TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
BAN BIÊN TẬP TÀI LIỆU
DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN “만무방“
KHÔNG SAO CẢ
Kim Yu-jeong
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Vũ Thị Ngọc Anh – CSTT Kanata Thủ Đức
1. 산골에, 가을은 무르녹았다. Ở vùng núi sâu, mùa thu đã chín rộ.
2. 아름드리 노송은 삑삑히 늘어박혔다. Những cây thông cổ thụ to lớn mọc dày đặc chen chúc.
3. 무거운 송낙을 머리에 쓰고 건들건들. Những quả thông nặng trĩu như đội trên đầu, lắc lư theo gió.
4. 새새이 끼인 도토리, 벚, 돌배, 갈잎 들은 울긋불긋. Giữa đó là hạt dẻ, quả anh đào rừng, lê dại, lá khô… đủ màu rực rỡ.
5. 잔디를 적시며 맑은 샘이 쫄쫄거린다. Dòng suối trong róc rách làm ướt cả thảm cỏ.
6. 산토끼 두 놈은 한가로이 마주 앉아 그 물을 할짝거리고. Hai con thỏ rừng ngồi thong thả đối diện nhau, liếm nước.
7. 이따금 정신이 나는 듯 가랑잎은 부수수 하고 떨린다. Thỉnh thoảng như chợt tỉnh, lá khô lại xào xạc rung lên.
8. 산산한 산들바람. Làn gió núi nhẹ nhàng.
9. 귀여운 들국화는 그 품에 새뜩새뜩 넘논다. Những bông cúc dại đáng yêu đung đưa trong làn gió ấy.
10. 흙내와 함께 향긋한 땅김이 코를 찌른다. Mùi đất ẩm hòa cùng hương thơm dễ chịu xộc vào mũi.
11. 요놈은 싸리버섯, 요놈은 잎 썩은 내, 또 요놈은 송이―— Cái này là nấm dại, cái kia là mùi lá mục, còn cái kia là nấm thông—
12. 아니, 아니, 가시넝쿨 속에 숨은 박하풀 냄새로군. Không, không, là mùi bạc hà ẩn trong bụi gai.
13. 응칠이는 뒷짐을 딱 지고 어정어정 노닌다.
Eungchil chắp tay sau lưng, lững thững dạo chơi.
14. 유유히 다리를 옮겨 놓으며 이나무 저나무 사이로 호아든다. Anh thong thả bước đi, len lỏi giữa cây này cây kia.
15. 코는 공중에서 벌렸다 오므렸다 연신 이러며 훅, 훅. Mũi anh phập phồng trong không khí, hít hít liên tục.
16. 구붓한 한 송목 밑에 이르자 그는 발을 멈춘다. Khi đến dưới một gốc thông cong, anh dừng lại.
17. 이번에는 지면에 코를 얕이 갖다 대고 한 바퀴 비잉, 나물 끼고 돌았다.
18. Lần này anh cúi sát mũi xuống đất, xoay một vòng quanh bụi cây.
19. ‘아하, 요놈이로군!’ “À ha, chính là nó rồi!”
20. 썩은 솔잎에 덮이어 흙이 봉곳이 돋아 올랐다. Dưới lớp lá thông mục, đất nhô lên thành một ụ nhỏ.
21. 그는 손가락을 꾸짖으며 정성스레 살살 헤쳐 본다. Anh dùng tay bới nhẹ nhàng, cẩn thận.
22. 과연 귀여운 송이. Quả đúng là một cây nấm thông xinh xắn.
23. 망할 녀석, 조금만 더 나오지, Đồ đáng ghét, giá mà mọc thêm chút nữa,
24. 그걸 뚝 따들고 뒷짐을 지고 다시 어실렁어실렁. Anh bứt nó ra, lại chắp tay sau lưng mà lững thững đi.
25. 가끔 선하품은 터진다. Thỉnh thoảng anh ngáp dài.
26. 그럴 적마다 두 팔을 떡 벌리곤 먼 하늘을 바라보고 늘어지게도 기지개를 늘인다. Mỗi lần như vậy, anh dang rộng hai tay, nhìn trời xa và vươn vai thật thoải mái.
27. 때는 한창 바쁠 추수 때이다. Đó là mùa thu hoạch bận rộn nhất.
28. 농군치고 송이파적 나올 놈은 생겨나도 않았으리라. Với nông dân thì chẳng ai rảnh đi hái nấm.
29. 하나 그는 꼭 해야만 할 일이 없었다. Nhưng anh thì chẳng có việc gì bắt buộc phải làm.
30. 싶으면 하고 말면 말고 그저 그뿐. Muốn thì làm, không thì thôi, chỉ vậy thôi.
31. 그러함에는 먹을 것이 더러 있느냐면 있기는커녕 부쳐 먹을 농토조차 없는, Nhưng nói là có cái ăn thì cũng chẳng có, đến ruộng đất để canh tác cũng không có,
32. 계집도 없고 자식도 없고. Không vợ, không con.
33. 방은 있대야 남의 곁방이요 잠은 새우잠이요. Có chỗ ở thì cũng là ở nhờ, ngủ thì co ro như tôm.
34. 하지만 오늘 아침만 해도 한 친구가 찾아와서 벼를 털 텐데 일 좀 와 해달라는 걸 마다하였다. Nhưng ngay sáng nay, có một người bạn đến nhờ anh giúp đập lúa, anh cũng từ chối.
35. 몇 푼 바람에 그까짓 걸 누가 하느냐보다는 송이가 좋았다. So với chút tiền ít ỏi đó, anh thích đi hái nấm hơn.
36. 왜냐면 이 땅 삼천리 강산에 늘여 놓인 곡식이 말짱 뉘 것이람. Bởi vì lúa gạo trải khắp đất nước này rốt cuộc là của ai chứ?
37. 먼저 먹는 놈이 임자 아니냐. Ai ăn trước thì là của người đó, chẳng phải sao?
38. 먹다 걸릴 만치 그토록 양식을 쌓아 두고 일이 다 무슨 난장맞을 일이람. Tích trữ lương thực đến mức ăn không hết rồi còn làm lụng thì thật vô nghĩa.
39. 걸리지 않도록 먹을 궁리나 할 게지. Thà nghĩ cách ăn mà không bị bắt còn hơn.
40. 하기는 그도 한 세 번이나 걸려서 구메밥으로 사관을 틀었다. Thực ra anh cũng từng bị bắt vài lần, phải ăn cơm tù.
41. 마는 결국 제 밥상 위에 올라앉은 제 몫도 자칫하면 먹다 걸리긴 매일반. Nhưng rốt cuộc thì ngay cả phần ăn của mình cũng có thể bị bắt bất cứ lúc nào.
42. 올라갈수록 덤불은 욱었다. Càng lên cao, bụi rậm càng dày đặc.
43. 머루며 다래, 칡, 게다 이름 모를 잡초. Nào là nho rừng, kiwi rừng, dây sắn, và cả những loại cỏ dại không tên.
44. 이것들이 위아래로 이리저리 서리어 좀체 길을 내지 않는다. Chúng quấn chặt khắp nơi khiến không thể mở lối.
45. 그는 잔디길로만 돌았다. Anh chỉ đi vòng theo lối cỏ.
46. 넓적다리가 벌쭉이는 찢어진 고의자락을 아끼며 조심조심 사려 딛는다. Anh cẩn thận bước đi để khỏi làm rách thêm tà quần.
47. 손에는 칡으로 엮어 든 일곱 개 송이. Trên tay cầm bảy cây nấm buộc bằng dây sắn.
48. 늙은소나무마다 가선 두리번거린다. Đến mỗi gốc thông già, anh lại đảo mắt tìm kiếm.
49. 사냥개 모양으로 코로 쿡, 쿡, 내를 한다. Anh đánh hơi như chó săn, hít hít bằng mũi.
50. 이것도 송이 같고 저것도 송이 같고. Cái này cũng giống nấm, cái kia cũng giống.
51. 어떤 게 알짜 송이인지 분간을 모른다. Không phân biệt được đâu là nấm ngon thật.
52. 토끼똥이 소보록한 데 갈잎이 한 잎 뚝 떨어졌다. Ở chỗ có phân thỏ, một chiếc lá khô rơi xuống.
53. 그 잎을 살며시 들어 보니 송이 대구리가 불쑥 올라왔다. Nhẹ nhàng nhấc lá lên thì thấy đầu nấm trồi lên.
54. 매우 큰 송이인 듯. Có vẻ là một cây nấm rất to.
55. 그는 반색하여 그 앞에 무릎을 털썩 꿇었다. Anh mừng rỡ quỳ sụp xuống trước nó.
56. 그리고 그 위에 두 손을 내들며 열 손가락을 다 펴들었다. Rồi đưa hai tay ra, xòe cả mười ngón.
57. 가만가만히 살살 흙을 헤쳐 본다. Nhẹ nhàng bới đất.
58. 주먹만한 송이가 나타난다. Một cây nấm to bằng nắm tay lộ ra.
59. 얘 이놈 크구나. Ôi, thằng này to thật!
60. 손바닥 위에 따 올려놓고는 한참 들여다보며 싱글벙글한다. Anh đặt nó lên lòng bàn tay, nhìn ngắm rồi cười tươi.
61. 우중충한 구석으로 바위는 벽같이 깎아질렀다. Ở góc u tối, vách đá dựng đứng như bức tường.
62. 그 중턱을 얽어 나간 칡잎에서는 물이 쪼록쪼록 흘러내린다. Từ những dây sắn bám trên đó, nước nhỏ giọt xuống.
63. 인삼이 썩어 내리는 약수라 한다. Người ta nói đó là nước suối có vị như nhân sâm.
64. 그는 돌 위에 걸터앉으며 또 한번 하품을 하였다. Anh ngồi lên tảng đá và lại ngáp.
65. 간밤 쓸데없는 노름에 밤을 팬 것이 몹시 나른하였다. Vì thức đêm đánh bạc nên anh rất mệt.
66. 따사로운 햇발이 숲을 새어든다. Ánh nắng ấm len vào rừng.
67. 다람쥐가 솔방울을 떨어치며, 어여쁜 할미새는 앞에서 알씬거리고. Sóc làm rơi quả thông, chim nhỏ bay lượn phía trước.
68. 동리에서는 타작을 하느라고 와글거린다. Trong làng rộn ràng tiếng đập lúa.
69. 흥겨워 외치는 목성, 그걸 억누르고 공중에 응, 응, 진동하는 벼 터는 기계 소리. Tiếng hò reo vui vẻ xen lẫn âm thanh máy đập lúa vang rền.
70. 맞은쪽 산속에서 어린 목동들의 노래는 처량히 울려 온다. Từ phía núi đối diện, tiếng hát buồn của lũ trẻ chăn bò vang vọng.
71. 산속에 묻힌 마을의 전경을 멀리 바라보다가 그는 눈을 찌긋하며 다시 한번 하품을 뽑는다. Nhìn xa cảnh làng ẩn trong núi, anh lại nheo mắt và ngáp thêm lần nữa.
72. 이 웬놈의 하품일까. Sao lại ngáp nhiều thế này?
73. 생각해보니 어젯저녁부터 여태껏 창자가 곯렸던 것이다. Nghĩ ra thì từ tối qua đến giờ anh chưa ăn gì.
74. 불현듯 송이꾸러미에서 그중 크고 먹음직한 놈을 하나 뽑아 들었다. Bất chợt anh lấy ra một cây nấm to và ngon nhất.
75. 응칠이는 그 송이를 물에 써억써억 부벼서는 떡 벌어진 대구리부터 걸쌍스레 덥석 물어 떼었다. Anh chà nấm qua nước rồi cắn mạnh vào phần đầu nấm.
76. 그리고 넓죽한 입이 움질움질 씹는다. Cái miệng rộng của anh nhai ngấu nghiến.
77. 혀가 녹을 듯이 만질만질하고 향기로운 그 맛. Vị mềm mịn, thơm ngon như tan trên đầu lưỡi.
78. 이렇게 훌륭한 놈을 입맛만 다시고 못 먹다니. Một thứ ngon như vậy mà trước giờ chỉ biết thèm chứ không được ăn.
79. 문득 옛 추억이 혀끝에 뱅뱅 돈다. Ký ức xưa chợt quay lại nơi đầu lưỡi.
80. 이놈을 맛보는 것도 참 근자의 일이다. Việc được nếm thứ này cũng chỉ mới xảy ra gần đây thôi.
81. 감불생심이지 어디 냄새나 똑똑히 맡아 보리. Đâu dám mơ tưởng (vượt phận), có khi chỉ mong được ngửi cho rõ mùi thôi.
82. 산속으로 쏘다니다 백판 못 따기도 하려니와 더러 딴다는 놈은 행여 상할까 봐 손도 못 대게 하고 집에 내려다 묻고 묻고 하는 것이다. Lang thang trong rừng có khi cả trăm lần cũng chẳng hái được, mà có khi hái được thì lại sợ hỏng nên không cho ai đụng vào, cứ mang về nhà cất giấu kỹ càng.
83. 그러나 요행히 한 꾸러미 차면 금시로 장에 가져다 판다. Nhưng nếu may mắn gom được một gùi thì lập tức đem ra chợ bán ngay.
84. 이틀 사흘씩 공들인 거로되 잘 하면 사십 전, 못 받으면 이십오 전. Dù mất công hai ba ngày, may thì được bốn mươi jeon, không thì chỉ hai mươi lăm jeon.
85. 저녁거리를 기다리는 아내를 생각하며 좁쌀 서너 되를 손에 사들고 어두운 고개를 터덜터덜 올라오는 건 좋으나
Vừa nghĩ đến người vợ đang chờ bữa tối, tay cầm vài đấu kê mà lầm lũi leo qua con dốc tối tăm thì cũng thấy vui,
86. 이 신세를 뭐에 쓰나 하고 보면 을프냥궂기가 짝이 없겠고― Nhưng nghĩ lại thân phận này thì thật đáng chán chường, chẳng để làm gì cả—
87. 이까짓 걸 못 먹어 그래 홧김에 또 한 놈을 뽑아 들고 Chỉ vì không được ăn thứ này nên bực tức, hắn lại nhổ thêm một cây nữa,
88. 이번엔 물에 흙도 씻을 새 없이 그대로 텁석거린다. Lần này chẳng kịp rửa đất bằng nước mà ăn ngấu nghiến luôn.
89. 그러나 다른 놈들도 별 수 없으렷다. Nhưng những cái khác cũng chẳng khá hơn là bao.
90. 이 산골이 송이의 본고향이로되 아마 일년에 한 개조차 먹는 놈이 드물리라. Dù vùng núi này là quê hương của nấm thông, nhưng có lẽ cả năm cũng hiếm ai được ăn lấy một cái.
91. ‘흠, 썩어진 두상들!’ “Hừ, lũ đầu óc mục nát!”
92. 그는 폭넓은 얼굴을 일그리며 남이나 들으란 듯이 이렇게 비웃는다. Hắn nhăn khuôn mặt to bè, cười nhạo như thể để người khác nghe thấy.
93. 썩었다 함은 데생겼다 모멸하는 그의 언투였다. Từ “thối nát” là cách hắn khinh miệt người khác.
94. 먹다 나머지 송이 꽁댕이를 바로 자랑스러이 입에다 치뜨리곤 Ăn xong, hắn còn ngạo nghễ đưa phần cuống nấm còn lại lên miệng,
95. 트림을 섞어 가며 우물거린다. Vừa ợ vừa nhai nhồm nhoàm.
96. 송이 두 개가 들어가니 이제는 더 먹을 재미가 없다. Ăn hai cái nấm xong thì chẳng còn hứng ăn nữa.
97. 뭔가 좀 든든한 걸 먹었으면 좋겠는데. Hắn muốn ăn thứ gì đó chắc bụng hơn.
98. 떡, 국수, 말고기, 개고기, 돼지고기 그렇지 않으면 쇠고기냐. Bánh gạo, mì, thịt ngựa, thịt chó, thịt heo, hay là thịt bò?
99. 아따 궁한 판이니 아무 거나 있으면 속중으로 여러 가질 먹으며 시름없이 앉았다. Chà, lúc túng thiếu thế này thì có gì ăn nấy, tưởng tượng đủ thứ rồi ngồi thẫn thờ.
100. 그는 눈꼴이 슬그러미 돌아간다. Ánh mắt hắn dần lờ đờ đi.
101. 웬놈의 닭인지 암탉 한 마리가 조 아래 무덤 앞에서 뺑뺑 맨다. Không biết con gà ở đâu, một con mái đang quanh quẩn trước ngôi mộ dưới chân đồi.
102. 골골거리며 감도는 걸 보매 아마 알자리를 보는 맥이라. Nhìn nó lượn vòng kêu cục tác, có vẻ đang tìm chỗ đẻ trứng.
103. 그는 돌에서 궁뎅이를 들었다. Hắn đứng dậy khỏi tảng đá.
104. 낮은 하늘로 외면하여 못 본 척하고 닭을 향하여 저켠으로 널찍이 돌아 내린다. Hắn quay mặt đi như không thấy, rồi vòng rộng về phía con gà.
105. 그러나 무덤까지 왔을 때 몸을 돌리며, Nhưng khi đến gần mộ, hắn quay người lại,
106. “후, 후, 후, 이 자식이 어딜 가 후―” “Hừ, hừ, hừ, mày định đi đâu hả—”
107. 두 팔을 벌리고 쫓아간다. Dang hai tay đuổi theo.
108. 산꼭대기로 치모니 닭은 허둥지둥 갈 길을 모른다. Bị dồn lên đỉnh núi, con gà hoảng loạn không biết chạy đâu.
109. 요리 매낀 조리 매낀, 꼬꼬댁거리며 속만 태울 뿐. Nó chạy loạn xạ, kêu quang quác mà chỉ thêm rối.
110. 그러나 바위틈에 끼어 왁살스러운 그 주먹에 모가지가 둘로 나기에는 불과 몇 분 못 걸렸다. Chẳng mấy chốc, bị dồn vào khe đá, cổ nó đã bị bàn tay hung hãn kia bẻ gãy.
111. 그는 으슥한 숲속으로 찾아들었다. Hắn chui vào một góc rừng vắng vẻ.
112. 닭의 껍질을 홀랑 까고서 두 다리를 들고 찢으니 배창이 옆구리로 꿰진다. Hắn lột da gà, cầm hai chân xé toạc, ruột lòi ra bên sườn.
113. 그놈은 긁어 뽑아서 껍질과 한데 뭉치어 흙에 묻어 버린다. Hắn moi ra rồi gom cùng da, chôn xuống đất.
114. 고기가 생기고 보니 연하여 나느니 막걸리 생각. Có thịt rồi thì lại nghĩ đến rượu makgeolli.
115. 이걸 부글부글 끓여 놓고 한 사발 떡 겯으면 똑 좋을 텐데 제―기. Giá mà nấu sôi lên rồi ăn cùng một bát bánh gạo thì tuyệt biết mấy—chết tiệt.
116. 응칠이의 고기는 어디 떨어졌는지 술집까지 못 가는 고기였다. Nhưng thịt của Eungchil thì chẳng thể mang đến quán rượu.
117. 아무려나 고기 먹고 술 먹고 거꾸론 못 먹느냐. Dù sao thì ăn thịt trước rồi uống rượu sau cũng được.
118. 그는 닭의 가슴패기를 입에 들여대고 쭉 찢어가며 먹기 시작한다. Hắn cắn vào ức gà rồi xé ra mà ăn.
119. 쫄깃쫄깃한 놈이 제법 맛이 들었다. Thịt dai dai, khá ngon.
120. 가슴을 먹고 넓적다리, 볼기짝을 먹고 거반 반쯤을 다 해내고 나니 Ăn hết phần ức, rồi đến đùi và mông, gần như hết nửa con,
121. 어쩐지 맛이 좀 적었다. Nhưng lại thấy vị không được đậm đà.
122. 결국 음식이란 양념을 해야 하는군. Quả nhiên thức ăn phải có gia vị mới ngon.
123. 수풀 속으로 그냥 내던지고 그는 설렁설렁 내려온다. Hắn ném phần còn lại vào bụi rồi thong thả đi xuống.
124. 솔숲을 빠져 화전께로 내리려 할 때 별안간 등뒤에서, Khi vừa ra khỏi rừng thông định xuống nương rẫy, bỗng phía sau có tiếng gọi,
125. “여보게, 저 응칠이 아닌가.” “Này, kia chẳng phải Eungchil sao?”
126. 고개를 돌려 보니 대장간 하는 성팔이가 작달막한 체수에 들갑작거리며 고개를 넘어온다. Quay lại thì thấy Seongpal – thợ rèn, dáng thấp lùn – đang hớt hải chạy qua đèo.
127. 그런데 무슨 긴한 일이나 있는지 부리나케 달려들더니, Không biết có chuyện gấp gì mà hắn vội vàng chạy đến,
128. “자네 응고개 논의 벼 없어진 거 아나?” “Cậu biết lúa ở ruộng Eunggogae bị mất không?”
129. 응칠이는 그만 가슴이 덜컥 내려앉았다. Eungchil bỗng thấy tim như rơi xuống.
130. 이 바쁜 때 농군의 몸으로 응고개까지 앨 써 갈 놈도 없으려니와 Vào lúc bận rộn này, chẳng có nông dân nào rảnh mà lên tận đó,
131. 또한 하필 절 보고 벼의 없어짐을 말하는 것이 여간 심상치 않은 일이었다. Hơn nữa lại nói chuyện mất lúa ngay trước mặt hắn, thật không phải chuyện bình thường.
132. 잡담 제하고 응칠이는, Bỏ qua chuyện phiếm, Eungchil hỏi,
133. “자넨 어째서 응고개까지 갔던가?” “Sao cậu lại lên tận Eunggogae?”
134. 하고 대담스레 그 눈을 쏘아보았다. Rồi nhìn chằm chằm đầy thách thức.
135. 그러나 성팔이는 조금도 겁먹은 기색 없이, Nhưng Seongpal không hề tỏ ra sợ hãi,
136. “아 어쩌다 지났지 뭘 그래.” “À, chỉ tình cờ đi ngang thôi mà.”
137. 하며 도리어 얼레발을 치고 덤비는 수작이다. Ngược lại còn tỏ ra trơ trẽn.
138. 고얀 놈, 응칠이는 입때 다녀야 동무를 팔아 배를 채우고 그런 비열한 짓은 안 한다. Đồ đáng ghét, từ trước đến nay Eungchil chưa từng bán đứng bạn bè để no bụng, làm chuyện hèn hạ như vậy.
139. 낯을 붉히자 눈에 불이 보이며, Mặt hắn đỏ lên, mắt như bốc lửa,
140. “어쩌다 지냈다?” “Chỉ là đi ngang thôi à?”
141. 응칠이가 이 동리에 들어온 것은 어느덧 달이 넘었다. Eungchil đến ngôi làng này đã hơn một tháng.
142. 인제는 물릴 때도 되었고, 좀 떠보고자 생각은 간절하나 Giờ cũng đến lúc chán, muốn rời đi,
143. 아우의 일로 말미암아 망설거리는 중이었다. Nhưng vì chuyện của em trai mà còn do dự.
144. 그는 오라는 데는 없어도 갈 데는 많았다. Dù không có nơi nào gọi, nhưng lại có vô số nơi để đi.
145. 산으로 들로 해변으로 발부리 놓이는 곳이 즉 가는 곳이다. Núi, đồng, bờ biển—bước chân đến đâu là đi đến đó.
146. 그러나 저물면은 그대로 쓰러진다. Nhưng khi trời tối thì nằm vật xuống ngủ luôn.
147. 남의 방앗간이고 헛간이고 혹은 강가, 시새장. Khi thì nhà xay lúa, khi thì chuồng trại, hoặc bên bờ sông.
148. 물론 수가 좋으면 괴때기 위에서 밤을 편히 잘 적도 있었다. Nếu may mắn thì còn được ngủ yên trên đống rơm.
149. 이렇게 하여 강원도 어수룩한 산골로 이리 넘고 저리 넘고 못 간 데 별로 없이 유람 겸 편답하였다. Cứ thế hắn lang thang khắp các vùng núi hẻo lánh Gangwon, gần như không nơi nào chưa đi qua.
150. 그는 한구석에 머물러 있음은 가슴이 답답할 만치 되우 괴로웠다. Ở yên một chỗ khiến hắn thấy ngột ngạt, khó chịu.
151. 그렇다고 응칠이가 본시 역마 직성이냐 하면 그런 것도 아니다. Nhưng nói hắn có bản tính lang bạt thì cũng không hẳn.
152. 그도 오 년 전에는 사랑하는 아내가 있었고 아들이 있었고 집도 있었고, Năm năm trước, hắn cũng có vợ yêu, có con trai, có nhà cửa,
153. 그때야 어딜 하루라도 집을 떨어져 보았으랴. Lúc đó, hắn chưa từng rời nhà dù chỉ một ngày.
154. 밤마다 아내와 마주 앉으면 어찌 하면 이 살림이 좀 늘어 볼까 불어 볼까, Mỗi tối ngồi với vợ, hắn luôn nghĩ cách làm ăn khá lên,
155. 애간장을 태우며 갖은 궁리를 되하고 되하였다마는, Đau đáu suy nghĩ đủ điều,
156. 별 뾰족한 수는 없었다. Nhưng chẳng có cách nào hay.
157. 농사는 열심으로 하는 것 같은데 알고 보면 남는 건 겨우 남의 빚뿐. Làm ruộng chăm chỉ nhưng rốt cuộc chỉ còn lại nợ nần.
158. 이러다가는 결말엔 봉변을 면치 못할 것이다. Cứ thế này thì sớm muộn cũng gặp họa.
159. 하루는 밤이 깊어서 코를 골며 자는 아내를 깨웠다. Một đêm khuya, hắn đánh thức vợ đang ngủ say.
160. 밖에 나아가 우리의 세간이 몇 개나 되는지 세어 보라 하였다. Bảo vợ ra ngoài đếm xem gia sản còn lại bao nhiêu.
161. 그리고 저는 벼루에 먹을 갈아 찍어 들었다. Còn hắn thì mài mực để ghi chép.
162. 벽에 바른 신문지는 누렇게 끄을렀다. Tờ báo dán tường đã ngả vàng.
163. 그 위에다 아내가 불러 주는 물목대로 일일이 내려 적었다. Hắn ghi lại từng món theo lời vợ đọc.
164. 독이 세 개, 호미가 둘, 낫이 하나로부터 밥사발, 젓가락, 짚이 석 단까지 Ba cái chum, hai cái cuốc, một cái liềm, đến bát ăn cơm, đũa, ba bó rơm,
165. 그 다음에는 제가 빚을 얻어온 데, 그 사람들의 이름을 쪽 적어 놓았다. Rồi ghi cả tên những người đã cho vay nợ.
166. 금액은 제각기 그 아래다 달아 놓고, Số tiền ghi ngay bên dưới,
167. 그 옆으론 조금 사이를 떼어 역시 조선문으로 Bên cạnh chừa khoảng trống rồi viết bằng chữ Hàn,
168. 나의 소유는 이것밖에 없노라. “Tài sản của tôi chỉ có bấy nhiêu.”
169. 나는 오십사 원을 갚을 길이 없으매 죄진 몸이라 도망하니 “Tôi không thể trả 54 won, là kẻ có tội nên bỏ trốn,”
170. 그대들은 아예 싸울 게 아니겠고 서로 의논하여 억울치 않도록 분배하여 가기 바라노라 하는 의미의 성명서를 벽에 남기자 “Xin mọi người đừng tranh chấp mà hãy chia nhau cho công bằng,”
171. 안으로 문들을 걸어 닫고 울타리 밑구멍으로 세 식구가 빠져나왔다. Viết xong, khóa cửa rồi cả gia đình chui qua lỗ hàng rào trốn đi.
172. 이것이 응칠이가 팔자를 고치던 첫날이었다. Đó là ngày đầu tiên Eungchil đổi vận.
173. 그들 부부는 돌아다니며 밥을 빌었다. Hai vợ chồng đi xin ăn khắp nơi.
174. 아내가 빌어다 남편에게, 남편이 빌어다 아내에게. Vợ xin cho chồng, chồng xin cho vợ.
175. 그러자 어느 날 밤 아내의 얼굴이 썩 슬픈 빛이었다. Một đêm, gương mặt vợ đầy buồn bã.
176. 눈보라는 살을 에인다. Gió tuyết cắt da.
177. 다 쓰러져 가는 물방앗간 한구석에서 Trong góc cối xay sắp sập,
178. 섬을 두르고 어린애에게 젖을 먹이며 떨고 있더니 Quấn chăn, cho con bú mà run rẩy,
179. 여보게유 하고 고개를 돌린다. Nàng quay lại gọi chồng,
180. 왜 하니까 그 말이, 이러다간 우리도 고생일 뿐더러 첫째 어린애를 잡겠수, Nói rằng: “Cứ thế này thì không chỉ khổ mà còn hại đứa nhỏ,”
181. 그러니 서로 갈립시다, 하는 것이다. “Thôi thì chúng ta chia tay đi.”
182. 하긴 그럴 법한 말이다. Quả là có lý.
183. 쥐뿔도 없는 것들이 붙어다닌댔자 별수는 없다. Hai kẻ chẳng có gì bám lấy nhau cũng chẳng ích gì.
184. 그보담은 서로 갈리어 제 맘대로 빌어먹는 것이 오히려 가뜬하리라. Thà chia ra mà tự lo còn nhẹ nhàng hơn.
185. 그는 선뜻 응낙하였다. Hắn lập tức đồng ý.
186. 아내의 말대로 개가를 해가서 젖먹이나 잘 키우고 몸 성히 있으면 Theo lời vợ, nàng tái giá, nuôi con khỏe mạnh,
187. 혹 연분이 닿아 다시 만날지도 모르니깐, Biết đâu có duyên lại gặp lại.
188. 마지막으로 아내와 같이 땅바닥에서 나란히 누워 하룻밤을 새고 나서 Đêm cuối cùng nằm cạnh nhau trên đất,
189. 날이 훤해지자 그는 툭툭 털고 일어섰다. Sáng ra hắn đứng dậy bỏ đi.
190. 매팔자란 응칠이의 팔자이겠다. Đúng là số phận lênh đênh của Eungchil.
191. 그는 버젓이 게트림으로 길을 걸어야 걸릴 것은 하나도 없다. Hắn nghênh ngang đi đường mà chẳng vướng bận gì.
192. 논 맬 걱정도, 호포 바칠 걱… Không lo làm ruộng, cũng chẳng lo nộp thuế…
193. 정도, 빚 갚을 걱정, 아내 걱정, 또는 굶을 걱정도. Những nỗi lo như trả nợ, lo cho vợ, hay lo bị đói cũng không còn.
194. 호동그란히 털고 나서니 팔자 중에는 아주 상팔자다. Gạt bỏ hết mọi thứ, cuộc đời hắn trở thành số sướng nhất.
195. 먹고만 싶으면 도야지구, 닭이구, 개구, 언제나 옆을 떠날 새 없겠지, 그리고 돈, 돈도. Chỉ cần muốn ăn thì có heo, gà, chó lúc nào cũng sẵn bên cạnh, rồi còn cả tiền nữa.
196. 그러나 주재소는 그를 노려보았다. Nhưng đồn cảnh sát luôn để mắt tới hắn.
197. 툭하면 오라, 가라, 하는데 학질이었다. Cứ hở ra là gọi lên gọi xuống, thật phiền phức.
198. 어느 동리고 가 있다가 불행히 일만 나면 누구보다도 그부터 붙들려 간다. Dù ở làng nào, hễ có chuyện xảy ra thì hắn luôn bị bắt đầu tiên.
199. 왜냐면 그는 전과 사범이었다. Vì hắn là kẻ có tiền án.
200. 처음에는 도박으로, 다음엔 절도로, 또 고 담에는 절도로, 절도로. Lúc đầu là đánh bạc, sau đó là trộm cắp, rồi lại tiếp tục trộm cắp
201. 그러나 이번 멀리 아우를 방문함은 생활이 궁하여 근대러 왔다거나 혹은 일을 해보러 온 것은 결코 아니었다. Nhưng lần này hắn đến thăm em trai không phải vì túng thiếu hay tìm việc làm.
202. 혈족이라곤 단 하나의 동생이요, 또한 오래 못 본지라 때없이 그리웠다. Người thân ruột thịt duy nhất là em trai, lâu không gặp nên nhớ da diết.
203. 그래 모처럼 찾아온 것이 뜻밖에 덜컥 일을 만났다. Vậy mà lần hiếm hoi ghé thăm lại gặp chuyện không ngờ.
204. 지금까지 논의 벼가 서 있다면 그것은 성한 사람의 짓이라 안 할 것이다. Nếu đến giờ lúa ngoài ruộng vẫn chưa gặt thì không phải việc của người bình thường.
205. 응오는 응고개 논의 벼를 여태 베지 않았다. Eungo vẫn chưa gặt lúa ở ruộng Eunggogae.
206. 물론 응오가 베어야 할 것이다. Lẽ ra Eungo phải gặt.
207. 누가 듣던지 그 형 응칠이를 먼저 의심하리라. Ai nghe cũng sẽ nghi ngờ người anh là Eungchil trước tiên.
208. 그럼 여기에 따르는 모든 책임을 응칠이가 혼자 지지 않으면 안 될 것이다. Khi đó mọi trách nhiệm sẽ đổ hết lên đầu Eungchil.
209. 응오는 진실한 농군이었다. Eungo là một người nông dân chân chất.
210. 나이 서른하나로 무던히 철났다 하고 동리에서 쳐주는 모범 청년이었다. 31 tuổi, chín chắn, được làng xóm xem là thanh niên gương mẫu.
211. 그런데 벼를 베지 않는다. Thế nhưng anh ta lại không gặt lúa.
212. 남은 다들 거둬 들였고 털기까지 하련만 그는 벨 생각조차 않는 것이다. Người khác đã thu hoạch và đập lúa xong, còn anh ta thì không hề nghĩ đến việc gặt.
213. 지주라든 혹은 그에게 장리를 놓은 김참판이든 뻔찔 찾아와 벼를 베라 독촉하였다. Địa chủ hay Kim Champan cho vay nặng lãi đều đến thúc giục gặt lúa.
214. “얼른 털어서 낼 건 내야지.” “Nhanh đập lúa rồi nộp phần phải nộp đi.”
215. 하면 그 대답은, Nhưng câu trả lời là:
216. “계집이 죽게 됐는데 벼는 다 뭐지유” “Vợ tôi sắp chết rồi, lúa thì còn nghĩa lý gì”
217. 하고 한결같이 내뱉는 소리뿐이었다. Anh ta chỉ lặp lại câu đó.
218. 하기는 응오의 아내가 지금 기지 사경이매 틈은 없었다 하더라도 Đúng là vợ Eungo đang nguy kịch nên không có thời gian,
219. 돈이 놀아서 약을 못 쓰는 이 판이니 진시 벼라도 털어야 할 것이다. Nhưng vì không có tiền mua thuốc nên đáng ra vẫn phải gặt lúa.
220. 그러면 왜 안 털었던가. Vậy tại sao lại không gặt?
221. 그것은 작년 응오와 같이 지주 문전에서 타작을 하던 친구라면 묻지는 않으리라. Ai từng đập lúa cùng anh trước cửa nhà địa chủ năm ngoái thì sẽ hiểu, không cần hỏi.
222. 한 해 동안 애를 졸이며 홑자식 모양으로 알뜰히 가꾸던 그 벼를 거둬 들임은 기쁨에 틀림없었다. Suốt một năm chăm sóc như con một, thu hoạch lúa đáng lẽ phải là niềm vui.
223. 꼭두새벽부터 엣, 엣, 하며 괴로움을 모른다. Từ sáng sớm đã làm việc không biết mệt.
224. 그러나 캄캄하도록 털고 나서 Nhưng sau khi đập lúa đến tối mịt,
225. 지주에게 도지를 제하고, 장리쌀을 제하고, 색초를 제하고 보니 Trừ tiền thuê ruộng, trừ lúa vay nặng lãi, trừ các khoản khác,
226. 남은 것은 등줄기를 흐르는 식은땀이 있을 따름. Chỉ còn lại mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng.
227. 그것은 슬프다 하기보다 끝없이 부끄러웠다. Không phải buồn mà là nhục nhã vô cùng.
228. 같이 털어 주던 동무들이 뻔히 보고 섰는데 Bạn bè cùng làm đứng nhìn,
229. 빈 지게로 덜렁거리며 집으로 돌아오는 건 Mà phải vác cái gùi trống không về nhà,
230. 진정 열적기 짝이 없는 노릇이었다. Thật sự là điều nhục nhã không gì bằng.
231. 참다 참다 못해 응오는 눈에 눈물이 흘렀던 것이다. Không chịu nổi, Eungo đã bật khóc.
232. 가뜩한데 엎치고 덮치더라고 올해는 고나마 흉작이었다. Đã khổ lại còn khổ thêm, năm nay còn mất mùa.
233. 샛바람과 비에 벼는 깨깨 비틀렸다. Gió lạnh và mưa làm lúa héo quắt.
234. 이놈을 가을하다간 먹을 게 남지 않음은 물론이요 빚도 다 못 가릴 모양. Nếu thu hoạch thì không những không còn gì ăn mà nợ cũng không trả hết.
235. 에라, 빌어먹을 거 너들끼리 캐다 먹든 말든 멋대로 하여라, 하고 내던져 두지 않을 수 없다. Thôi thì mặc kệ, ai muốn lấy thì lấy, hắn đành bỏ mặc.
236. 벼를 거뒀다고 말만 나면 빚쟁이들은 우몰려들 거니깐. Vì chỉ cần nói đã gặt lúa là chủ nợ sẽ kéo đến ồ ạt.
237. 응칠이의 죄목은 여기에서도 또렷이 드러난다. Tội của Eungchil cũng lộ rõ ở đây.
238. 국으로 가만만 있었더면 좋은 걸 Giá mà hắn cứ đứng ngoài thì tốt,
239. 이 사품에 뛰어들어 지주의 뺨을 제법 갈긴 것이 응칠이었다. Nhưng hắn lại nhảy vào và tát địa chủ một cú.
240. 처음에야 그럴 작정이 아니었다. Ban đầu hắn không định làm vậy.
241. 그는 여러 곳 물을 마신 이만치 어지간히 속이 틘 건달이었다. Hắn là kẻ từng trải, hiểu đời.
242. 지주를 만나 까놓고 썩 좋은 소리로 의논하였다. Hắn gặp địa chủ và nói chuyện khá mềm mỏng.
243. 올 농사는 반실이니 도지도 좀 감해주는 게 어떠냐고. Năm nay mất mùa, nên xin giảm tiền thuê ruộng.
244. 그러나 지주는 암말 없이 고개를 모로 흔들었다. Nhưng địa chủ chỉ lắc đầu không nói gì.
245. 정 이러면 하여튼 일년… Nếu cứ thế này thì dù sao cũng cả năm…
246. 품은 빼야 할 테니 나는 그 논에다 불을 지르겠수, 하여도 잠자코 응치 않는다. Dù có nói “phải bỏ công sức thì tôi sẽ đốt luôn ruộng đó”, hắn vẫn im lặng không đáp.
247. 지주로 보면 자기로도 그 벼는 넉넉히 거둬 들일 수는 있다마는, Về phía địa chủ, ông ta hoàn toàn có thể tự thu hoạch số lúa đó,
248. 한번 버릇을 잘못 해놓으면 어느 작인까지 행실을 버릴까 염려하여 겉으로 독촉만 하고 있는 터이었다. Nhưng lo rằng nếu nhân nhượng sẽ làm hỏng kỷ luật của tá điền, nên chỉ thúc ép bề ngoài.
249. 실상이야 고까짓 벼쯤 있어도 고만 없어도 고만, Thực ra số lúa đó có hay không cũng chẳng quan trọng,
250. 그 심보를 눈치채고 응칠이는 화를 벌컥 낸 것만은 좋으나 Nhận ra ý đồ đó, Eungchil nổi giận,
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823









