Sách viết của nhà sư Pháp Luân

Phần 04. 때로는 방황해도 괜찮아

Đôi khi, đi lạc cũng không sao cả.

미래에 대한 확실한 꿈을 세웠다고 해도 때로는 내가 선택한 길에 대해 ‘내가 과연 옳은 길을 가고 있나?’하는 의심이 들 때가 있습니다.

Dù bạn đã đặt ra một ước mơ rõ ràng cho tương lai, đôi khi bạn vẫn sẽ nghi ngờ con đường mình đã chọn, liệu ‘mình có đang đi đúng đường không?’.

“주위 친구들도 그렇고 저도 그렇지만 사범대생들은 임용 고시 합격이 인생의 정답이고 성공이라고 생각합니다. 그런데 시험 준비를 하다 보니 문득 의문이 생겨서 고민 스럽습니다.”

“Bạn bè xung quanh tôi và cả tôi nữa, sinh viên sư phạm đều nghĩ rằng việc đỗ kỳ thi tuyển giáo viên là đáp án và thành công của cuộc đời. Nhưng trong quá trình ôn thi, tôi bỗng nảy sinh nghi vấn và thấy băn khoăn.”

“무슨 고민 이지요?”

“Bạn băn khoăn điều gì?”

“제가 저 자신도 모르는데 선생님이 되어 아이들을 가르치기에는 좀 부족하지 않나 걱정 스러워요. 그래서 시험 공부를 그만두고 나 자신을 알아가는 그런 공부를 시작 하자고 마음 먹었습니다. 교사는 어떤 모습이어야하는지, 또 어떤 교사가 되어야 하는지요?”

“Tôi lo lắng rằng bản thân mình còn chưa hiểu rõ mình, liệu có đủ năng lực để trở thành giáo viên và dạy dỗ lũ trẻ hay không. Vì vậy, tôi đã quyết định dừng việc ôn thi lại và bắt đầu tìm hiểu về bản thân mình. Một giáo viên nên như thế nào, và tôi nên trở thành một giáo viên như thế nào?”

신문이나 방송을 통해 보도 되듯 우리나라 출생률이 현격히 줄고 있습니다.

Như báo chí và truyền hình đã đưa tin, tỷ lệ sinh ở nước ta đang giảm rõ rệt.

세계 최저 수준이라고 걱정할 정도니까요.

Đến mức phải lo lắng vì nó ở mức thấp nhất thế giới.

출생률이 줄다 보니 학생들의 숫자도 해마다 줄어들고 있습니다.

Vì tỷ lệ sinh giảm nên số lượng học sinh cũng giảm dần theo từng năm.

이렇게 학생 수가 점점 줄어 드니 앞으로는 교육 대학이나 사범대학을 졸업해도 선생님 으로 발령받는 일이 점점 더 어려워 질 겁니다.

Khi số lượng học sinh cứ giảm dần như thế này, trong tương lai, ngay cả khi tốt nghiệp các trường cao đẳng sư phạm hay đại học sư phạm, việc được bổ nhiệm làm giáo viên cũng sẽ ngày càng khó khăn hơn.

옛날에는 사범 대학 만 졸업하면 당연하게 선생님으로 일할 수 있었지만 지금은 그럴 수 없어요.

Ngày xưa, chỉ cần tốt nghiệp đại học sư phạm là đương nhiên có thể đi làm giáo viên, nhưng bây giờ thì không thể nữa.

앞으로는 더 좁아지겠죠.

Về sau chắc chắn sẽ càng khó hơn.

그렇다면 결과가 이렇게 내다보이는데 그런 좁은 틈의 미래를 위해 목 매달 필요가 있을까요?

Nếu vậy, khi kết quả đã được dự báo như thế này, liệu có cần phải bám víu vào một tương lai hẹp hòi như vậy không?

높은 경쟁률을 뚫고 사범 대학에 입학 해 힘들게 공부하면서 선생님을하고자 했으니까 한 번 혹은 두 번은 임용 시험에 도전 해보는 겁니다.

Vì bạn đã vượt qua tỷ lệ cạnh tranh cao để vào đại học sư phạm và học hành vất vả với mong muốn trở thành giáo viên, nên hãy thử thách bản thân một hoặc hai lần với kỳ thi tuyển giáo viên.

꿈이고 목표 였으니까 1 ~ 2 년 그 꿈을 이루고자 매진 할 가치는 충분히 있겠죠.

Vì đó là ước mơ và mục tiêu của bạn, nên việc dốc sức theo đuổi ước mơ đó trong 1~2 năm hoàn toàn đáng giá.

