả dao đâm, ngôi nhà khi ấy còn ra thể thống gì nữa. Năm mười tám tuổi, cháu bỏ nhà đi và làm cái nghề này từ đó.”

154. “총각 낫세론 동이 무던하다고 생각했더니 듣고 보니 딱한 신세로군.”

“Ta cứ ngỡ tuổi của cậu thì vẫn còn vô tư lắm, nghe xong mới thấy số phận thật đáng thương.”

155. 물은 깊어 허리까지 찼다.

Nước suối dâng cao đến tận thắt lưng.

156. 속 물살도 어지간히 센데다가 발에 채이는 돌멩이도 미끄러워 금시에 훌칠 듯하였다.

Dòng nước ngầm chảy khá xiết, lại thêm những viên đá dưới chân trơn trượt khiến người ta có cảm giác như sắp bị cuốn phăng đi bất cứ lúc nào.

157. 나귀와 조선달은 재빨리 거의 건넜으나 동이는 허생원을 붙드느라고 두 사람은 훨씬 떨어졌다.

Lũ lừa và Cho Seon-dal đã nhanh chóng sang gần đến bờ bên kia, nhưng Dong-i phải dìu Heo Saeng-won nên hai người tụt lại phía sau khá xa.

158. “모친의 친정은 원래부터 제천이었던가?”

“Thế quê ngoại của mẹ cậu vốn dĩ ở Je-cheon à?”

159. “웬걸요. 시원스리 말은 안해주나 봉평이라는 것만은 들었죠.”

“Đâu có ạ. Bà không nói rõ ràng nhưng cháu có nghe phong thanh là ở vùng Bong-pyeong này.”

160. “봉평? 그래 그 아비 성은 무엇이구?”

“Bong-pyeong? Thế còn họ của cha cậu là gì?”

161. “알 수 있나요. 도무지 듣지를 못했으니까.”

“Làm sao cháu biết được. Cháu chưa bao giờ được nghe nhắc tới cả.”

162. “그 그렇겠지.” 하고 중얼거리며 흐려지는 눈을 까물까물하다가 허생원은 경망하게도 발을 빗디뎠다.

“Ừ… chắc là vậy rồi.” Heo Saeng-won lẩm bẩm, đôi mắt nhòe đi vì xúc động cứ chớp liên hồi, rồi trong một phút lơ đãng, ông đã bước hụt chân.

163. 앞으로 꼬꾸라지기가 바쁘게 몸째 풍덩 빠져버렸다.

Ngay lập tức ông ngã nhào và cả thân hình chìm nghỉm xuống nước.

164. 허위적거릴수록 몸을 걷잡을 수 없어 동이가 소리를 치며 가까이 왔을 때에는 벌써 퍽으나 흘렀었다.

Càng vùng vẫy ông càng không thể giữ được thăng bằng, đến khi Dong-i hét lên và chạy lại gần thì ông đã bị dòng nước cuốn đi một đoạn khá xa.

165. 옷째 쫄딱 젖으니 물에 젖은 개보다도 참혹한 꼴이었다.

Quần áo ướt sũng từ đầu đến chân, trông ông còn thảm hại hơn cả một chú chó bị rơi xuống nước.

166. 동이는 물속에서 어른을 해깝게 업을 수 있었다.

Dưới lòng suối, Dong-i có thể cõng người lớn trên lưng một cách nhẹ nhàng.

167. 젖었다고는 하여도 여윈 몸이라 장정 등에는 오히려 가벼웠다.

Dẫu là đang ướt nước, nhưng tấm thân gầy gò ấy trên lưng một gã trai tráng lại nhẹ bẫng.

168. “이렇게까지 해서 안됐네. 내 오늘은 정신이 빠진 모양이야.”

“Làm phiền cậu thế này thật quá ngại. Chắc là hôm nay ta bị mất hồn mất vía rồi.”

169. “염려하실 것 없어요.”

“Ông đừng bận tâm ạ.”

170. “그래 모친은 아비를 찾지는 않는 눈치지?”

“Vậy mẹ cậu có vẻ như không đi tìm cha cậu sao?”

171. “늘 한 번 만나고 싶다고는 하는데요.”

“Mẹ cháu luôn nói rằng muốn được gặp ông ấy một lần.”

172. “지금 어디 계신가?”

“Giờ bà đang ở đâu?”

173. “의부와도 갈라져서 제천에 있죠. 가을에는 봉평에 모셔오려고 생각 중인데요. 이를 물고 벌면 이럭저럭 살아갈 수 있겠죠.”

“Mẹ đã chia tay cha dượng và đang ở Je-cheon ạ. Cháu đang tính đến mùa thu sẽ đón mẹ về Bong-pyeong. Chỉ cần nghiến răng làm lụng thì chắc cũng đủ để hai mẹ con nương tựa vào nhau.”

174. “아무렴, 기특한 생각이야. 가을이랬다?”

“Dĩ nhiên rồi, thật là một ý nghĩ hiếu thảo. Cậu bảo là mùa thu sao?”

175. 동이의 탐탁한 등어리가 뼈에 사무쳐 따뜻하다.

Tấm lưng vững chãi của Dong-i tỏa ra hơi ấm thấm tận vào xương tủy ông.

176. 물을 다 건넜을 때에는 도리어 서글픈 생각에 좀 더 업혔으면도 하였다.

Đến khi đã lội qua hết dòng suối, ông bỗng thấy bồi hồi, thầm ước sao mình có thể được cõng thêm chút nữa.

177. “진종일 실수만 하니 웬일이요? 생원.”

“Cả ngày hôm nay sao ông cứ lóng ngóng mắc lỗi thế hả, Saeng-won?”

178. 조선달은 바라보며 기어코 웃음이 터졌다.

Cho Seon-dal nhìn ông rồi cuối cùng cũng phá lên cười.

179. “나귀야, 나귀 생각 하다 실족을 했어. 말 안했던가? 저 꼴에 제법 새끼를 얻었단 말이지. 읍내 강릉집 피마에게 말일세. 귀를 쫑긋 세우고 달랑달랑 뛰는 것이 나귀새끼같이 귀여운 것이 있을까? 그것 보러 나는 일부러 읍내를 도는 때가 있다네.”

“Tại con lừa đấy, ta cứ mải nghĩ về nó nên mới sẩy chân. Ta đã kể chưa nhỉ? Cái bộ dạng ấy của nó mà thế mà cũng có con rồi đấy. Với con lừa cái của nhà Gang-neung trong trấn

ấy. Đôi tai thì dựng đứng, cứ chạy nhảy tung tăng, trên đời này liệu có gì đáng yêu như lừa con không cơ chứ? Có những khi ta cố tình tạt qua trấn cũng chỉ để ngắm nó thôi đấy.”

180. “사람을 물에 빠치울 젠 딴은 대단한 나귀새끼군!”

“Khiến người ta phải rơi xuống nước thì đúng là một con lừa con gớm ghiếc thật đấy!”

181. 허생원은 젖은 옷을 웬만큼 짜서 입었다.

Heo Saeng-won vắt bớt nước ở bộ quần áo ướt rồi mặc lại vào người.

182. 이가 덜덜 갈리고 가슴이 떨리며 몹시도 추웠으나 마음은 알 수 없이 둥실둥실 가벼웠다.

Dẫu răng đánh vào nhau lập cập, lồng ngực run rẩy vì cái lạnh thấu xương, nhưng lòng ông lại thấy nhẹ tênh như đang lững lờ trôi.

183. “주막까지 부지런히들 가세나. 뜰에 불을 피우고 훗훗이 쉬어. 나귀에겐 더운 물울 끓여주고, 내일 대화장 보고는 제천이다.”

“Thôi mau chân về quán trọ thôi. Đốt một đống lửa giữa sân rồi nghỉ ngơi cho ấm người. Nấu thêm ít nước nóng cho lừa uống nữa, rồi ngày mai sau khi xong phiên chợ Dae-hwa, chúng ta sẽ đi Je-cheon.”

184. “생원도 제천으로……?”

“Saeng-won, ông cũng định đi Je-cheon sao…?”

185. “오래간만에 가보고 싶어. 동행하려나, 동이?”

“Đã lâu rồi ta muốn ghé thăm nơi đó. Cậu đi cùng ta chứ, Dong-i?”

186. 나귀가 걷기 시작하였을 때 동이의 채찍은 왼손에 있었다.

Khi con lừa bắt đầu bước đi, cây roi của Dong-i đang cầm ở tay bên trái.

187. 오랫동안 아둑신이같이 눈이 어둡던 허생원도 요번만은 동이의 왼손잡이가 눈에 띄지 않을 수 없었다.

Heo Saeng-won, người bấy lâu nay mắt mũi lờ đờ như kẻ mù lòa, thì lần này không thể không nhận ra chi tiết Dong-i cũng thuận tay trái.

188. 걸음도 해깝고 방울소리가 밤 벌판에 한층 청청하게 울렸다.

Bước chân ông trở nên nhẹ nhõm, và tiếng chuông lừa vang vọng giữa cánh đồng đêm nghe càng thêm trong trẻo.

189. 달이 어지간히 기울어졌다.

Vầng trăng đã ngả xuống khá nhiều.

 

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo