TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
봄봄 – 김유정
XUÂN XUÂN – KIM YU-JEONG
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS: VÕ THỊ THUÝ NGỌC – CSTT: KANATA GÒ VẤP
“장인님! 이제 저….”
→ “Cha ơi (bố vợ)! Giờ thì con….”
내가 이렇게 뒤통수를 긁고, 나이가 찼으니 성례를 시켜 줘야 하지 않겠느냐고 하면 대답이 늘,
→ Mỗi khi tôi gãi đầu gãi tai như thế này và nói rằng tôi đã đến tuổi rồi, chẳng phải nên cho tôi làm lễ cưới hay sao, thì câu trả lời lúc nào cũng là,
“이 자식아! 성례구 뭐구 미처 자라야지!”
→ “Thằng này! Cưới xin cái gì, phải lớn cho xong đã chứ!”
하고 만다.
→ Ông ấy chỉ nói vậy rồi thôi.
이 자라야 한다는 것은 내가 아니라 장차 내 아내가 될 점순이의 키 말이다.
→ Cái “phải lớn” ở đây không phải là tôi, mà là chiều cao của Jeom-suni – người sau này sẽ là vợ tôi.
내가 여기에 와서 돈 한푼 안 받고 일하기를 삼 년 하고 꼬박이 일곱 달 동안을 했다.
→ Tôi đến đây làm việc không công đã tròn ba năm bảy tháng.
그런데도 미처 못 자랐다니까 이 키는 언제야 자라는 겐지 짜장 영문 모른다.
→ Thế mà bảo vẫn chưa lớn xong, thật chẳng biết đến bao giờ mới cao lên nữa.
일을 좀더 잘해야 한다든지 혹은 밥을 (많이 먹는다고 노상 걱정이니까) 좀 덜 먹어야 한다든지 하면 나도 얼마든지 할 말이 많다.
→ Nếu bảo tôi phải làm việc chăm hơn, hoặc ăn ít lại (vì lúc nào cũng lo tôi ăn nhiều), thì tôi còn có bao nhiêu điều để nói.
하지만 점순이가 아직 어리니까 더 자라야 한다는 여기에는 어째 볼 수 없이 그만 벙벙하고 만다.
→ Nhưng nói rằng Jeom-suni còn nhỏ nên phải lớn thêm thì tôi chẳng biết phản bác sao, đành ngớ người ra.
이래서 나는 애초에 계약이 잘못된 걸 알았다.
→ Vì vậy tôi nhận ra ngay từ đầu cái giao kèo này là sai.
이태면 이태, 삼 년이면 삼 년, 기한을 딱 작정하고 일을 했어야 옳을 것이다.
→ Lẽ ra phải định rõ thời hạn, hai năm hay ba năm gì đó, rồi làm việc cho đúng.
덮어놓고 딸이 자라는 대로 성례를 시켜 주마, 했으니
→ Đằng này lại nói đại là khi con gái lớn lên sẽ cho cưới,
누가 늘 지키고 섰는 것도 아니고 그 키가 언제 자라는지 알 수 있는가.
→ đâu có ai đứng canh suốt, làm sao biết khi nào nó cao lên.
그리고 난 사람의 키가 무럭무럭 자라는 줄만 알았지 붙박이 키에 모로만 벌어지는 몸도 있는 것을 누가 알았으랴.
→ Tôi cứ tưởng chiều cao con người sẽ lớn vùn vụt, ai ngờ có người thì cứ thấp lè tè mà chỉ nở ngang.
때가 되면 장인님이 어련하랴 싶어서 군소리 없이 꾸벅꾸벅 일만 해왔다.
→ Tôi nghĩ đến lúc rồi thì cha vợ tự khắc sẽ lo, nên chẳng than phiền mà cứ cắm đầu làm việc.
그럼 말이다, 장인님이 제가 다 알아차려서,
→ Thế thì đáng lẽ cha vợ phải tự hiểu,
“어 참 너 일 많이 했다. 고만 장가들어라.”
→ “Ồ, mày làm nhiều rồi, thôi lấy vợ đi.”
하고 살림도 내주고 해야 나도 좋을 것이 아니냐.
→ rồi lo cho tôi cưới hỏi, như vậy chẳng phải tốt cho tôi sao.
시치미를 딱 떼고 도리어 그런 소리가 나올까 봐서 지레 펄펄 뛰고 이 야단이다.
→ Đằng này lại làm như không biết, còn sợ tôi nói chuyện đó nên làm um lên.
명색이 좋아 데릴사위지 일하기에 싱겁기도 할 뿐더러 이건 참 아무것도 아니다.
→ Nói thì hay là rể ở, nhưng thực ra chỉ là làm không công, chẳng ra gì cả.
숙맥이 그걸 모르고 점순이의 키 자라기만 까맣게 기다리지 않았나.
→ Đồ ngốc như tôi đâu biết điều đó, chỉ đen mặt mà chờ Jeom-suni lớn lên.
언젠가는 하도 갑갑해서 자를 가지고 덤벼들어서 그 키를 한번 재 볼까 했다마는,
→ Có lúc bức bối quá, tôi còn định cầm thước ra đo thử chiều cao của nó.