하지만 알다시피 전국적으로 임용 시험 경쟁률이 엄청나게 높으니 한두 번 만에 합격하기가 쉽지 않을 겁니다.

Tuy nhiên, như bạn đã biết, tỷ lệ cạnh tranh trong kỳ thi tuyển giáo viên trên toàn quốc rất cao, nên việc đỗ chỉ sau một hoặc hai lần không phải là điều dễ dàng.

그럴 때 5 년, 10 년씩 임용 시험에 매달려서 교사 자격증을 딸 가치는 없습니다.

Khi đó, việc bám víu vào kỳ thi tuyển giáo viên 5 năm, 10 năm để lấy chứng chỉ giáo viên là không đáng giá.

그게 아니라도 인생에서 우리가 할 일은 무궁무진하게 많습니다.

Ngay cả khi không phải vậy, trong cuộc đời này, chúng ta còn vô vàn điều để làm.

딱 한 번만 도전 해보고 안되면 깨끗하게 포기하는 것이 가장 좋다고 말하고 싶습니다.

Tôi muốn nói rằng, tốt nhất là chỉ thử một lần, nếu không được thì từ bỏ một cách dứt khoát.

하지만 사람의 마음으로 한 번만으로는 아쉬움이 남으니까 한 번 더 도전 해보는 것도 나쁘지 않습니다.

Tuy nhiên, vì lòng người sẽ tiếc nuối nếu chỉ thử một lần, nên việc thử thách thêm một lần nữa cũng không tệ.

그러나 그 이상은 도전 할 가치도 필요도 없습니다.

Nhưng hơn thế nữa, không có giá trị hay sự cần thiết nào để thử thách.

임용 시험뿐 아니라 공무원 시험이든 사법 고시 나 행정 고시 든 모든 취업 용 자격 시험은 본질적으로 마찬가지입니다.

Không chỉ kỳ thi tuyển giáo viên, mà tất cả các kỳ thi chứng chỉ tuyển dụng như kỳ thi công chức, kỳ thi tư pháp hay kỳ thi hành chính về bản chất đều tương tự.

그런 시험 제도는 모두 비슷한 속성을 지니고 있습니다.

Những hệ thống thi cử đó đều có những thuộc tính tương tự.

시험을 통해 그 직업 군에 필요한 재능이 얼마나 있는지를 상대 평가로 뽑는 것이죠.

Thông qua kỳ thi, họ sẽ chọn ra những người có tài năng cần thiết cho nhóm ngành nghề đó bằng cách đánh giá tương đối.

시험에 합격 하는 재능은 인간을 평가하는 잣대가 될 수 없습니다.

Năng lực đậu kỳ thi không thể trở thành thước đo để đánh giá con người.

시험에 도전 한 첫해에 합격했다면 잘된 이야기 고 더 이상 고민은 필요 없겠죠.

Nếu bạn đã đỗ ngay trong năm đầu tiên thử sức với kỳ thi, thì đó là một câu chuyện hay và không cần phải lo lắng gì thêm nữa.

첫해에 합격하지 못했다면 이듬해를 생각해 봅시다.

Nếu bạn không đỗ trong năm đầu tiên, hãy nghĩ đến năm sau.

시험에서 합격으로 빠져 나간 경쟁자들보다 이듬해에는 더 많은 숫자의 응시자가 채워지 겠지요.

Trong năm sau, số lượng thí sinh tham dự sẽ nhiều hơn so với những đối thủ đã đỗ và rời khỏi kỳ thi.

사범 대학이나 교육 대학은 졸업생 숫자가 일정하니까 해마다 시험에 응시하는 숫자는 그만큼 늘어나 겠죠.

Vì số lượng sinh viên tốt nghiệp các trường sư phạm và cao đẳng giáo dục là cố định, nên số lượng người đăng ký thi mỗi năm sẽ tăng lên tương ứng.

그러니까 산술적으로 계산하면 해마다 경쟁률이 점점 늘어나게됩니다.

Vì vậy, nếu tính toán theo số học, tỷ lệ cạnh tranh sẽ tăng dần theo từng năm.

합격자의 숫자보다는 응시하는 사람의 숫자가 더 많고, 또 기존의 응시자에 졸업으로 새롭게 추가 된 인원이 있으니까요.

Bởi vì số lượng người đăng ký thi nhiều hơn số lượng người đậu, và còn có thêm số lượng sinh viên mới tốt nghiệp tham gia vào số lượng thí sinh hiện có.

단순하게 생각하면 첫해에 합격하지 못하면 이듬해에 합격 할 확률은 오히려 첫해보다 더 줄어 듭니다.

Nếu nghĩ đơn giản, nếu không đỗ trong năm đầu tiên, thì khả năng đỗ vào năm sau thậm chí còn giảm hơn so với năm đầu.

똑같은 공부를 2년 반복 했으니 합격 할 확률이 더 높아지는 것 아니냐고 생각하는 사람도 있겠지요.

Cũng sẽ có người nghĩ rằng việc lặp lại cùng một môn học trong 2 năm sẽ làm tăng khả năng đỗ.

하지만 그렇지 않습니다.

Nhưng không phải vậy.

두 번째 응시할 할 때는 합격 할 확률이 더 떨어지고,세 번째는해가 갈수록 합격 할 확률보다는 떨어질 확률이 높아집니다.

Khi bạn thi lần thứ hai, khả năng đỗ sẽ giảm đi, và đến lần thứ ba, khả năng trượt sẽ cao hơn khả năng đỗ khi năm tháng trôi qua.

세 번째 응시 이후에 합격 할 가능성은 거의 없다고 봐야합니다.

Sau lần thi thứ ba, khả năng đỗ gần như là không có.

물론 절대적인 것은 아니고 그 속에서도 합격하는 사람은 나오 겠지만 말입니다.

Tất nhiên, điều này không phải tuyệt đối, và vẫn sẽ có người đỗ trong số đó.

어 려운 확률에서 합격하는 사람은 더욱 특별하게 집중해서 공부했기 때문에 그런 결과를 만들어 낸 겁니다.

Những người đỗ trong tỷ lệ khó khăn như vậy là do họ đã tập trung học tập một cách đặc biệt, và đó là lý do tạo nên kết quả đó.

한두 번 도전해서 실패했으면 다른 직업이나 다른 길에 도전 해 보세요.

Nếu đã thử sức một hoặc hai lần mà thất bại, hãy thử thách bản thân với một nghề nghiệp hoặc con đường khác.

세상에는 선생님만큼 좋은 직업이 얼마든지 있으니 스물 몇 살 나 이에 시험에 떨어 졌다고 절망 할 게 아니라 새로운 도전을 바로 시작하라는 겁니다.

Trên đời này có vô số những nghề nghiệp tốt như giáo viên, vì vậy đừng tuyệt vọng chỉ vì trượt kỳ thi ở tuổi đôi mươi, mà hãy bắt đầu một thử thách mới ngay lập tức.

비록 시험에는 떨어 졌어도 꼭 선생님이되고 싶다는 사람도있을 겁니다.

Dù có trượt kỳ thi, cũng sẽ có người vẫn muốn trở thành giáo viên.

선생님을 직업이 아니라 어릴 때부터 꿈과 목표로 삼아 살아온 사람에게는 또 다른 제안을 하고 싶습니다.

Đối với những người đã sống với ước mơ và mục tiêu trở thành giáo viên từ nhỏ, không phải chỉ coi đó là một nghề nghiệp, tôi muốn đưa ra một đề xuất khác.

인도나 필리핀 등의 나라에 가면 학교가 굉장히 많습니다.

Ở các nước như Ấn Độ hay Philippines, có rất nhiều trường học.

우리보다 시설이나 환경은 열악하지만 배우려는 학생들의 열정이나 자세는 훨씬 뜨겁습니다.

Cơ sở vật chất và môi trường tuy kém hơn chúng ta, nhưng nhiệt huyết và thái độ học tập của học sinh thì nóng bỏng hơn nhiều.

선생님이라는 직업으로 얻는 월급 봉투를 생각하지 않는다면 인도 나 필리핀 같은 나라에서 선생님으로 자원 봉사를하면됩니다.

Nếu không nghĩ đến túi tiền lương từ nghề giáo viên, bạn có thể làm tình nguyện viên giáo viên ở các nước như Ấn Độ hay Philippines.

그곳에는 복잡한 교육 환경과 빡빡한 입시 제도가 없어서 선생님이 가르치고 싶은 내용을 아이들에게 마음껏 가르치며 펼칠 수 있습니다.

Ở đó, không có môi trường giáo dục phức tạp và hệ thống thi cử căng thẳng, nên giáo viên có thể thoải mái dạy và truyền đạt những gì mình muốn cho trẻ em.

정부 나 교육 기관에서 간섭하는 것도없고 학부형이 찾아와 이러쿵 저러쿵 참견하는 일도 없습니다.

