TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
BAN BIÊN TẬP TÀI LIỆU
DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN
“탈출기“
HÀNH TRÌNH TRỐN THOÁT
Choe Seo-hae
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Vũ Thị Ngọc Anh – CSTT Kanata Thủ Đức
1. 김군! 수삼차 편지는 반갑게 받았다. Anh Kim! Tôi đã nhận được vài lá thư của anh một cách mừng rỡ.
2. 그러나 한번도 회답치 못하였다. Thế nhưng tôi đã chẳng thể hồi đáp dù chỉ một lần.
3. 물론 군의 충정에는 나도 감사를 드리지만 그 충정을 나는 받을 수 없다. Tất nhiên tôi rất cảm kích trước tấm chân tình của anh, nhưng tôi không thể tiếp nhận tấm chân tình ấy.
4. 박군! 나는 군의 탈가(脫家)를 찬성할 수 없다. Anh Bak! Tôi không thể tán thành việc anh rời bỏ gia đình.
5. 음험한 이역에 늙은 어머니와 어린 처자를 버리고 나선 군의 행동을 나는 찬성할 수 없다. Tôi không thể đồng tình với hành động bỏ lại người mẹ già cùng vợ dại con thơ nơi đất khách quê người hiểm độc của anh.
6. 박군! 돌아가라. 어서 집으로 돌아가라. Anh Bak! Hãy quay về đi. Hãy mau chóng trở về nhà đi.
7. 군의 보모와 처자가 이역 노두에서 방황하는 것을 나는 눈앞에 보는 듯싶다. Tôi như đang nhìn thấy ngay trước mắt cảnh mẹ già và vợ con anh đang lang thang nơi đầu đường xó chợ nơi đất khách.
8. 그네들의 의지할 곳은 오직 군의 품밖에 없다. Nơi nương tựa duy nhất của họ chẳng có gì ngoài vòng tay của anh.
9. 군은 그네들을 구하여야 할 것이다. Anh phải là người cứu vớt họ.
10. 군은 군의 가정에서 동량(棟梁)이다. Anh là rường cột trong gia đình của mình.
11. 동량이 없는 집이 어디 있으랴? Làm gì có ngôi nhà nào tồn tại mà thiếu đi rường cột?
12. 조그마한 고통으로 집을 버리고 나선다는 것이 의지가 굳다는 박군으로서는 너무도 박약한 소위이다. Việc rời bỏ nhà cửa chỉ vì những nỗi khổ nhỏ nhặt là một hành động quá đỗi bạc nhược đối với một người có ý chí kiên định như anh Bak.
13. 군은 XX단에 몸을 던져 X선에 섰다는 말을 일전 황군에게서 듣기는 하였으나 그렇다 하여도 나는 그것을 시인할 수 없다. Dẫu hôm nọ tôi có nghe anh Hwang nói rằng anh đã dấn thân vào tổ chức XX và đứng nơi tuyến đầu X, nhưng dù thế tôi vẫn không thể thừa nhận điều đó.
14. 가족을 못 살리는 힘으로 어찌 사회를 건지랴. Với sức lực đến gia đình còn chẳng nuôi nổi thì sao có thể cứu vãn được xã hội.
15. 박군! 나는 군이 돌아가기를 충정으로 바란다. Anh Bak! Tôi chân thành mong mỏi anh hãy quay về.
16. 군의 가족이 사람들 발 아래서 짓밟히는 것을 생각할 때! 군의 가슴인들 어찌 편하랴― Mỗi khi nghĩ đến cảnh gia đình anh bị giày xéo dưới chân thiên hạ! Liệu lòng anh có thể bình yên sao—
17. 김군! 군은 이러한 말을 편지마다 썼지? Anh Kim! Anh đã viết những lời này trong mọi lá thư đúng không?
18. 나는 군의 뜻을 잘 알았다. Tôi đã hiểu rõ ý nguyện của anh.
19. 사랑하는 나의 가족을 위하여 동정하여주는 군에게 어찌 감사치 않으랴? Làm sao tôi có thể không cảm ơn anh, người đã cảm thông cho gia đình thân yêu của tôi?
20. 정다운 벗의 충고에 나는 늘 울었다. Trước lời khuyên bảo của người bạn tâm giao, tôi đã luôn rơi nước mắt.
21. 그러나 그 충고를 들을 수 없다. Nhưng tôi không thể nghe theo lời khuyên ấy.
22. 듣지 않는 것이 군에게는 고통이 될는지? 분노가 될는지? 나에게 있어서는 행복일는지도 알 수 없는 까닭이다. Bởi lẽ tôi không biết liệu việc không nghe theo sẽ là nỗi đau hay sự phẫn nộ đối với anh? Và liệu đó có phải là hạnh phúc đối với tôi hay không.
23. 김군! 나도 사람이다. 정애(情愛)가 있는 사람이다. Anh Kim! Tôi cũng là con người. Là một con người có tình cảm.
24. 나의 목숨 같은 내 가족이 유린받는 것을 내 어찌 생각지 않으랴? Làm sao tôi có thể không nghĩ đến cảnh gia đình vốn quý như mạng sống của mình bị chà đạp?
25. 나의 고통을 제삼자로서는 만분의 일이라도 느낄 수 없는 것이다. Một người thứ ba thì chẳng thể cảm nhận được dù chỉ một phần vạn nỗi đau của tôi.
26. 나는 이제 나의 탈가한 이유를 군에게 말하고자 한다. Giờ đây, tôi muốn nói cho anh biết lý do tại sao tôi rời bỏ gia đình.
27. 여기에 대하여 동정과 비난은 군의 자유이다. Việc cảm thông hay chỉ trích về điều này là quyền tự do của anh.
28. 나는 다만 이러하다는 것을 군에게 알릴 뿐이다. Tôi chỉ muốn cho anh biết sự tình là như thế này mà thôi.
29. 나는 이것을 군이 아니면 다른 사람에게라도 알리지 않고는 견딜 수 없는 충동을 받는 까닭이다. Bởi tôi đang chịu một sự thôi thúc rằng nếu không phải là anh thì cũng phải cho người khác biết, nếu không tôi không thể chịu đựng nổi.
30. 그러나 나는 단언한다. 군도 사람이어니 나의 말하는 것을 부인치는 못하리라. Nhưng tôi khẳng định rằng, anh cũng là con người nên sẽ không thể phủ nhận những lời tôi nói.
31. 김군! 내가 고향을 떠난 것은 오년 전이다. Anh Kim! Tôi rời bỏ quê hương đã là chuyện của năm năm trước.
32. 이것은 군도 아는 사실이다. Đây là sự thật mà anh cũng biết rõ.
33. 나는 그때에 어머니와 아내를 데리고 떠났다. Khi đó, tôi đã dắt theo mẹ và vợ cùng ra đi.
34. 내가 고향을 떠나 간도로 간 것은 너무도 절박한 생활에 시들은 몸에 새 힘을 얻을까 하여 새 희망을 품고 새 세계를 동경하여 떠난 것도 군이 아는 사실이다. Anh cũng biết rõ sự thật rằng tôi rời quê hương để đến Cát Lâm (Gian Đảo) là vì
muốn tiếp thêm sức mạnh cho thân xác đã héo mòn vì cuộc sống quá đỗi tuyệt vọng, mang theo hy vọng mới và lòng ngưỡng mộ một thế giới mới.
35. <간도는 천부금탕이다. 기름진 땅이 흔하여 어디를 가든지 농사를 지을 수 있고 농사를 지으면 쌀도 흔할 것이다. <Cát Lâm là vùng đất trời ban. Đất đai màu mỡ trù phú nên đi đâu cũng có thể canh tác, và nếu làm nông thì gạo thóc sẽ dư dả.
36. 삼림이 많으니 나무 걱정도 될 것이 없다. Rừng rậm bạt ngàn nên cũng chẳng phải lo lắng chuyện củi đuốc.
37. 농사를 지어서 배불리 먹고 뜨뜻이 지내자. Hãy làm ruộng để được ăn no và sống ấm áp.
38. 그리고 깨끗한 초가나 지어놓고 글도 읽고 무지한 농민들을 가르쳐서 이상촌(理想村)을 건설하리라. Rồi chúng ta sẽ dựng một mái nhà tranh sạch sẽ, cùng đọc sách và dạy dỗ những người nông dân mù chữ để xây dựng một ngôi làng lý tưởng.
39. 이렇게 하면, 간도의 황무지를 개척할 수 있다.> Làm như thế, chúng ta có thể khai khẩn được vùng đất hoang sơ ở Cát Lâm.>
40. 이것이 간도 갈 때의 내 머릿속에 그리었던 이상이었다. Đó chính là lý tưởng mà tôi đã vẽ ra trong đầu khi lên đường đến Cát Lâm.
41. 이때에 나는 얼마나 기뻤으랴! Lúc bấy giờ tôi đã vui sướng biết bao!
42. 두만강을 건너고 오랑캐령을 넘어서 망망한 평야와 산천을 바라볼 때― 청춘의 내 가슴은 이상의 불길에 탔다.
27. 여기에 대하여 동정과 비난은 군의 자유이다. Việc cảm thông hay chỉ trích về điều này là quyền tự do của anh.
28. 나는 다만 이러하다는 것을 군에게 알릴 뿐이다. Tôi chỉ muốn cho anh biết sự tình là như thế này mà thôi.
29. 나는 이것을 군이 아니면 다른 사람에게라도 알리지 않고는 견딜 수 없는 충동을 받는 까닭이다. Bởi tôi đang chịu một sự thôi thúc rằng nếu không phải là anh thì cũng phải cho người khác biết, nếu không tôi không thể chịu đựng nổi.
30. 그러나 나는 단언한다. 군도 사람이어니 나의 말하는 것을 부인치는 못하리라. Nhưng tôi khẳng định rằng, anh cũng là con người nên sẽ không thể phủ nhận những lời tôi nói.
31. 김군! 내가 고향을 떠난 것은 오년 전이다. Anh Kim! Tôi rời bỏ quê hương đã là chuyện của năm năm trước.
32. 이것은 군도 아는 사실이다. Đây là sự thật mà anh cũng biết rõ.
33. 나는 그때에 어머니와 아내를 데리고 떠났다. Khi đó, tôi đã dắt theo mẹ và vợ cùng ra đi.
34. 내가 고향을 떠나 간도로 간 것은 너무도 절박한 생활에 시들은 몸에 새 힘을 얻을까 하여 새 희망을 품고 새 세계를 동경하여 떠난 것도 군이 아는 사실이다. Anh cũng biết rõ sự thật rằng tôi rời quê hương để đến Cát Lâm (Gian Đảo) là vì
muốn tiếp thêm sức mạnh cho thân xác đã héo mòn vì cuộc sống quá đỗi tuyệt vọng, mang theo hy vọng mới và lòng ngưỡng mộ một thế giới mới.
35. <간도는 천부금탕이다. 기름진 땅이 흔하여 어디를 가든지 농사를 지을 수 있고 농사를 지으면 쌀도 흔할 것이다. <Cát Lâm là vùng đất trời ban. Đất đai màu mỡ trù phú nên đi đâu cũng có thể canh tác, và nếu làm nông thì gạo thóc sẽ dư dả.
36. 삼림이 많으니 나무 걱정도 될 것이 없다. Rừng rậm bạt ngàn nên cũng chẳng phải lo lắng chuyện củi đuốc.
37. 농사를 지어서 배불리 먹고 뜨뜻이 지내자. Hãy làm ruộng để được ăn no và sống ấm áp.
38. 그리고 깨끗한 초가나 지어놓고 글도 읽고 무지한 농민들을 가르쳐서 이상촌(理想村)을 건설하리라. Rồi chúng ta sẽ dựng một mái nhà tranh sạch sẽ, cùng đọc sách và dạy dỗ những người nông dân mù chữ để xây dựng một ngôi làng lý tưởng.
39. 이렇게 하면, 간도의 황무지를 개척할 수 있다.> Làm như thế, chúng ta có thể khai khẩn được vùng đất hoang sơ ở Cát Lâm.>
40. 이것이 간도 갈 때의 내 머릿속에 그리었던 이상이었다. Đó chính là lý tưởng mà tôi đã vẽ ra trong đầu khi lên đường đến Cát Lâm.
41. 이때에 나는 얼마나 기뻤으랴! Lúc bấy giờ tôi đã vui sướng biết bao!
42. 두만강을 건너고 오랑캐령을 넘어서 망망한 평야와 산천을 바라볼 때― 청춘의 내 가슴은 이상의 불길에 탔다.Khi băng qua sông Đồ Môn, vượt qua đèo Ô Lăng Khải để ngắm nhìn đồng bằng và núi sông bao la— lồng ngực trẻ tuổi của tôi đã bừng cháy ngọn lửa lý tưởng.
43. 구수한 내 소리와 헌헌한 내 행동에 어머니와 아내도 기뻐하였다. Trước giọng nói hào sảng và hành động hiên ngang của tôi, mẹ và vợ cũng đều vui mừng.
44. 오랑캐령을 올라서니 서북으로 쏠려오는 봄세찬 바람이 어떻게 뺨을 갈기는지, Vừa lên đến đỉnh đèo Ô Lăng Khải, những cơn gió xuân khắc nghiệt lùa về từ hướng Tây Bắc đã tát mạnh vào đôi má tôi.
45. “에그 춥구나! 여기는 아직도 겨울이구나” “Trời ơi lạnh quá! Ở đây vẫn còn là mùa đông con ạ.”
46. 하고 어머니는 수레 위에서 이불을 뒤집어썼다. Mẹ vừa nói vừa trùm kín chăn trên chiếc xe kéo.
47. “무얼요, 이 바람을 많이 마셔야 성공이 올 것입니다.” “Có gì đâu mẹ, phải hít hà thật nhiều luồng gió này thì thành công mới đến chứ ạ.”
48. 나는 가장 씩씩하게 말하였다. Tôi đã nói một cách đầy dũng mãnh như thế.
49. 이처럼 나는 기쁘고 활기로왔다. Tôi đã vui vẻ và tràn đầy sinh lực đến như vậy đấy.
50. 김군! 그러나 나의 이상은 물거품으로 돌아갔다. Anh Kim! Thế nhưng lý tưởng của tôi đã tan thành mây khói.
51. 간도에 들어서서 한 달이 못되어서부터 거칠은 물결은 우리 세 생령(生靈)의 앞에 기탄없이 몰려왔다.
Chưa đầy một tháng sau khi đặt chân đến Cát Lâm, những con sóng dữ dội đã ập đến trước ba sinh linh chúng tôi một cách không kiêng dè.
52. 나는 농사를 지으려고 밭을 구하였다. 빈 땅은 없었다. Tôi đã đi tìm ruộng để canh tác. Nhưng chẳng có mảnh đất nào trống cả.
53. 돈을 주고 사기 전에는 한 평의 땅이나마 손에 넣을 수 없었다. Nếu không bỏ tiền ra mua thì dù chỉ một tấc đất cũng chẳng thể nắm được trong tay.
54. 그렇지 않으면 지나인(支那人)의 밭을 도조나 타조로 얻어야 한다. Nếu không thì phải thuê lại ruộng của người Trung Quốc theo hình thức nộp địa tô bằng tiền hoặc bằng hiện vật.
55. 일년내 중국사람에게서 양식을 꾸어먹고 도조난 타조를 얻는대야 일년 양식 빚도 못될 것이고 또 나 같은 ‘시로도’에게는 밭을 주지 않았다. Dù có vay lương thực của người Trung Quốc quanh năm rồi thuê ruộng nộp tô, thì số thu về chắc cũng chẳng đủ trả nợ lương thực một năm, vả lại họ cũng chẳng giao ruộng cho một kẻ “tay mơ” như tôi.
56. 생소한 산천이요, 생소한 사람들이니, 어디 가 어쩌면 좋을는지? 의논할 사람도 없었다. Núi sông lạ lẫm, con người xa lạ, tôi chẳng biết phải đi đâu hay làm gì cho đúng? Cũng chẳng có ai để bàn bạc.
57. H라는 촌거리에 셋방을 얻어가지고 어름어름하는 새에 보름이 지나고 한 달이 넘었다. Thuê được một căn phòng trọ ở khu phố H, trong lúc loay hoay xoay xở thì nửa tháng rồi một tháng đã trôi qua.
58. 그새에 몇 푼 남았던 돈은 다 불려먹고 밭은 고사하고 일자리도 못 얻었다. Trong thời gian đó, vài đồng bạc lẻ còn sót lại đã tiêu tán sạch, ruộng vườn chẳng thấy đâu mà đến cả việc làm tôi cũng không tìm được.
59. 나는 팔을 걷고 나섰다. 이리저리 돌아다니면서 구들도 고쳐주고 가마도 붙여주었다. Tôi đành xắn tay áo lên mà làm. Tôi đi khắp nơi sửa sang lò sưởi, đắp lại bếp lò.
60. 이리하여 호구하게 되었다. Nhờ vậy mà chúng tôi cũng đủ bữa qua ngày.
61. 이때 H장에서는 나를 ‘온돌장이'(구들 고치는 사람)라고 라고 불렀다. Khi ấy ở chợ H, người ta gọi tôi là “thợ ôn-đôn” (người sửa lò sưởi sàn).
62. 갈아입을 의복이 없는 나는 늘 숯검정이 꺼멓게 묻은 의복을 벗을 새가 없었다. Vì không có quần áo để thay, tôi chẳng mấy khi được cởi bỏ bộ đồ lúc nào cũng lấm lem vết than đen kịt.
63. H장은 좁은 곳이다. 구들 고치는 일도 늘 있지 않았다. Chợ H là một nơi nhỏ bé. Việc sửa lò sưởi cũng không phải lúc nào cũng có sẵn.
64. 그것으로 밥먹기가 어려웠다. Chỉ dựa vào đó thì thật khó để có miếng ăn.
65. 나는 여름 불볕에 삯김도 매고 꼴도 베어 팔았다. Giữa cái nắng hè thiêu đốt, tôi đi làm thuê nhổ cỏ, cắt cỏ mang bán.
66. 그리고 어머니와 아내는 삯방아 찧고 강가에 나가서 부스러진 나뭇개비를 주워서 겨우 연명하였다.
Trong khi đó, mẹ và vợ tôi đi giã gạo thuê và ra bờ sông nhặt nhạnh những cành củi khô vụn để duy trì sự sống một cách lay lắt.
67. 김군! 나는 이때부터 비로소 무서운 인간고(人間苦)를 느꼈다. Anh Kim! Kể từ lúc này, tôi mới thực sự cảm nhận được nỗi khổ đau kinh khủng của kiếp người.
68. 아아, 인생이란 과연 이렇게도 괴로운 것인가, 하는 것을 나는 생각하게 되었다. Chao ôi, tôi bắt đầu suy ngẫm rằng liệu cuộc đời quả thực lại gian truân đến nhường này sao.
69. 나는 나에게 닥치는 풍파 때문에 눈물 흘린 일은 이때까지 없었다. Cho đến tận lúc ấy, tôi chưa từng rơi nước mắt vì những sóng gió ập đến với bản thân mình.
70. 그러나 어머니가 나무를 줍고 젊은 아내가 삯방아를 찧을 때 나의 피는 끓었으며 나의 눈은 눈물에 흐려졌다. Thế nhưng, khi nhìn cảnh mẹ già đi nhặt củi và người vợ trẻ phải giã gạo thuê, máu trong người tôi sôi lên và đôi mắt tôi nhòe đi vì lệ.
71. “에구, 차라리 내가 드러누워 앓고 있지, 네 괴로와하는 꼴은 차마 못 보겠다.” “Trời đất, thà rằng mẹ nằm liệt giường đau ốm, chứ mẹ chẳng đành lòng nhìn thấy con khổ sở thế này.”
72. 이것은 언제 내가 병들어 신음할 때에 어머니가 울면서 하신 말씀이다. Đây là lời mẹ vừa khóc vừa nói khi tôi lâm bệnh nằm rên rỉ dạo nọ.
73. 이것을 무심히 들었던 나는 이때에야 이 말의 참뜻을 느꼈다. Tôi, kẻ từng nghe lời ấy một cách vô tâm, đến tận lúc này mới cảm nhận được ý nghĩa thực sự của nó.
74. “아아, 차라리 나의 고기가 찢어지고 뼈가 부서지는 것은 참을 수 있으나, 내 눈앞에서 사랑하는 늙은 어머니와 아내가 배를 주리고 남의 멸시를 받는 것은 참으로 견디기 어렵구나” “Chao ôi, thà rằng da thịt tôi bị xé nát, xương cốt tôi bị nghiền vụn tôi còn chịu đựng được, chứ nhìn mẹ già và vợ hiền yêu dấu phải nhịn đói và bị người đời khinh miệt ngay trước mắt thế này, tôi thật không tài nào chịu nổi.”
75. 나는 이렇게 여러 번 가슴을 쳤다. Tôi đã đấm ngực mình nhiều lần như thế.
76. 나는 밤이나 낮이나, 비오나 바람이 치나 헤아리지 않고 삯김·삯심부름·삯나무, 무엇이든지 가리지 않았다. Bất kể ngày hay đêm, mưa hay gió, tôi chẳng nề hà bất cứ việc gì từ nhổ cỏ thuê, chạy việc thuê cho đến đốn củi thuê.
77. “오늘도 배고프겠구나, 아침도 변변히 못 먹고……나는 너 배 주리지 않는 것을 보았으면 죽어도 눈을 감겠다.” “Hôm nay chắc con lại đói lắm, bữa sáng cũng chẳng được ăn cho ra hồn… Mẹ chỉ mong được thấy con không phải nhịn đói thì có chết mẹ cũng nhắm mắt xuôi tay.”
78. 내가 삯일을 하다가 늦게 돌아오면 어머니는 우실 듯이 말씀하셨다. Mỗi khi tôi đi làm thuê về muộn, mẹ lại nói với giọng như chực khóc.
79. 그러나 나는 흔연하게, “배가 무슨 배가 고파요.” 하고 대답하였다. Nhưng tôi vẫn tươi tỉnh đáp lại: “Đói gì mà đói hả mẹ.”
80. 내 아내는 늘 별 말이 없었다. Vợ tôi thì lúc nào cũng ít lời.
81. 무슨 일이든지 시키는 대로 다소곳하고 아무 소리 없이 순종하였다. Việc gì cô ấy cũng lẳng lặng làm theo, dịu dàng và vâng lời không một tiếng than vãn.
82. 나는 그것이 더욱 불쌍하게 생각된다. Tôi cảm thấy điều đó càng đáng thương hơn.
83. 나는 어머니보다도 아내 보기가 퍽 부끄러웠다. So với mẹ, tôi cảm thấy vô cùng hổ thẹn khi nhìn vợ mình.
84. ‘경제의 자립도 못되는 내가 왜 장가를 들었누?’ ‘Đến tự chủ kinh tế còn chẳng xong, cớ sao mình lại lấy vợ cơ chứ?’
85. 이것이 부모의 한 일이었지만 나는 이렇게도 탄식하였다. Dẫu đó là việc do cha mẹ sắp đặt, nhưng tôi vẫn không khỏi than vãn như thế.
86. 그럴수록 아내에게 대하여 황공하였고 존경하였다. Càng như vậy, tôi càng cảm thấy có lỗi và lại càng kính trọng vợ mình hơn.
87. 어떻게 하면 살 수 있을까?……이러한 생각은 이때 내 머리를 몹시 때렸다. Phải làm sao để sống tiếp đây?… Ý nghĩ này cứ xoáy sâu vào tâm trí tôi lúc bấy giờ.
88. 이때 나에게 부지런한 자에게 복이 온다, 하는 말이 거짓말로 생각되었다. Lúc đó, đối với tôi, câu nói “phước lành sẽ đến với người siêng năng” chỉ là một lời dối trá.
89. 그 말을 지상의 격언으로 굳게 믿어온 나는 그 말에 도리어 일종의 의심을 품게 되었고 나중은 부인까지 하게 되었다.
Tôi, kẻ từng tin tưởng tuyệt đối vào câu nói ấy như một châm ngôn sống, giờ đây lại nảy sinh một nỗi hoài nghi, và sau cùng là phủ nhận nó hoàn toàn.
90. 부지런하다면 이때 우리처럼 부지런함이 어디 있으며 정직하다면 이때 우리 식구같이 정직함이 어디 있으랴? Nếu nói về siêng năng, thì thời điểm ấy có ai siêng năng hơn chúng tôi, và nếu nói về trung thực, thì có ai trung thực như gia đình tôi?
91. 그러나 빈곤은 날로 심하였다. Thế nhưng cái nghèo cái đói lại cứ ngày một trầm trọng hơn.
92. 이틀 사흘 굶은 적도 한두 번이 아니었다. Chuyện nhịn đói hai ba ngày liền không phải chỉ xảy ra một hai lần.
93. 한번은 이틀이나 굶고 일자리를 찾다가 집으로 들어가보니 부엌 앞에서 아내가 무엇을 먹다가 깜짝 놀란다. Có một lần, sau khi nhịn đói hai ngày trời đi tìm việc làm trở về nhà, tôi thấy vợ đang ăn gì đó trước bếp thì giật mình kinh hãi.
94. (아내는 이때에 아이를 배어서 배가 남산만하였다) (Lúc này vợ tôi đang mang thai, bụng đã to như núi Namsan rồi)
95. 그리고 손에 쥐었던 것을 얼른 아궁이에 집어넣는다. Và cô ấy vội vàng ném thứ đang cầm trong tay vào lò bếp.
96. 이때 불쾌한 감정이 내 가슴에 떠올랐다. Lúc ấy, một cảm xúc khó chịu trào dâng trong lòng tôi.
97. ‘……무얼 먹을까? 어디서 무엇을 얻었을까? 무엇이길래 어머니와 나 몰래 먹누? 아! 여편네란 그런 것이로구나! 아니 그러나 설마……그래도 무엇을 먹던데……’
‘…Cô ta ăn cái gì vậy? Lấy được thứ đó ở đâu? Là cái gì mà phải lén lút ăn sau lưng mẹ và mình? À! Đàn bà con gái hóa ra là hạng người như thế sao! Không, nhưng lẽ nào… Rõ ràng là cô ta đang ăn cái gì đó mà…’
98. 나는 이렇게 아내를 의심도 하고 원망도 하고 밉게도 생각하였다. Tôi đã nghi ngờ, oán trách và thậm chí là thấy ghét vợ mình như thế.
99. 아내는 아무런 말없이 어색하게… Vợ tôi không nói lời nào, cứ ngượng nghịu…
100. 머리를 숙이고 앉아 씩씩 하다가 밖으로 나간다. Ngồi cúi đầu thở hồng hộc một hồi rồi đi ra ngoài.
101. 그 얼굴은 좀 붉었다. Khuôn mặt ấy hơi ửng đỏ.
102. 아내가 나간 뒤에 나는 아내가 먹다 던진 것을 찾으려고 아궁이를 뒤지었다. Sau khi vợ ra ngoài, tôi lục lọi lò bếp để tìm thứ mà cô ấy đã ăn dở rồi vứt đi.
103. 싸늘하게 식은 재를 막대기에 뒤져내니 벌건 것이 눈에 띄었다. Khi dùng gậy bới lớp tro lạnh ngắt, một vật màu đỏ lọt vào mắt tôi.
104. 나는 그것을 집었다. 그것은 귤껍질이다. Tôi nhặt nó lên. Đó là một miếng vỏ quýt.
105. 거기는 베먹은 잇자국이 있다. Trên đó vẫn còn dấu răng cắn dở.
106. 귤껍질을 쥔 나의 손은 떨리고 잇자국을 보는 내 눈에는 눈물이 괴었다. Bàn tay cầm miếng vỏ quýt của tôi run rẩy, và nước mắt trào ra khi nhìn thấy những dấu răng ấy.
107. 김군! 이때 나의 감정을 어떻게 표현하면 적당할까? Anh Kim à! Lúc này đây tôi nên diễn tả cảm xúc của mình thế nào cho phải?
108. ‘오죽 먹고 싶었으면 길바닥에 내던진 귤껍질을 주워먹을까, 더욱 몸 비잖은 그가! ‘Phải thèm ăn đến mức nào mới đi nhặt miếng vỏ quýt người ta vứt trên đường để ăn chứ, nhất là một người đang yếu ớt như cô ấy!
109. 아아, 나는 사람이 아니다. 그러한 아내를 나는 의심하였구나! Chao ôi, tôi không phải là người nữa. Tôi đã đi nghi ngờ một người vợ như thế!
110. 이놈이 어찌하여 그러한 아내에게 불평을 품었는가. 나 같은 잔악한 놈이 어디 있으랴. Tại sao cái thằng khốn này lại dám oán trách người vợ như vậy. Có kẻ nào tàn ác như tôi không.
111. 내가 양심이 부끄러워서 무슨 면목으로 아내를 볼까?’ Lương tâm tôi thấy hổ thẹn, còn mặt mũi nào mà nhìn vợ nữa đây?’
112. 이렇게 생각하면서 나는 느껴가며 눈물을 흘렸다. 귤껍질을 쥔 채로 이를 악물고 울었다. Vừa suy nghĩ như thế, tôi vừa nghẹn ngào rơi lệ. Tay vẫn nắm chặt miếng vỏ quýt, tôi nghiến răng mà khóc.
113. “야, 어째서 우느냐? 일어나거라. 우리도 살 때 있겠지, 늘 이러겠느냐.” 하면서 누가 어깨를 친다. “Này, sao lại khóc? Đứng dậy đi con. Rồi cũng sẽ đến lúc chúng ta được sống tốt thôi, chẳng lẽ cứ mãi thế này sao.” Ai đó vỗ vào vai tôi.
114. 나는 그것이 어머니인 것을 알았다. Tôi biết đó chính là mẹ.
115. “아이구 어머니, 나는 불효자외다.” 하면서 어머니의 팔을 안고 자꾸자꾸 울고 싶었다. “Trời ơi mẹ ơi, con là đứa con bất hiếu.” Tôi muốn ôm lấy cánh tay mẹ mà khóc mãi không thôi.
116. 그러나 나는 아무 소리 없이 가슴을 부둥켜안고 밖으로 나갔다. Nhưng tôi chẳng nói lời nào, cứ thế ôm chặt lồng ngực mà đi ra ngoài.
117. ‘내가 왜 우노? 울기만 하면 무엇 하나? 살자! 살자! 어떻게든지 살아보자! ‘Tại sao mình lại khóc? Khóc thì được ích gì? Phải sống! Phải sống! Bằng mọi giá phải sống!
118. 내 어머니와 내 아내도 살아야 하겠다. 이 목숨이 있는 때까지는 벌어보자!’ Mẹ và vợ mình cũng phải được sống. Còn hơi thở thì còn phải kiếm tiền!’
119. 나는 이를 갈고 주먹을 쥐었다. 그러나 눈물은 여전히 흘렀다. Tôi nghiến răng, nắm chặt nắm đấm. Nhưng nước mắt vẫn cứ thế tuôn rơi.
120. 아내는 말없이 울고 섰는 내 곁에 와서 손으로 치마끈을 만적거리며 눈물을 떨어뜨린다. Vợ tôi lặng lẽ bước đến bên cạnh khi tôi đang đứng khóc, cô ấy vừa vê vê dải áo choàng vừa để nước mắt rơi lã chã.
121. 농사집에서 자라난 아내는 지금도 어찌 수줍은지 내가 울면 같이 울기는 하여도 어떻게 말로 위로할 줄은 모른다. Người vợ lớn lên nơi nhà nông ấy vẫn thật nhút nhát, thấy tôi khóc cô ấy cũng khóc theo chứ chẳng biết dùng lời lẽ gì để an ủi.
122. 김군! 세월은 우리를 위하여 여름을 항시 주지는 않았다. Anh Kim à! Thời gian không luôn dành cho chúng ta những ngày hè ấm áp.
123. 서풍이 불고 서리가 내리기 시작하였다. 찬 기운은 벗은 우리를 위협하였다. Gió tây thổi tới và sương giá bắt đầu rơi. Cái lạnh đe dọa những kẻ trần trụi như chúng tôi.
124. 가을부터 나는 대구어(大口魚) 장사를 하였다. Từ mùa thu, tôi bắt đầu đi buôn cá tuyết.
125. 삼원을 주고 대구 열 마리를 사서 등에 지고 산골로 다니면서 콩(大豆)과 바꾸었다. Tôi bỏ ra ba đồng mua mười con cá tuyết, quẩy trên lưng đi khắp các xóm núi để đổi lấy đậu nành.
126. 난 대구 열 마리는 등에 질 수 있었으나 대구 열 마리를 주고 받은 콩 열 말은 질 수 없었다. Tôi có thể vác mười con cá tuyết, nhưng không thể vác nổi mười đấu đậu nành đổi được từ số cá đó.
127. 나는 하는 수 없이 삼사십리나 되는 곳에서 두 말씩 두 말씩 사흘 동안이나 져왔다. Tôi chẳng còn cách nào khác ngoài việc vác từng hai đấu một suốt ba ngày từ nơi cách xa ba bốn mươi dặm.
128. 우리는 열 말 되는 콩을 자본삼아 두부장사를 시작하였다. Chúng tôi dùng mười đấu đậu nành đó làm vốn để bắt đầu nghề làm đậu phụ.
129. 아내와 나는 진종일 맷돌질을 하였다. 무거운 맷돌을 돌리고나면 팔이 뚝 떨어지는 듯하였다. Vợ chồng tôi xay cối đá suốt cả ngày. Mỗi khi xoay xong chiếc cối nặng nề, cánh tay tôi như muốn rời ra.
130. 내가 이렇게 괴로울 적에 해산한 지 며칠 안 되는 아내의 괴로움이야 어떠하였으랴? Tôi khổ sở như vậy, thì người vợ vừa mới sinh con chưa được bao lâu còn khổ đến mức nào nữa?
131. 그는 늘 낯이 부석부석하였다. 그래도 나는 무슨 불평이 있는 때면 아내를 욕하였다. Gương mặt cô ấy lúc nào cũng sưng húp. Vậy mà mỗi khi có điều gì bất mãn, tôi lại mắng nhiếc vợ.
132. 그러나 욕한 뒤에는 곧 후회하였었다. Nhưng sau khi mắng xong, tôi lại hối hận ngay lập tức.