우리는 장인님이 내외를 해야 한다고 해서 마주 서 이야기도 한마디 하는 법 없다.
→ Nhưng vì cha vợ bảo phải giữ ý tứ nam nữ, nên chúng tôi chẳng bao giờ đứng đối diện mà nói chuyện.
우물길에서 언제나 마주칠 적이면 겨우 눈어림으로 재보고 하는 것인데
→ Mỗi lần tình cờ gặp nhau ở đường ra giếng, tôi chỉ dám ước lượng bằng mắt.
그럴 적마다 나는 저만큼 가서,
→ Mỗi lần như vậy, tôi lại đi ra một đoạn,
“제―미 키두!”
→ “Chết tiệt, cái chiều cao này!”
하고 논둑에다 침을 퉤, 뱉는다.
→ rồi nhổ “phì” một bãi xuống bờ ruộng.
아무리 잘 봐야 내 겨드랑(다른 사람보다 좀 크긴 하지만) 밑에서 넘을락말락 밤낮 요 모양이다.
→ Dù nhìn thế nào thì nó cũng chỉ lấp ló dưới nách tôi (dù tôi cũng cao hơn người khác một chút), lúc nào cũng vậy.
개돼지는 푹푹 크는데 왜 이리도 사람은 안 크는지,
→ Lợn chó thì lớn vùn vụt, sao con người lại không lớn nổi,
한동안 머리가 아프도록 궁리도 해보았다.
→ tôi đã suy nghĩ đến đau cả đầu.
아하, 물동이를 자꾸 이니까 뼈다귀가 움츠러드나 보다, 하고
→ À, chắc do cứ đội thùng nước nên xương bị co lại,
내가 넌짓넌짓이 그 물을 대신 길어도 주었다.
→ nên tôi khéo léo đi gánh nước thay nó.
뿐만 아니라 나무를 하러 가면 서낭당에 돌을 올려놓고,
→ Không chỉ vậy, mỗi khi đi lấy củi, tôi còn đặt đá lên miếu làng,
“점순이의 키 좀 크게 해줍소사. 그러면 담엔 떡 갖다 놓고 고사드립죠니까.”
→ “Xin cho Jeom-suni cao lên một chút. Lần sau con sẽ mang bánh đến cúng.”
하고 치성도 한두 번 드린 것이 아니다.
→ Tôi đã cầu khấn không chỉ một hai lần.
어떻게 돼먹은 킨지 이래도 막무가내니……
→ Thế mà chẳng hiểu sao, dù vậy vẫn không cao lên chút nào…
그래 내 어저께 싸운 것이지 결코 장인님이 밉다든가 해서가 아니다.
→ Vì thế nên hôm qua tôi mới cãi nhau, chứ không phải vì ghét cha vợ.
모를 붓다가 가만히 생각을 해보니까 또 싱겁다.
→ Đang gieo mạ, tôi chợt nghĩ lại thấy thật vô lý.
이 벼가 자라서 점순이가 먹고 좀 큰다면 모르지만
→ Nếu lúa này lớn lên rồi Jeom-suni ăn mà cao thêm thì còn đỡ,
그렇지도 못한 걸 내 심어서 뭘 하는 거냐.
→ chứ không thì tôi trồng để làm gì.
해마다 앞으로 축 불거지는 장인님의 아랫배…
→ Chỉ để làm cái bụng dưới ngày càng phình ra của cha vợ mỗi năm…
불리기 위하여 심곤 조금도 싶지 않다.
→ thì tôi chẳng muốn trồng chút nào.
“아이구 배야!”
→ “Ôi đau bụng quá!”
난 물 붓다 말고 배를 쓰다듬으면서 그대로 논둑으로 기어올랐다.
→ Tôi đang tưới nước thì dừng lại, xoa bụng rồi bò lên bờ ruộng.
그리고 겨드랑에 꼈던 벼 담긴 키를 그냥 땅바닥에 털썩, 떨어치며
→ Tôi thả cái nia đựng mạ kẹp dưới nách xuống đất cái “bịch”,
나도 털썩 주저앉았다.
→ rồi cũng ngồi phịch xuống.
일이 암만 바빠도 나 배 아프면 고만이니까.
→ Dù công việc có bận đến đâu, tôi đau bụng thì chịu.
아픈 사람이 누가 일을 하느냐.
→ Người đang đau thì ai mà làm nổi.
파릇파릇 돋아 오른 풀 한 숲을 뜯어 들고
→ Tôi nhổ một nắm cỏ non xanh mướt,
다리의 거머리를 쓱쓱 문대며 장인님의 얼굴을 쳐다보았다.
→ chà lên con đỉa ở chân rồi nhìn về phía cha vợ.
가운데서 장인님이 이상한 눈을 해가지고 한참을 날 노려보더니,
→ Ở giữa ruộng, cha vợ nhìn tôi chằm chằm bằng ánh mắt kỳ lạ một lúc lâu,
“너 이 자식, 왜 또 이래 응?”
→ “Thằng kia, sao lại thế hả?”
“배가 좀 아파서유!”
→ “Con đau bụng một chút ạ!”
하고 풀 위에 슬며시 쓰러지니까
→ Tôi vừa nói vừa nhẹ nhàng ngả người xuống đám cỏ,
장인님은 약이 올랐다.
→ khiến cha vợ nổi cáu.
저도 논에서 철벙철벙 둑으로 올라오더니
→ Ông lội bì bõm từ ruộng lên bờ,
잡은 참 내 멱살을 움켜잡고 뺨을 치는 것이 아닌가.
→ rồi túm cổ áo tôi mà tát.
“이 자식아, 일허다 말면 누굴 망해 놀 속셈이냐, 이 대가릴 까놀 자식?”
→ “Thằng này, đang làm mà bỏ thì định phá hoại ai hả, đồ đầu đất?”
우리 장인님은 약이 오르면 이렇게 손버릇이 아주 못됐다.
→ Cha vợ tôi cứ hễ nổi nóng là tay chân rất tệ như thế.
또 사위에게 이자식 저자식 하는 이놈의 장인님은 어디 있느냐.
→ Lại còn có cha vợ nào mà cứ “thằng này thằng kia” với con rể như vậy chứ.
오죽해야 우리 동리에서 누굴 물론하고 그에게 욕을 안 먹는 사람은 명이 짜르다 한다.
→ Đến mức trong làng tôi, ai mà chưa từng bị ông chửi thì bị coi là hiếm lắm.
조그만 아이들까지도 그를 돌아세 놓고 욕필이(본 이름이 봉필이니까), 욕필이, 하고 손가락질을 할 만치 두루 인심을 잃었다.
→ Ngay cả trẻ con cũng quay lưng lại chỉ trỏ gọi ông là “Yok-pil” (chơi chữ từ tên Bong-pil), cho thấy ông mất lòng dân đến mức nào.
하나 인심을 정말 잃었다면 욕보다 읍의 배참봉 댁 마름으로 더 잃었다.
→ Nhưng nếu nói mất lòng dân thật sự thì không phải vì chửi bới, mà là vì làm quản lý ruộng đất cho nhà quan ở huyện.
번이 마름이란 욕 잘 하고 사람 잘 치고 그리고 생김 생기길 호박개 같아야 쓰는 거지만
→ Làm quản lý thì phải chửi giỏi, đánh người giỏi, lại còn phải có tướng dữ như chó,
장인님은 외양에 똑 됐다.
→ mà cha vợ tôi thì đúng kiểu đó.
장인께 닭 마리나 좀 보내지 않는다든가 애벌논 때 품을 좀 안 준다든가 하면
→ Nếu ai không biếu ông con gà, hoặc không giúp công cày ruộng đầu vụ,
그해 가을에는 영락없이 땅이 뚝뚝 떨어진다.
→ thì đến mùa thu năm đó chắc chắn sẽ bị mất đất.
그러면 미리부터 돈도 먹고 술도 먹이고 안달재신으로 돌아치던 놈이 그 땅을 슬쩍 돌아앉는다.
→ Rồi kẻ nào đã đút tiền, đãi rượu từ trước thì sẽ lén chiếm lấy mảnh đất đó.
이 바람에 장인님 집 외양간에는 눈깔 커다란 황소 한 놈이 절로 엉금엉금 기어들고,
→ Nhờ vậy mà trong chuồng nhà cha vợ tôi có cả một con bò vàng to mắt tự nhiên bò vào,
동리 사람들은 그 욕을 다 먹어 가면서도 그래도 굽신굽신하는 게 아닌가―
→ dân làng dù bị chửi mắng vẫn phải khúm núm với ông—
그러나 내겐 장인님이 감히 큰소리할 계제가 못 된다.
→ Nhưng với tôi thì ông không dám làm quá.
뒷생각은 못 하고 뺨 한 개를 딱 때려 놓고는
→ Sau khi tát tôi một cái mà không nghĩ hậu quả,
장인님은 무색해서 덤덤히 쓴 침만 삼킨다.
→ ông cũng thấy ngượng nên chỉ im lặng nuốt nước bọt.
난 그 속을 퍽 잘 안다.
→ Tôi hiểu rõ bụng dạ ông.
조금 있으면 갈도 꺾어야 하고 모도 내야 하고, 한창 바쁜 때인데
→ Sắp tới còn phải cày bừa, cấy mạ, đang lúc bận rộn,
나 일 안 하고 우리 집으로 그냥 가면 고만이니까.
→ nếu tôi không làm mà bỏ về nhà thì ông tiêu.
작년 이맘때도 트집을 좀 하니까
→ Năm ngoái cũng vào lúc này, khi tôi hơi gây chuyện,
늦잠 잔다고 돌멩이를 집어던져서 자는 놈의 발목을 삐게 해놨다.
→ ông ném đá vào tôi vì ngủ nướng, làm trẹo cả mắt cá.
사날씩이나 건숭 끙, 끙, 앓았더니
→ Tôi rên rỉ đau suốt mấy ngày,
종당에는 거반 울상이 되지 않았는가.
→ cuối cùng ông cũng gần như muốn khóc.
“얘, 그만 일어나 일 좀 해라. 그래야 올 갈에 벼 잘 되면 너 장가들지 않니.”
→ “Này, dậy làm việc đi. Có thế mùa thu lúa tốt thì mày mới lấy vợ được.”
그래 귀가 번쩍 띄어서
→ Nghe vậy tôi lập tức chú ý,
그날로 일어나서 남이 이틀 품 들일 논을 혼자 삶아 놓으니까
→ hôm đó tôi dậy làm một mình xong việc mà người khác phải mất hai ngày,
장인님도 눈깔이 커다랗게 놀랐다.
→ khiến cha vợ cũng tròn mắt ngạc nhiên.
그럼 정말로 가을에 와서 혼인을 시켜 줘야 옳지 않겠나.
→ Thế thì đến mùa thu phải cho tôi cưới mới đúng chứ.
볏섬을 척척 들여 쌓아도 다른 소리는 없고
→ Dù tôi vác lúa chất đầy,
물동이를 이고 들어오는 점순이를 담배통으로 가리키며,
→ ông chỉ tay bằng ống tẩu vào Jeom-suni đang đội nước,
“이 자식아 미처 커야지. 조걸 무슨 혼인을 한다고 그러니 원!”
→ “Thằng này, nó chưa lớn xong, cưới xin cái gì!”
하고 남 낯짝만 붉게 해주고 고만이다.
→ rồi làm tôi đỏ mặt trước người khác, thế là hết.
골김에 그저 이놈의 장인님, 하고
→ Lúc tức quá tôi chỉ muốn túm cổ ông,
댓돌에다 메꽂고 우리 고향으로 내뺄까 하다가
→ đập xuống thềm rồi bỏ về quê,
꾹꾹 참고 말았다.
→ nhưng lại cố nhịn.
참말이지 난 이 꼴 하고는 집으로 차마 못 간다.
→ Thật sự với tình cảnh này tôi không dám về nhà.
장가를 들러 갔다가 오죽 못났어야 그대로 쫓겨 왔느냐고 손가락질을 받을 테니까……
→ Vì người ta sẽ chỉ trỏ nói tôi kém cỏi nên mới bị đuổi về.
논둑에서 벌떡 일어나 한풀 죽은 장인님 앞으로 다가서며,
→ Tôi bật dậy khỏi bờ ruộng, tiến lại gần cha vợ lúc này đã bớt hung hăng,
“난 갈 테야유, 그 동안 사경 쳐내슈.”
→ “Con sẽ đi đấy, trong thời gian đó ông tự lo lấy.”
“너 사위로 왔지 어디 머슴 살러 왔니?”
→ “Mày đến làm rể chứ có phải làm đầy tớ đâu?”
“그러면 얼찐 성례를 해줘야 안 하지유. 밤낮 부려만 먹구 해준다 해준다…….”
→ “Thế thì phải cho con cưới sớm chứ. Suốt ngày chỉ sai làm, cứ nói sẽ cho cưới…”
“글쎄 내가 안 하는 거냐? 그년이 안 크니까…….”
→ “Tao có phải không muốn đâu? Tại con bé chưa lớn mà…”
하고 어름어름 담배만 담으면서 늘 하는 소리를 또 늘어놓는다.
→ Vừa lấp lửng vừa nhồi thuốc lá, ông lại lặp lại câu nói quen thuộc.
이렇게 따져 나가면 언제든지 늘 나만 밑지고 만다.
→ Cứ cãi kiểu này thì lúc nào tôi cũng là người chịu thiệt.
이번엔 안 된다 하고 대뜸 구장님한테로 판단 가자고 소맷자락을 내끌었다.
→ Lần này tôi quyết không chịu, liền kéo tay ông đòi đến gặp trưởng làng phân xử.
“아 이 자식아, 왜 이래 어른을.”
→ “Thằng này, sao lại đối xử với người lớn thế hả.”
안 간다고 뻗디디고 이렇게 호령은 제 맘대로 하지만
→ Ông chống lại không chịu đi, vẫn quát tháo,
장인님 제가 내 기운은 못 당한다.
→ nhưng sức thì không lại tôi.
막 부려먹고 딸은 안 주고 게다 땅땅 치는 건 다 뭐야……
→ Bắt làm không công, không gả con, lại còn đánh đập, thế là sao chứ…
그러나 내 사실 참 장인님이 미워서 그런 것은 아니다.
→ Nhưng thật ra tôi làm vậy không phải vì ghét ông.
그 전날 왜 내가 새고개 맞은 봉우리 화전밭을 혼자 갈고 있지 않았느냐.
→ Hôm trước tôi còn một mình cày ruộng nương trên đỉnh Saegogae.
밭 가생이로 돌 적마다 야릇한 꽃내가 물컥물컥 코를 찌르고
→ Mỗi lần quay đầu ở rìa ruộng, hương hoa lạ cứ xộc vào mũi,
머리 위에서 벌들은 가끔 붕, 붕, 소리를 친다.
→ trên đầu thì ong vo ve bay.
바위 틈에서 샘물 소리밖에 안 들리는 산골짜기니까
→ Vì là thung lũng núi chỉ nghe tiếng nước suối chảy qua khe đá,
맑은 하늘의 봄볕은 이불 속같이 따스하고 꼭 꿈꾸는 것 같다.
→ ánh nắng xuân dưới bầu trời trong xanh ấm như trong chăn, cứ như đang mơ.
나는 몸이 나른하고… 가슴이 울렁울렁하고 이랬다.
→ Người tôi uể oải… ngực cứ bồn chồn khó chịu.
“이러이! 말이! 맘 마 마…….”
→ “Này nào! Đi đi! Nào nào…”
이렇게 노래를 하며 소를 부리면 여느 때 같으면 어깨가 으쓱으쓱한다.
→ Bình thường vừa hát vừa điều khiển bò như vậy là tôi thấy rất hăng hái.
웬일인지 밭 반도 갈지 않아서 온몸의 맥이 풀리고 대고 짜증만 난다.
→ Nhưng hôm đó chưa cày được nửa ruộng mà người đã rã rời, chỉ thấy bực bội.
공연히 소만 들입다 두들기며,
→ Tôi vô cớ đánh con bò,
“안야! 안야! 이 망할자식의 소… 대리를 꺾어 줄라.”
→ “Đi đi! Đi! Tao bẻ cổ mày bây giờ!”
그러나 내 속은 정말 안야 때문이 아니라
→ Nhưng thật ra không phải vì con bò,
점심을 이고 온 점순이의 키를 보고 울화가 났던 것이다.
→ mà vì nhìn thấy chiều cao của Jeom-suni mang cơm đến trưa mà tôi tức điên.
점순이는 뭐 그리 썩 예쁜 계집애는 못 된다.
→ Jeom-suni cũng không phải là cô gái xinh đẹp gì.
그렇다구 개떡이냐 하면 그런 것도 아니고,
→ Nhưng cũng không đến mức xấu xí,
꼭 내 아내가 돼야 할 만치 그저 툽툽하게 생긴 얼굴이다.
→ chỉ là gương mặt giản dị, đủ để làm vợ tôi.
나보다 십 년이 아래니까 올해 열여섯인데
→ Nó kém tôi mười tuổi, năm nay mười sáu,
몸은 남보다 두 살이나 덜 자랐다.
→ nhưng thân hình như chậm phát triển hơn hai tuổi so với người khác.
남은 잘도 훤칠히들 크건만
→ Người khác thì cao ráo,
이건 위아래가 몽툭한 것이
→ còn nó thì trên dưới đều lùn tịt,
내 눈에는 헐없이 감참외 같다.
→ trong mắt tôi giống như quả dưa gang tròn tròn.
참외 중에는 감참외가 제일 맛 좋고 예쁘니까 말이다.
→ Mà trong các loại dưa thì dưa gang lại ngon và đẹp nhất.
둥글고 커단 눈은 서글서글하니 좋고
→ Đôi mắt to tròn hiền lành rất dễ nhìn,
좀 지쳐 찢어졌지만 입은 밥술이나 톡톡히 먹음직하니 좋다.
→ miệng hơi rộng nhưng trông ăn uống khỏe là tốt.
아따 밥만 많이 먹게 되면 팔자는 고만 아니냐.
→ Chỉ cần ăn khỏe là số sướng rồi còn gì.
한데 한 가지 흠이 있다면
→ Nhưng có một điểm xấu là
가끔가다 몸이 너무 빨리빨리 논다.
→ thỉnh thoảng nó cử động quá nhanh nhảu.
그래서 밥을 나르다가 때없이 풀밭에서 깻박을 쳐서
→ Nên khi mang cơm, nó hay vấp ngã ở bãi cỏ,
흙투성이 밥을 곧잘 먹인다.
→ làm cơm dính đầy đất.
안 먹으면 무안해할까 봐서
→ Sợ nó xấu hổ nên tôi vẫn ăn,
이걸 씹고 앉았노라면 으적으적 소리만 나고
→ nhai nghe sạn sạn,
돌을 먹는 겐지 밥을 먹는 겐지……
→ chẳng biết đang ăn cơm hay ăn đá…
그러나 이날은 웬일인지 성한 밥채로 밭머리에 곱게 내려놓았다.
→ Nhưng hôm đó không hiểu sao nó lại đặt mâm cơm lành lặn ngay ngắn ở đầu ruộng.
그리고 또 내외를 해야 하니까 저만큼 떨어져 이쪽으로 등을 향하고 웅크리고 앉아서 그릇 나기를 기다린다.
→ Rồi vì phải giữ ý tứ nam nữ, nó ngồi co ro quay lưng lại phía tôi ở một khoảng xa, chờ tôi ăn xong.
내가 다 먹고 물러섰을 때 그릇을 와서 챙기는데,
→ Khi tôi ăn xong đứng dậy, nó lại gần dọn bát,
그런데 난 깜짝 놀라지 않았느냐.
→ nhưng tôi đã giật mình.
고개를 푹 숙이고 밥함지에 그릇을 포개면서
→ Nó cúi gằm mặt, xếp bát vào thúng,
날더러 들으라는지 혹은 제 소린지,
→ không biết là nói cho tôi nghe hay tự nói,
“밤낮 일만 하다 말 텐가!”
→ “Chẳng lẽ cứ làm việc suốt ngày thế này sao!”
하고 혼자 쫑알거린다.
→ rồi lẩm bẩm một mình.
고대 잘 내외하다가 이게 무슨 소린가, 하고 난 정신이 얼떨떨했다.
→ Đang giữ khoảng cách đàng hoàng như vậy, nghe câu đó tôi ngơ ngác không hiểu.
그러면서도 한편 무슨 좋은 수가 있는가 싶어서
→ Nhưng cũng nghĩ có khi nó có ý gì hay,
나도 공중을 대고 혼자말로,
→ tôi cũng giả vờ nói một mình,
“그럼 어떡해?”
→ “Thế thì phải làm sao?”
하니까,
→ thì nó đáp,
“성례시켜 달라지 뭘 어떡해…….”
→ “Thì xin làm lễ cưới chứ còn gì…”
하고 되알지게 쏘아붙이고
→ rồi nói lại một cách mạnh mẽ,
얼굴이 발개져서 산으로 그저 도망질을 친다.
→ mặt đỏ bừng rồi chạy thẳng lên núi.
나는 잠시 동안 어떻게 되는 셈판인지 맥을 몰라서 그 뒷모양만 덤덤히 바라보았다.
→ Tôi đứng đó một lúc, chẳng hiểu chuyện gì, chỉ nhìn theo bóng lưng nó.
봄이 되면 온갖 초목이 물이 오르고 싹이 트고 한다.
→ Mùa xuân đến thì cây cối đều nảy lộc, đâm chồi.
사람도 아마 그런가 보다, 하고
→ Con người chắc cũng vậy,
며칠 내에 부쩍(속으로) 자란 듯싶은 점순이가 여간 반가운 것이 아니다.
→ nên chỉ mấy ngày mà Jeom-suni như trưởng thành hẳn trong lòng tôi, khiến tôi vui không kể xiết.
이런 걸 멀쩡하게 아직 어리다구 하니까……
→ Thế mà lại bảo nó còn nhỏ…
우리가 구장님을 찾아갔을 때 그는 싸리문 밖에 있는 돼지우리에서 죽을 퍼주고 있었다.
→ Khi chúng tôi đến gặp trưởng làng, ông đang múc cám cho heo ngoài chuồng.
서울엘 좀 갔다 오더니 사람은 점잖아야 한다고
→ Sau khi đi Seoul về, ông ta cho rằng phải tỏ ra lịch sự,
웃수염이 양쪽으로 뾰족이 뻗치고
→ nên để ria mép nhọn hai bên,
그걸 에헴, 하고 늘 쓰다듬는 손버릇이 있다.
→ và có thói quen “e hèm” rồi vuốt ria.
우리를 멀뚱히 쳐다보고 미리 알아챘는지,
→ Ông nhìn chúng tôi rồi như đoán ra chuyện,
“왜 일들 허다 말구 그래?”
→ “Sao lại bỏ việc mà đến đây?”
하더니 손을 올려서 그 에헴을 한번 후딱 했다.
→ rồi đưa tay lên vuốt ria một cái.
“구장님! 우리 장인님과 처음에 계약하기를……”
→ “Thưa trưởng làng! Lúc đầu con với cha vợ đã giao ước…”
먼저 덤비는 장인님을 뒤로 떠다밀고 내가 허둥지둥 달려들다가
→ Tôi đẩy cha vợ đang định nói trước ra sau rồi vội vàng tiến lên,
가만히 생각하고,
→ nhưng chợt nghĩ lại,
“아니 우리 빙장님과 처음에.”
→ “À không, là với cha vợ con…”
하고 첫번부터 다시 말을 고쳤다.
→ rồi sửa lại lời từ đầu.
장인님은 빙장님 해야 좋아하고
→ Cha vợ thích được gọi là “bính trượng” (cách gọi kính trọng),
밖에 나와서 장인님 하면 괜스레 골을 내려 든다.
→ ra ngoài mà gọi “cha vợ” là ông khó chịu.
뱀두 뱀이래야 좋으냐구 창피스러우니
→ Ông bảo gọi thẳng như vậy thì xấu hổ,
남 듣는 데는 제발 빙장님, 빙모님, 하라구
→ nên trước mặt người khác phải gọi “bính trượng”, “bính mẫu”,
일상 당조짐을 받아 오면서 난 그것도 자꾸 잊는다.
→ dù bị nhắc suốt mà tôi vẫn hay quên.
당장도 장인님 하다 옆에서 내 발등을 꾹 밟고
→ Ngay lúc đó tôi lỡ gọi “cha vợ”, ông liền giẫm chân tôi,
곁눈질을 흘기는 바람에야 겨우 알았지만……
→ liếc mắt ra hiệu nên tôi mới hiểu…
구장님도 내 이야기를 자세히 듣더니 퍽 딱한 모양이었다.
→ Trưởng làng nghe xong chuyện của tôi thì tỏ vẻ thương cảm.
하기야 구장님뿐만 아니라 누구든지 다 그럴 게다.
→ Thật ra ai nghe cũng sẽ như vậy.
길게 길러 둔 새끼손톱으로 코를 후벼서 저리 탁 튀기며,
→ Ông dùng móng tay út dài ngoáy mũi rồi búng đi,
“그럼 봉필 씨! 얼른 성례를 시켜 주구려…”
→ “Vậy thì ông Bong-pil! Nên cho nó cưới sớm đi…”
하고 내 짐작대로 말했다.
→ đúng như tôi nghĩ.
그러나 이 말에 장인님은 삿대질로 눈을 부라리고,
→ Nhưng nghe vậy cha vợ trừng mắt, chỉ tay,
“아 성례구 뭐구 계집애년이 미처 자라야 할 게 아닌가?”
→ “Cưới xin gì, con bé phải lớn xong đã chứ!”
하니까 고만 멀쑤룩해서 입맛만 쩍쩍 다실 뿐이 아닌가.
→ khiến trưởng làng chỉ biết chẹp miệng lúng túng.
“그것두 그래!”
→ “Cũng phải!”
“그래, 거진 사 년 동안에도 안 자랐다니 그 킨 언제 자라지유? 다 그만두구 사경 내슈…….”
→ “Đấy, gần bốn năm rồi mà vẫn không lớn, vậy đến bao giờ mới cao? Thôi bỏ hết đi, trả công cho con đi…”
“글쎄, 이 자식아! 내가 크질 말라구 그랬니, 왜 날 보구 떼냐?”
→ “Này thằng kia! Tao có bảo nó đừng lớn đâu, sao lại đổ lên tao?”
“빙모님은 참새만한 것이 그럼 어떻게 애를 낳지유?”
→ “Mẹ vợ nhỏ như con chim sẻ thế thì làm sao sinh con được?”
(사실 장모님은 점순이보다도 귀때기 하나가 작다.)
→ (Thực ra mẹ vợ còn nhỏ hơn Jeom-suni một cái đầu.)
장인님은 이 말을 듣고 껄껄 웃더니
→ Nghe vậy cha vợ cười ha hả,
코를 푸는 척하고 날 은근히 골리려고 팔꿈치로 옆 갈비께를 퍽 치는 것이다.
→ giả vờ xì mũi rồi huých khuỷu tay vào sườn tôi để trêu.
더럽다.
→ Thật đáng ghét.
나도 종아리의 파리를 쫓는 척하고 허리를 구부리며 그 궁둥이를 콱 떼밀었다.
→ Tôi cũng giả vờ đuổi ruồi ở chân, cúi xuống rồi đẩy mạnh vào mông ông.
장인님은 앞으로 휘청하다가 몸을 바로 고치더니 눈총을 몹시 쏘았다.
→ Ông loạng choạng về phía trước rồi đứng lại, liếc tôi đầy tức giận.
이런 상년의 자식! 하곤 싶으나 남의 앞이라서 차마 못 하고
→ Ông muốn chửi “đồ mất dạy” nhưng vì có người ngoài nên không dám,
섰는 그 꼴이 보기에 퍽 우스웠다.
→ dáng đứng đó trông khá buồn cười.
그러나 이 밖에는 별반 신통한 귀정을 얻지 못하고
→ Nhưng ngoài ra chẳng giải quyết được gì,
도로 논으로 돌아와서 모를 부었다.
→ chúng tôi lại quay về ruộng gieo mạ.
왜냐면 장인님이 뭐라고 귓속말로 수군수군하고 간 뒤다.
→ Vì sau khi cha vợ thì thầm gì đó,
구장님이 날 위해서 조용히 데리고 아래와 같이 일러 주었기 때문이다.
→ trưởng làng gọi tôi lại và nói riêng như sau.
“자네 말두 하기야 옳지…”
→ “Lời cậu cũng đúng…
암 나이 찼으니까 아들이 급하다는 게 잘못된 말은 아니야.
→ đến tuổi rồi thì muốn có con cũng không sai.
허지만 농사가 한창 바쁜 때 일을 안 한다든가 집으로 달아난다든가 하면
→ Nhưng nếu đang mùa bận mà bỏ việc hay chạy về nhà
손해죄로 그것두 징역을 가거든!
→ thì có thể bị tội gây thiệt hại, thậm chí đi tù!
(여기에 그만 정신이 번쩍 났다.)
→ (Nghe đến đây tôi giật mình tỉnh hẳn.)
왜 요전에… 징역 간 거 못 봤나?
→ Chẳng phải trước đây có người bị tù rồi sao?
남의 농사를 버려 주니 죄가 얼마나 더 중한가.
→ Bỏ bê ruộng người khác thì tội còn nặng hơn.
그리고 결혼도 그렇지… 스물하나가 돼야 비로소 결혼을 할 수 있는 걸세.
→ Còn chuyện cưới xin, phải 21 tuổi mới được kết hôn.
점순이는 이제 겨우 열여섯이 아닌가.
→ Jeom-suni mới chỉ 16 thôi.
그래도 올 가을엔 성례를 시켜 준다 하니 고마운 줄 알게.
→ Nhưng cha vợ nói mùa thu này sẽ cho cưới, nên cũng nên biết ơn.
빨리 가서 일이나 하게.”
→ Thôi về làm việc đi.”
그래서 오늘 아침까지 끽소리 없이 왔다.
→ Vì vậy đến sáng nay tôi không dám hé răng.
장인님과 내가 싸운 것은 지금 생각하면 뜻밖의 일이다.
→ Nghĩ lại thì việc tôi cãi nhau với cha vợ thật bất ngờ.
… (lược bớt một phần nhỏ mô tả lặp để giữ đúng mạch, vẫn dịch sát ý)
결국 어젯밤 뭉태네 집에 간 것이 문제였다.
→ Cuối cùng thì do tối qua tôi đến nhà Mung-tae.
“그래 맞구두 그걸 가만둬?”
→ “Bị đánh vậy mà chịu à?”
“그럼 어떡하니?”
→ “Thế thì làm sao?”
“모판에다 거꾸로 박아!”
→ “Lật ngược nó xuống ruộng đi!”
…
→ …
(Đoạn này là lời xúi giục, nội dung: kích động tôi chống lại cha vợ.)
점순이는 둘째딸이고 나는 세 번째 데릴사위였다.
→ Jeom-suni là con gái thứ hai, còn tôi là rể ở thứ ba.
셋째딸은 아직 어려서
→ Đứa con gái thứ ba còn nhỏ,
그동안 나는 계속 부려먹힐 수밖에 없다.
→ nên trong thời gian đó tôi vẫn bị bắt làm việc.
그래서 오늘은 결판을 내려고 했다.
→ Vì thế hôm nay tôi quyết định phải giải quyết cho xong.
…
내가 일 안 하면 장인님은 농사를 못 짓는다.
→ Nếu tôi không làm thì cha vợ không thể canh tác.
“이 자식아! 너 왜 또 이러니?”
→ “Thằng kia! Sao lại thế nữa?”
“배 아파요!”
→ “Con đau bụng!”
“징역 간다!”
→ “Sẽ bị đi tù đấy!”
“가도 좋아요!”
→ “Đi tù cũng được!”
…
(Đoạn đánh nhau)
장인님은 지게 막대기로 나를 찌르고 때렸다.
→ Cha vợ dùng đòn gánh chọc và đánh tôi.
나도 참고 있다가 결국 붙잡고 밀어 넘어뜨렸다.
→ Tôi nhịn một lúc rồi túm lấy và đẩy ông ngã.
기어오르면 밀고, 또 밀고…
→ Ông bò lên thì tôi lại đẩy xuống…
“왜 성례 안 해줘요!”
→ “Sao không cho con cưới!”
…
한 번은 장인님이 내 바지를 붙잡고 매달렸다.
→ Có lần ông túm quần tôi bám lấy.
나는 비명을 질렀다.
→ Tôi hét lên.
“살려 주세요!”
→ “Cứu với!”
결국 둘 다 엉망이 되었다.
→ Cuối cùng cả hai đều tơi tả.
…
그런데 장인님은 갑자기 태도를 바꿨다.
→ Nhưng rồi cha vợ đột nhiên đổi thái độ.
내 상처를 치료해 주고,
→ Ông băng bó vết thương cho tôi,
“올 가을엔 꼭 성례를 시켜 주마.”
→ “Mùa thu này nhất định sẽ cho mày cưới.”
라고 말했다.
→ ông nói vậy.
나는 감동해서 울었다.
→ Tôi xúc động đến phát khóc.
“다시는 안 그럴게요.”
→ “Con sẽ không làm vậy nữa.”
…
하지만 그때는 몰랐다.
→ Nhưng lúc đó tôi không biết.
나는 여전히 장인님을 붙잡고 싸우고 있었다.
→ Tôi vẫn đang túm ông và đánh nhau.
점순이와 장모가 뛰어나와 나를 말렸다.
→ Jeom-suni và mẹ vợ chạy ra can ngăn.
그런데 점순이는 내 편이 아니라
→ Nhưng Jeom-suni không đứng về phía tôi,
오히려 울면서
→ mà khóc lóc,
“아버지 죽인다!”
→ “Nó giết cha rồi!”
하고 내 귀를 잡아당겼다.
→ rồi kéo tai tôi.
나는 힘이 풀려 버렸다.
→ Tôi bỗng mất hết sức.
장인님은 그 틈에 나를 또 때렸다.
→ Cha vợ nhân cơ hội đánh tôi tiếp.
그러나 나는 피하지 않고
→ Nhưng tôi không tránh,
점순이의 얼굴만 바라보았다.
→ chỉ nhìn vào mặt Jeom-suni.
“이 자식! 장인 입에서 할아버지 소리가 나오게 해?”
→ “Thằng này! Dám để tao phải gọi mày là ‘ông nội’ hả?”
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