Không có sự can thiệp từ chính phủ hay các tổ chức giáo dục, cũng không có phụ huynh nào đến can thiệp đủ điều.

정해진 규율에 따라 정해진 교과목을 시간에 맞춰 가르치는 것이 아니라 교사로서의 사명감으로 스스로 교과 과정을 세워 거기에 맞춰 아이들을 가르치면됩니다.

Không phải dạy các môn học cố định theo quy định và đúng giờ, mà bạn có thể tự xây dựng giáo trình với tinh thần trách nhiệm của một giáo viên và dạy trẻ em theo đó.

또 하나 대안 학교도 생각해볼 수 있습니다.

Một lựa chọn khác là trường học thay thế (alternative school).

우리나라 대안 학교는 설립 조건도 까다 롭고 학교 운영 비용도 제약이 있지요.

Ở Hàn Quốc, các trường học thay thế có điều kiện thành lập khá khắt khe và chi phí vận hành cũng bị giới hạn.

내가 학교를 세우는 게 아니라면 다른 사람이 설립 한 대안 학교에서는 당연히 제 약을받습니다.

Nếu tôi không phải là người thành lập trường, thì đương nhiên tôi sẽ phải chấp nhận những hạn chế ở các trường học thay thế do người khác thành lập.

그런데 인도 나 필리핀에서는 대안 학교를 세우는 일이 어렵지 않습니다.

Nhưng ở Ấn Độ hay Philippines, việc thành lập trường học thay thế không khó.

정부 기관에서 비용을주지 않을 뿐이지 학교를이 세우는 데 허락을 받으라고는하지 않습니다.

Các cơ quan chính phủ chỉ không cấp kinh phí, chứ không yêu cầu phải xin phép để thành lập trường học.

2 ~ 3 년 동안 봉사하면서 ‘선생님’으로서 평소 꿈꿔 왔던 다양한 수업을 아이들과 함께 시도해볼 수 있습니다.

Trong 2~3 năm làm tình nguyện, bạn có thể cùng trẻ em thử nghiệm nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau mà bạn hằng mơ ước với tư cách là một ‘giáo viên’.

그렇게 한번 원없이 가르치고 나면 한국으로 돌아와도 선생님에 대한 미련이 많이 남지 않을 겁니다.

Sau khi đã thỏa sức giảng dạy như vậy, dù có trở về Hàn Quốc, bạn cũng sẽ không còn nhiều vương vấn với nghề giáo viên nữa.

기회는 얼마든지 있습니다. 내가 찾고 만들고 도전하면됩니다.

Cơ hội thì vô vàn. Bạn chỉ cần tìm kiếm, tạo ra và thử thách.

젊다는 이유 하나만으로도 뭐든지 도전 할 기회가 있습니다.

Chỉ riêng việc còn trẻ đã là một cơ hội để bạn thử sức với bất cứ điều gì.

연구하고 도전하고 그에 대한 결과를 만들어 간다는 것은 성공 여부와 상관없이 그 자체만으로도 행복한 일입니다.

Việc nghiên cứu, thử thách và tạo ra kết quả từ đó, dù có thành công hay không, bản thân nó đã là một điều hạnh phúc.

이런 쉬운 일을 실천하지 못하는 이유는 ‘돈’때문일 것입니다.

Lý do không thể thực hiện những việc dễ dàng này có lẽ là vì ‘tiền bạc’.

의사든 선생님이든 예술가든 제 꿈을 실현하는 데 방해 요소는 결국 돈입니다.

Dù là bác sĩ, giáo viên hay nghệ sĩ, yếu tố cản trở việc thực hiện ước mơ của tôi cuối cùng vẫn là tiền bạc.

그런데 돈이 목적이라면 꼭 선생님을 하지 않아도 다른 일로 얼마든지 벌 수 있어요.

Nhưng nếu mục đích là tiền bạc, thì không nhất thiết phải làm giáo viên, bạn có thể kiếm tiền bằng nhiều công việc khác.

한 가지 예를 들자면 우리와 가까운 중국을 한 번 생각 해보세요.

Ví dụ, hãy thử nghĩ về Trung Quốc, một quốc gia gần gũi với chúng ta.

지금까지는 중국이 우리에게 값싼 농산물을 대거 수출하고 있습니다.

Cho đến nay, Trung Quốc vẫn xuất khẩu ồ ạt nông sản giá rẻ sang nước ta.

그래서 우리 나라 농업이 망한다고 하지요.