133. 콧구멍만한 부엌방에 가마를 걸고 맷돌을 놓고 나무를 들이고 의복가지를 걸고 하면 사람은 겨우 비비고 들어앉게 된다. Trong căn bếp bé như lỗ mũi, đặt cái nồi, cái cối xay, chất củi và treo quần áo vào thì người ta chỉ còn chỗ để chen chúc ngồi vào.
134. 뜬 김에 문창은 떨어지고 벽은 눅눅하다. Hơi nước bốc lên làm bong cả giấy dán cửa sổ và khiến những bức tường ẩm ướt.
135. 모든 것이 후질근하여 의복을 입은 채 미지근한 물 속에 들어앉은 듯하였다. Mọi thứ đều nhem nhuốc khiến chúng tôi như đang mặc quần áo mà ngồi trong nước ấm vậy.
136. 어떤 때는 애써 갈아놓은 비지가 이 뜬 김 속에서 쉬어버렸다. Có những khi bã đậu cất công xay xong lại bị thiu hỏng trong làn hơi nước ấy.
137. 두붓물이 가마에서 몹시 끓어 번질 때에 우유빛같은 두붓물 위에 버터빛같은 노란 기름이 엉기면 (그것은 두부가 잘될 징조다) 우리는 안심한다. Khi nước đậu sôi sùng sục, nếu lớp váng màu vàng như bơ hiện lên trên mặt nước đậu trắng sữa (đó là điềm báo đậu sẽ ngon), chúng tôi mới an lòng.
138. 그러나 두붓물이 희멀끔해지고 기름기가 돌지 않으면 거기만 시선을 쏘고 있는 아내의 낯빛부터 글러가기 시작한다. Nhưng nếu nước đậu cứ trắng bệch và không có váng dầu, sắc mặt của vợ tôi – người đang chăm chú nhìn vào đó – bắt đầu tối sầm lại.
139. 초를 쳐보아서 두붓발이 서지 않게 매캐지근하게 풀려질 때에는 우리의 가슴은 덜컥 한다. Khi cho giấm vào mà đậu không kết tủa mà cứ rã rời ra, tim chúng tôi như thắt lại.
140. “또 쉰 게로구나! 저를 어쩌누?” “Lại bị thiu rồi! Biết làm sao đây?”
141. 젖을 달라구 빽빽 우는 어린아이를 안고 서서 두붓물만 들여다보시는 어머니는 목메인 말씀을 하시면서 우신다. Mẹ tôi vừa bế đứa trẻ đang khóc đòi bú, vừa nhìn chằm chằm vào nồi nước đậu mà nghẹn ngào khóc.
142. 이렇게 되면 온 집안은 신산하여 말할 수 없는 울음·비통·처참·소조(蕭條)한 분위기에 싸인다. Mỗi khi như vậy, cả nhà lại bao trùm trong một bầu không khí đau khổ, bi thương và thảm hại khổng sao tả xiết.
143. “너 고생한 게 애닯구나! 팔이 부러지게 갈아서…… 그거(두부)를 팔아서 장을 보려고 태산같이 바랬더니……” “Thật đau lòng cho nỗi khổ của con! Xay đến gãy cả tay… mẹ cứ hy vọng vào việc bán đậu để đi chợ…”
144. 어머니는 그저 가슴을 뜯으면서 우신다. 아내도 울듯 울듯 머리를 숙인다. Mẹ tôi cứ đấm ngực mà khóc. Vợ tôi cũng cúi đầu như sắp khóc tới nơi.
145. 그 두부를 판대야 큰 돈은 못된다. 기껏 남는대야 이십전이나 삼십전이다. Bán chỗ đậu đó cũng chẳng được bao nhiêu tiền. Cùng lắm là dư ra được hai mươi hay ba mươi xu.
146. 그것으로 우리는 호구를 한다. 이십전이나 삼십전에 어머니는 운다. 아내도 기운이 준다. 나까지 가슴이 바짝바짝 조인다. Chúng tôi kiếm sống bằng ngần ấy. Vì hai mươi, ba mươi xu mà mẹ khóc, vợ mất hết sức sống, đến cả tôi cũng thấy lòng dạ bồn chồn.
147. 그날은 하는 수 없이 쉰 두붓물로 때를 메우고 지낸다. 아이는 젖을 달라고 밤새껏 빽빽거린다.
Ngày hôm đó chẳng còn cách nào khác là phải ăn nước đậu thiu qua bữa. Đứa trẻ thì khóc đòi bú suốt cả đêm.
148. 우리의 살림에 어린애도 귀치는 않았다. Trong cảnh nghèo túng này, đứa trẻ cũng chẳng phải là niềm vui.
149. 울면서 겨자먹기로 괴로운 대로 또 두부를 하지 않으면 안된다. Dù đau khổ cực chẳng đã, chúng tôi vẫn phải tiếp tục làm đậu phụ.
150. 그러나 이번에는 땔나무가 없다. 나는 낫[鎌]을 들고 떠난다. Nhưng lần này lại không có củi. Tôi cầm liềm đi lên núi.
151. 내가 낫을 들고 떠나면 산후 여독으로 신음하는 안내도 낫을 들고 말없이 나를 따라나선다. Khi tôi đi, người vợ đang đau đớn vì cơn đau sau sinh cũng cầm liềm lặng lẽ đi theo tôi.
152. 어머니와 나는 굳이 만류하나 아내는 듣지 않는다. Mẹ và tôi kiên quyết can ngăn nhưng vợ tôi không nghe.
153. 내 손으로 하는 나무이언만 마음놓고는 못한다. 산 임자에게 들키면 여간한 경을 치지 않는다. Tự mình đi kiếm củi nhưng cũng chẳng được yên tâm. Nếu bị chủ núi bắt được thì sẽ khốn khổ lắm.
154. 그러므로 우리는 황혼이면 산에 가서 나무를 하여 지고 밤이 깊어서 돌아온다. Vì vậy, cứ đến sầm tối là chúng tôi lên núi kiếm củi rồi vác về lúc đêm muộn.
155. 아내는 이고 나는 지고 캄캄한 밤에 산비탈로 내려오다가 발이 미끄러지거나 돌에 채이면 곤두박질을 하여 나뭇짐 속에 든다. Vợ đội trên đầu còn tôi vác trên vai, trong đêm tối khi xuống dốc núi, nếu trượt chân hay vấp đá thì cả người lẫn củi đều ngã lộn nhào.
156. 아내는 소리 없이 이었던 나무를 내려놓고 나뭇짐에 눌려서 버둑거리는 나를 겨우 끄집어 일으킨다. Vợ tôi lặng lẽ đặt bó củi xuống, gắng sức kéo tôi đang bị bó củi đè lên đứng dậy.
157. 그러나 내가 나뭇짐을 지고 일어나면 아내는 혼자 나뭇짐을 이지 못한다. Nhưng khi tôi vác củi đứng dậy thì vợ lại không thể tự mình nâng bó củi lên đầu được.
158. 또 내가 나뭇짐을 벗고 아내에게 이어주면 나는 추어주는 이 없이는 나뭇짐을 질 수가 없었다. Còn nếu tôi đặt củi xuống để nâng giúp vợ, thì tôi lại không thể tự mình vác củi nếu không có người hỗ trợ.
159. 하는 수 없이 나는 어떤 높은 바위에 벗어놓고 아내에게 이어준다. Chẳng còn cách nào khác, tôi phải đặt củi lên một tảng đá cao rồi nâng lên đầu giúp vợ.
160. 이리하여 산비탈을 내려오면 언제 왔는지 어머니는 애를 업소 우둘우둘 떨면서 산 아래서 기다리다가도, Khi xuống đến chân núi, mẹ tôi đã đợi sẵn ở đó, bà vừa cõng đứa trẻ vừa run cầm cập vì lạnh.
161. “인제 오니? 나는 너 또 붙들리지나 않은가 하여 혼이 났다.” 하신다. “Giờ mới về hả con? Mẹ cứ sợ các con lại bị bắt nên hồn siêu phách lạc.” mẹ nói.
162. 이때마다 내 가슴은 저렷다. 나는 이렇게 나무를 하다가 중국경찰서까지 잡혀가서 여러 번 맞았다. Mỗi lần như vậy lòng tôi lại đau thắt. Tôi đã từng bị bắt đến tận đồn cảnh sát Trung Quốc và bị đánh nhiều lần.
163. 이때 이웃에서는 우리를 조소하고 경찰에서는 우리를 의심하였다. Lúc ấy hàng xóm thì chế nhạo, còn cảnh sát thì nghi ngờ chúng tôi.
164. 흥, 신수가 멀쩡한 연놈들이 그 꼴이야, 어디 가 일자리도 구하지 않고 그 눈이 누래서 두부장사 하는 꼬락서니는 참 더러워서 못 보겠네. X알을 달고 나서 그렇게야 살리? Hừ, mấy đứa trông mặt mũi sáng sủa mà lại ra nông nỗi này, chẳng chịu đi tìm việc làm mà lại đi làm nghề bán đậu phụ bẩn thỉu. Là đàn ông mà lại sống như thế sao?
165. 이것은 이웃 남녀가 비웃는 소리였다. Đó là lời mỉa mai của những người hàng xóm.
166. 그리고 어떤 산 임자가 나무 잃고 고발을 하면 경찰서에서는 불문곡직하고 우리집부터 수색하고 질문하면서 나를 때린다. Mỗi khi có chủ núi nào báo mất củi, cảnh sát chẳng cần biết đúng sai đều đến khám xét nhà tôi và đánh tôi.
167. 그러나 나는 호소할 곳이 없다. Nhưng tôi chẳng biết kêu cứu vào đâu.
168. 김군! 이러구러 겨울은 점점 깊어가고 기한은 점점 박두하였다. Anh Kim à! Cứ thế mùa đông càng ngày càng sâu, cái đói cái rét đang đến gần.
169. 일자리는 없고…… 그렇다고 손을 털고 앉았을 수도 없었다. Việc làm thì không có… nhưng cũng không thể cứ ngồi không như vậy được.
170. 모든 식구가 퍼러퍼레서 굶고 않은 꼴을 나는 그저 볼 수 없었다. Tôi không thể nhìn cảnh cả nhà nhịn đói đến mức mặt mũi tái mét.
171. 시퍼런 칼이라도 들고 하루라도 괴로운 생을 모면하도록 쿡쿡 찔러 없애고 나까지 없어지든지, 나가서 강도질이라도 하여서 기한을 면하든지 하는 수밖에는 더 도리가 없게 절박하였다. Tôi đã tuyệt vọng đến mức nghĩ đến chuyện cầm dao đâm chết hết mọi người để thoát khỏi kiếp sống này rồi tự sát, hoặc là đi làm cướp để thoát khỏi cái đói.
172. 나는 일이 없으면 없느니만큼, 고통이 닥치면 닥치느니만큼 내 번민은 크다.
Càng không có việc làm, càng nhiều khổ đau ập đến thì nỗi trăn trở của tôi càng lớn.
173. 나는 어떤 날은 거의 얼빠진 사람처럼 눈을 감고 깊은 생각에 잠긴 일도 있었다. Có những ngày tôi nhắm mắt chìm sâu vào suy nghĩ như một kẻ mất hồn.
174. 이때 머릿속에서는 머리를 움실움실 드는 사상이 있었다(오늘날에 생각하면 그것은 나의 전 운명을 결정할 사상이었다). Lúc này, trong đầu tôi bắt đầu nhen nhóm một tư tưởng (mà giờ nghĩ lại, đó là tư tưởng quyết định toàn bộ vận mệnh của tôi).
175. 그 생각은 누구의 가르침에 의해 일어난 것도 아니려니와 일부러 일으키려고 애써서 일어난 것도 아니다. 봄 풀싹같이 내 머릿속에서 점점 머리를 들었다. Tư tưởng đó không phải do ai dạy bảo, cũng không phải do tôi cố tình tạo ra. Nó cứ tự nhiên trỗi dậy như ngọn cỏ mùa xuân vậy.
176. 나는 여태까지 세상에 대하여 충실하였다. 어디까지든지 충실하려고 하였다. Từ trước đến nay tôi vẫn luôn sống trung thực với cuộc đời. Tôi đã cố gắng trung thực đến cùng.
177. 내 어머니, 내 아내까지도 뼈가 부서지고 고기가 찢기더라도 충실한 노력으로써 살려고 하였다. Ngay cả với mẹ và vợ tôi cũng đã cố gắng sống bằng sự nỗ lực hết mình dù xương tan thịt nát.
178. 그러나 세상은 우리를 속였다. 우리의 충실을 받지 않았다. 도리어 충실한 우리를 모욕하고 멸시하고 학대하였다. Nhưng cuộc đời đã lừa dối chúng tôi. Nó không chấp nhận sự trung thực đó mà còn lăng nhục và ngược đãi chúng tôi.
179. 우리는 여태까지 속아 살았다. 포악하고 허위스럽고 요사한 무리를 용납하고 옹호하는 세상인 것을 참으로 몰랐다. Chúng tôi đã sống trong sự lừa dối. Tôi thực sự không biết rằng thế giới này lại dung túng và bảo vệ cho những kẻ tàn bạo và giả dối.
180. 우리뿐 아니라 세상의 모든 사람들도 그것을 의식치 못하였을 것이다. Không chỉ chúng tôi mà có lẽ tất cả mọi người cũng không nhận ra điều đó.
181. 그네들은 그러한 세상의 분위기에 취하였었다. 나도 이때까지 취하였었다. Họ đã bị say trong bầu không khí đó của cuộc đời. Tôi cũng đã từng bị say như vậy.
182. 우리는 우리로서 살아온 것이 아니라 어떤 험악한 제도의 희생자로서 살아왔었다 Chúng ta không phải đang sống cuộc đời của chính mình, mà đang sống như những nạn nhân của một chế độ tàn khốc
183. 김군! 나는 사람들을 원망치 않는다. 그러나 마주(魔酒)에 취하여 자기의 피를 짜 바치면서도 깨지 못하는 사람을 그저 볼 수 없다. Anh Kim à! Tôi không oán trách mọi người. Nhưng tôi không thể đứng nhìn những người đang bị mê muội, tự vắt kiệt máu của mình mà vẫn không tỉnh ngộ.
184. 허위와 요사와 표독(標毒)과 게으른 자를 옹호하고 용납하는 이 제도는 더욱 그저 둘 수 없다. Tôi càng không thể để yên cho cái chế độ đang dung túng cho những kẻ giả dối và độc ác này.
185. 이 분위기 속에서는 아무리 노력하여도 우리의 생의 만족을 느낄 날이 없을 것이다. Trong bầu không khí này, dù có nỗ lực đến đâu thì cũng sẽ chẳng bao giờ cảm thấy mãn nguyện.
186. 어찌하여 겨우 연명을 한다 하더라도 죽지 못하는 삶이 될 것이요, 그 영향은 자식에게까지 미칠 것이다. Dù có gắng gượng duy trì sự sống thì đó cũng chỉ là kiếp sống dở chết dở, và nó sẽ ảnh hưởng đến cả đời con cái.
187. 나는 어미 품속에서 빽빽하는 어린것의 장래를 생각할 때면 애잡짤한 감정과 분함을 금할 수 없다. Mỗi khi nghĩ về tương lai của đứa trẻ đang khóc trong lòng mẹ, tôi lại cảm thấy đau xót và phẫn nộ vô cùng.
188. 내가 늘 이 상태면(그것은 거의 정한 이치다) 그에게는 상당한 교양은 고사하고, 다리밑이나 남의 집 문간에 버리게 될 터이니, 아! 삶을 받을 만한 생명을 죄없이 찌그러지게 하는 것이 어찌 애닯지 않으랴? Nếu tôi cứ thế này (điều đó gần như là tất yếu), nó sẽ bị vứt bỏ dưới chân cầu hay trước hiên nhà người khác mất. Chao ôi, tại sao một sinh linh đáng được sống lại phải bị hủy hoại oan ức như vậy, thật đau lòng làm sao!
189. 그렇다면 그것을 나의 죄라 할까? Nếu vậy, đó có phải là tội lỗi của tôi không?
190. 김군! 나는 더 참을 수 없었다. 나는 나부터 살려고 한다. 이때까지는 최면술에 걸린 송장이었다. Anh Kim à! Tôi không thể chịu đựng thêm nữa. Tôi phải sống cho chính mình. Từ trước đến nay tôi chỉ là một xác chết bị thôi miên.
191. 제가 죽은 송장으로 남(식구들)을 어찌 살리랴. Một xác chết thì làm sao cứu sống được gia đình mình chứ.
192. 그러려면 나는 나에게 최면술을 걸려는 무리를 험악한 이 공기의 원류를 쳐부수어야 하는 것이다. Muốn vậy, tôi phải tiêu diệt những kẻ đang muốn thôi miên tôi, tiêu diệt tận gốc cái bầu không khí độc ác này.
193. 나는 이것을 인간의 생의 충동이며 확충이라고 본다. 나는 여기서 무상의 법열(法悅)을 느끼려고 한다. 아니 벌써부터 느껴진다. Tôi coi đây là sự thúc đẩy của sự sống. Tôi muốn cảm nhận niềm vui sướng tột cùng tại đây. Không, tôi đã đang cảm thấy nó rồi.
194. 이 사상이 나로 하여금 집을 탈출케 하였으며, xx단에 가입케 하였으며, 비바람 밤낮을 헤아리지 않고 벼랑 끝보다 더 험한 선에 서게 한 것이다. Tư tưởng này đã khiến tôi rời bỏ gia đình, gia nhập tổ chức XX, bất kể ngày đêm để đứng ở nơi còn nguy hiểm hơn cả vực thẳm.
195. 김군! 거듭 말한다. 나도 사람이다. 양심을 가진 사람이다. Anh Kim à! Tôi nhắc lại một lần nữa. Tôi cũng là con người, một con người có lương tâm.
196. 내가 떠나는 날부터 식구들은 더욱 곤경에 들 줄로 나는 안다. Tôi biết rằng kể từ ngày tôi ra đi, gia đình sẽ càng rơi vào cảnh khốn cùng.
197. 자칫하면 눈속이나 어느 구렁에서 죽는 줄도 모르게 굶어죽을 줄도 나는 잘 안다. Tôi biết rõ họ có thể sẽ chết đói ở một xó xỉnh nào đó mà chẳng ai hay biết.
198. 그러므로 나는 이곳에서도 남의 집 행랑어멈이나 아범이며, 노두에 방황하는 거지를 무심히 보지 않는다. Vì vậy, ngay cả ở đây, tôi cũng không thể thờ ơ nhìn những người làm thuê hay kẻ ăn xin trên đường.
199. 아! 나의 식구도 그럴 것을 생각할 때면 자연히 흐르는 눈물과 뿌직뿌직 찢기는 가슴을 덮쳐 잡는다. Chao ôi! Mỗi khi nghĩ đến việc gia đình mình cũng như vậy, nước mắt tôi lại chảy ra và lòng tôi như bị xé nát.
200. 그러나 나는 이를 갈고 주먹을 쥔다. 눈물을 아니 흘리려고 하며 비애에 상하지 않으려고 한다.
Nhưng tôi nghiến răng và nắm chặt nắm đấm. Tôi cố gắng không để nước mắt rơi và không để nỗi bi thương quật ngã.
201. 울기에는 너무도 때가 늦었으며 비애에 상하는 것은 우리의 박약을 너무도 표시하는 듯싶다. Đã quá muộn để khóc rồi, và bi lụy chỉ càng cho thấy sự yếu đuối của chúng ta mà thôi.
202. 어떠한 고통이든지 참고 분투하려고 한다. Tôi sẽ chịu đựng mọi khổ đau và kiên quyết đấu tranh.
203. 김군! 이것이 나의 탈가한 이유를 대략 적은 것이다. Anh Kim à! Đây là tóm tắt những lý do tôi rời bỏ gia đình.
204. 나는 나의 목적을 이루기 전에는 내 식구에게 편지도 하지 않으려고 한다. 그네가 죽어도, 내가 또 죽어도…… Tôi sẽ không viết thư cho gia đình trước khi đạt được mục đích. Dù họ có chết, hay tôi có chết đi chăng nữa…
205. 나는 이러다 성공 없이 죽는다 하더라도 원한이 없겠다. 이 시대, 이 민중의 의무를 이행한 까닭이다. Dù tôi có chết mà không thành công thì tôi cũng không hối tiếc. Bởi vì tôi đã thực hiện nghĩa vụ của mình đối với thời đại này.
206. 아아, 김군아! 말을 다 하였으나 정은 그저 가슴에 넘치누나! Aa, anh Kim ơi! Lời đã nói hết nhưng tình cảm vẫn cứ dâng trào trong lòng!
Nguồn:https://gongu.copyright.or.kr/gongu/wrt/wrt/view.do?wrtSn=9001594&menuNo=200019
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823A