Vì vậy, người ta nói rằng nông nghiệp của nước ta đang suy tàn.

그러나 정반대일 수도 있습니다.

Tuy nhiên, điều ngược lại cũng có thể xảy ra.

중국의 10 퍼센트 상류층에 관한 이야기를 많이 들어서 알고 있을 겁니다.

Chắc hẳn bạn đã nghe nhiều câu chuyện về 10% tầng lớp thượng lưu của Trung Quốc.

중국의 10 퍼센트 고소득층이 대한 민국 인구보다 더 많다는 이야기를 자주 하잖아요.

Người ta thường nói rằng 10% người có thu nhập cao ở Trung Quốc còn đông hơn cả dân số Hàn Quốc.

해마다 중국에서 크게 사회 문제화되는 것이 바로 식품 안전성 문제예요.

Vấn đề lớn thường trở thành vấn đề xã hội ở Trung Quốc mỗi năm chính là vấn đề an toàn thực phẩm.

가짜 달걀, 오염된 분유, 기생충 오염 채소 등이 문제가 되어 우리나라 언론에도 보도됩니다.

Trứng giả, sữa bột bị ô nhiễm, rau củ nhiễm ký sinh trùng… đều là những vấn đề được báo chí nước ta đưa tin.

이렇게 믿을 수 없는 먹을 거리에 대한 대안으로 중국 고소 득층을 겨냥해 안전한 식품을 수출한다면 어떨까요?

Vậy thì, như một giải pháp thay thế cho những thực phẩm không đáng tin cậy này, nếu chúng ta xuất khẩu thực phẩm an toàn nhắm vào tầng lớp thu nhập cao ở Trung Quốc thì sao?

전망이있을 것 같지 않습니까?

Bạn không thấy có triển vọng sao?

이렇게 지금 현재가 아니라 앞으로 10 년 뒤, 20 년 뒤에 어떤 상황이 펼쳐질지 연구하고 행동하는 자세가 필요합니다.

Vì vậy, cần có thái độ nghiên cứu và hành động để biết được tình hình sẽ diễn biến ra sao không phải trong hiện tại, mà là 10 năm, 20 năm sau.

지금 현재 의사 나 한의사가 좋은 직업이라고 의대나 한의대에 대거 지원하고, 변호사가 돈을 많이 번다니까 수년 동안 고시원에서 이를 악물고 고시에 만 매달리는 사람들이 너무나 많습니다.

Hiện tại, có quá nhiều người đổ xô vào các trường y, đông y vì cho rằng bác sĩ hay thầy thuốc đông y là nghề tốt, hay cắn răng bám trụ ở các trung tâm ôn thi hàng năm trời vì nghe nói luật sư kiếm được nhiều tiền.

제가 학생 때는 화공학과가 가장 인기 높은학과였어요.

Khi tôi còn là sinh viên, ngành Kỹ thuật Hóa học là ngành được yêu thích nhất.

하지만 지금은 그렇지 않습니다.

Nhưng bây giờ thì không phải vậy.

그러니까 지금 내가 뭘 하든지 한 10 년정도 열심히 일하고 난 뒤 10 년 후에는 어떤 상황이 펼쳐 질까 늘 생각할 필요가 있습니다.

Vì vậy, dù bạn đang làm gì bây giờ, bạn luôn cần phải nghĩ xem 10 năm sau, sau khi đã làm việc chăm chỉ khoảng 10 năm, tình hình sẽ diễn biến ra sao.

그런 미래를 저절로 기다리지 말고 스스로 생각하면서 만들어야 만합니다.

Không nên chờ đợi tương lai tự đến mà phải tự mình suy nghĩ và tạo ra nó.

기회는 얼마든지 있습니다. 내가 찾고 만들고 도전하면됩니다.

Cơ hội thì vô vàn. Bạn chỉ cần tìm kiếm, tạo ra và thử thách.

젊다는 이유 하나만으로도 뭐든지 도전 할 기회가 있습니다.

Chỉ riêng việc còn trẻ đã là một cơ hội để bạn thử sức với bất cứ điều gì.

연구하고 도전하고 그에 대한 결과를 만들어 간다는 것은 성공 여부와 상관 고없이 그 자체만으로도 행복한 일입니다.

Việc nghiên cứu, thử thách và tạo ra kết quả từ đó, dù có thành công hay không, bản thân nó đã là một điều hạnh phúc.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM –  0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM  – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM  – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM  – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM  –  0776 000 931   
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương  – 0778 748 418 
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

 

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo