TÀI LIỆU LUYỆN DỊCH REVIEW
SONG NGỮ VIỆT HÀN CÙNG CÔNG NGHỆ
삼포 가는 길– 황석영
Đường về Sampo – Hwang Sok-yong
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS: NGUYỄN HUỲNH MINH ANH
CSTT: KANATA BIÊN HÒA
- 영달은 어디로 갈 것인가 궁리해 보면서 잠깐 서 있었다.
Yeong-dal đứng lặng một lát, cân nhắc xem mình nên đi đâu tiếp theo.
- 새벽의 겨울 바람이 매섭게 불어왔다.
Cơn gió đông lúc rạng sáng thổi đến buốt giá.
- 밝아 오는 아침 햇볕 아래 헐벗은 들판이 드러났고, 곳곳에 얼어붙은 시냇물이나 웅덩이가 반사되어 빛을 냈다.
Dưới ánh nắng ban mai đang dần rạng rỡ, cánh đồng trơ trụi hiện ra, những dòng suối và vũng nước đóng băng khắp nơi phản chiếu ánh sáng lấp lánh.
- 바람 소리가 먼데서부터 몰아쳐서 그가 섰는 창공을 베면서 지나갔다.
Tiếng gió lùa từ phương xa tới, cứ thế chém toạc bầu trời nơi anh đang đứng mà đi qua.
- 가지만 남은 나무들이 수십여 그루씩 들판가에서 바람에 흔들렸다.
Hàng chục cái cây chỉ còn trơ cành khẳng khiu nơi ven đồng đang chao đảo trong gió.
- 그가 넉 달 전에 이곳을 찾았을 때에는 한참 추수기에 이르러 있었고 이미 공사는 막판이었다.
Khi anh tìm đến nơi này bốn tháng trước, đúng vào lúc cao điểm mùa thu hoạch và công trường cũng đã đi vào giai đoạn cuối.
- 곧 겨울이 오게 되면 공사가 새봄으로 연기될 테고 오래 머물 수 없으리라는 것을 그는 진작부터 예상했던 터였다.
Anh đã sớm dự đoán rằng một khi mùa đông tới, công việc sẽ bị hoãn cho đến tận mùa xuân năm sau và mình sẽ chẳng thể ở lại đây lâu được.
- 아니나 다를까. 현장 사무소가 사흘 전에 문을 닫았고, 영달이는 밥집에서 달아날 기회만 노리고 있었던 것이다.
Đúng như dự tính, văn phòng hiện trường đã đóng cửa cách đây ba ngày, và Yeong-dal nãy giờ chỉ rình rập cơ hội để tháo chạy khỏi nhà ăn.
- 누군가 밭고랑을 지나 걸어오고 있었다.
Có ai đó đang bước đi băng qua những luống cày.
- 해가 떠서 음지와 양지의 구분이 생기자 언덕의 그림자나 숲의 그늘로 가려진 곳에서는 언 흙이 부서지는 버석이는 소리가 들렸으나 해가 내려쪼인 곳은 녹기 시작하여 붉은 흙이 질척해 보였다.
Khi mặt trời lên tạo ra ranh giới giữa bóng tối và ánh sáng, những nơi bị khuất sau bóng đồi hay tán rừng vang lên tiếng đất đóng băng nứt vỡ lạo xạo; còn những nơi nắng rọi vào thì đất bắt đầu tan ra, làm lộ ra lớp bùn đỏ nhão nhẹo.
- 다가오는 사람이 숲 그늘을 벗어났는데 신발 끝에 벌겋게 붙어 올라온 진흙 뭉치가 걸을 때마다 뒤로 몇 점씩 흩어지고 있었다.
Người đang tiến đến bước ra khỏi bóng râm của khu rừng, những cục bùn đỏ bám chặt vào mũi giày cứ thế văng ra từng chút một theo mỗi bước chân.
- 그는 길가에 우두커니 서서 담배를 태우고 있는 영달이 쪽을 보면서 왔다.
Người đó vừa đi vừa nhìn về phía Yeong-dal, người đang đứng ngẩn ngơ bên lề đường hút thuốc.
- 그는 키가 훌쩍 크고 영달이는 작달막했다.
Người đó có dáng người cao vổng, còn Yeong-dal thì thấp bé.
- 그는 팽팽하게 불러 오른 맹꽁이 배낭을 한쪽 어깨에 느슨히 걸쳐 메고 머리에는 개털 모자를 귀까지 가려 쓰고 있었다.
Người đó đeo lỏng lẻo một chiếc ba lô căng phồng trên một bên vai, đầu đội chiếc mũ lông chó che kín đến tận tai.
- 검게 물들인 야전잠바의 깃 속에 턱이 반 남아 파묻혀서 누군지 쌍통을 알아볼 도리가 없었다.
Chiếc cằm vùi sâu quá nửa trong cổ áo khoác dã chiến nhuộm đen, khiến người ta chẳng tài nào nhận ra diện mạo của ông ta.
- 그는 몇 걸음 남겨 놓고 서더니 털모자의 챙을 이마빡에 붙도록 척 올리면서 말했다.
Người đó dừng lại khi chỉ còn cách vài bước chân, rồi hất ngược vành mũ lông lên sát trán và cất lời:
- “천씨네 집에 기시던 양반이군.”
“— Chẳng phải là anh bạn ở nhà ông Cheon đó sao.”
- 영달이도 낯이 익은 서른 댓 되어 보이는 사내였다. 공사장이나 마을 어귀의 주막에서 가끔 지나친 적이 있는 얼굴이었다.
Đó là một người đàn ông tầm ba mươi lăm tuổi mà Yeong-dal cũng thấy quen mặt, một gương mặt anh thỉnh thoảng vẫn lướt qua tại công trường hay những quán rượu đầu làng.
- “아까 존 구경 했시다.”
“— Nãy tôi vừa được xem một màn hay lắm.”
- 그는 털모자를 잠근 단추를 여느라고 턱을 치켜들었다. 그러고 나서 비행사처럼 양쪽 뺨으로 귀가리개를 늘어뜨리면서 빙긋 웃었다.
Người đó hếch cằm lên để mở cúc mũ lông, rồi để hai miếng che tai xõa xuống hai bên má như một phi công và mỉm cười đầy ẩn ý.
- “천가란 사람, 거품을 물구 마누라를 개 패듯 때려잡던데.”
“— Cái lão họ Cheon ấy, lão sùi cả bọt mép ra mà đánh vợ như đánh chó vậy.”
- 영달이는 그를 쏘아보며 우물거렸다. “내…… 그런 촌놈은 참.”
Yeong-dal lườm ông ta rồi lầm bầm: “Hừ… cái lão nhà quê đó thật là…”
- “거 병신 안 됐는지 몰라, 머리채를 질질 끌구 마당에 나와선 차구 짓밟구…… 야 그 사람 환장한 모양이더군.”
“— Chẳng biết có thành tật không nữa, lão túm tóc lôi xềnh xệch ra giữa sân rồi đá rồi giẫm… Chà, lão ta như phát điên lên vậy.”
- 이건 누굴 엿 먹이느라구 수작질인가, 하는 생각이 들어서 불끈했지만 영달이는 애써 참으며 담뱃불이 손가락 끝에 닿도록 쭈욱 빨아 넘겼다.
Cơn giận bốc lên đầu vì nghĩ bụng không biết lão này có đang mỉa mai mình không, nhưng Yeong-dal cố kìm nén, rít một hơi thật sâu cho đến khi tàn thuốc chạm sát đầu ngón tay.
- 사내가 손을 내밀었다. “불 좀 빌립시다.”
Người đàn ông chìa tay ra: “Cho tôi mượn tí lửa với.”
- “버리슈.”
“— Vứt nó đi.”
- 담배 꽁초를 건네주며 영달이가 퉁명스럽게 말했다.
Yeong-dal nói bằng giọng cộc cằn khi đưa mẩu thuốc lá cho người kia.
- 하긴 창피한 노릇이었다.
Thực ra, đó cũng là một chuyện đáng xấu hổ.
- 밥값을 떼고 달아나서가 아니라, 역에 나갔던 천가 놈이 예상외로 이른 시각인 다섯 시쯤 돌아왔고 현장에서 덜미를 잡혔던 것이었다.
Không phải vì anh trốn nợ tiền cơm, mà là vì gã họ Cheon vốn đã ra ga lại bất ngờ quay về sớm vào lúc năm giờ và bắt quả tang anh tại trận.
- 그는 옷만 간신히 추스르고 나와서 천가가 분풀이로 청주댁을 후려 패는 동안 방아실에 숨어 있었다.
Anh chỉ kịp vơ lấy quần áo rồi lẩn trốn trong buồng giã gạo, trong khi lão Cheon trút giận bằng cách đánh đập bà chủ quán Cheongju túi bụi.
- 영달이는 변명 삼아 혼잣말 비슷이 중얼거렸다.
Yeong-dal lẩm bẩm như tự nói với chính mình để bào chữa.
- “계집 탓할 거 있수, 사내 잘못이지.”
“— Đổ lỗi cho đàn bà làm gì, là tại gã đàn ông tồi thôi.”
- “시골 아낙네치곤 드물게 날씬합디다. 모두들 발랑 까졌다구 하지만서두.”
“— So với phụ nữ nông thôn thì cô ta có dáng người mảnh mai hiếm thấy đấy. Dù ai cũng bảo cô ta là hạng lẳng lơ.”
- “여자야 그만이었죠. 처녀 적에 군용차두 탔답니다. 고생 많이 한 여자요.”
“— Người phụ nữ đó thì tuyệt rồi. Nghe đâu hồi còn con gái đã từng nhảy xe quân đội đấy. Đó là người đã nếm trải nhiều khổ cực.”
- “바가지한테 세금두 내구, 거기두 줬겠구만.”
“— Chắc là anh đã trả phí cho lão chồng rồi, và cũng đã ‘vui vẻ’ với cô ta rồi nhỉ.”
- “뭐요? 아니 이 양반이……”
“— Cái gì? Này, cái ông này…”
- 사내가 입김을 길게 내뿜으며 껄껄 웃어제꼈다.
Người đàn ông thở ra một hơi dài rồi cười hơ hớ.
- “거 왜 그러시나. 아, 재미 본 게 댁뿐인 줄 아쇼? 오다가다 만난 계집에 너무 일심 품지 마셔.”
“— Sao lại thế? Ái chà, anh tưởng chỉ có mình anh là được hưởng lạc thôi sao? Đừng có quá nặng lòng với hạng đàn bà gặp gỡ dọc đường như thế.”
- 녀석의 말버릇이 시종 그렇게 나오니 드러내 놓고 화를 내기도 뭣해서 영달이는 픽 웃고 말았다.
Vì lối ăn nói của gã cứ mãi như vậy, Yeong-dal thấy cũng khó mà nổi khùng lên nên chỉ đành bật cười nhạt.
- 개피떡이나 인절미를 전방으로 호송되는 군인들께 팔았다는 것인데 딴은 열차를 타며 사내들 틈을 누비던 계집이 살림을 한답시고 들어앉아 절름발이 천가 여편네 노릇을 하려니 따분했을 것이었다.
Nghe nói cô ta từng bán bánh Gae-pi hay bánh nếp cho những người lính ra tiền tuyến, có lẽ người đàn bà từng ngang dọc giữa đám đàn ông trên những chuyến tàu ấy cảm thấy quá tẻ nhạt khi phải bó chân làm vợ lão Cheon thọt.
- 공사장 인부들이나 떠돌이 장사치를 끌어들여 하숙도 치고 밥도 파는 사람인데, 사내 재미까지 보려는 눈치였다.
Cô ta là người chuyên đón thợ công trường hay lái buôn lang thang vào ở trọ và bán cơm, nhưng dường như cũng muốn tìm kiếm cả chút vui vẻ bên đàn ông.
- 영달이 눈에 청주댁이 예사로 보였을 리 만무했다.
Lẽ đương nhiên là trong mắt Yeong-dal, bà chủ Cheongju không phải là một người phụ nữ tầm thường.
- 까무잡잡한 얼굴에 곱게 치떠서 흘기는 눈길하며, 밤이면 문밖에 나가 앉아 하염없이 불러대는 <흑산도 아가씨>라든가, 어쨌든 나중엔 거의 환장할 지경이었다.
Từ khuôn mặt hơi ngăm đen với cái liếc mắt đầy tình tứ, cho đến việc đêm đêm cô ta lại ra ngồi trước cửa hát bài “Thiếu nữ đảo Heuksan” không dứt, nói chung sau cùng đã khiến anh phát điên lên được.
- “얼마나 있었소?”
“— Anh đã ở đó bao lâu rồi?”
- 사내가 물었다. 가까이 얼굴을 맞대고 보니 그리 흉악한 몰골도 아니었고, 우선 그 시원시원한 태도가 은근히 밉질 않다고 영달이는 생각했다.
Người đàn ông hỏi. Khi nhìn gần diện mạo của ông ta, Yeong-dal nghĩ bụng trông cũng không đến nỗi hung ác, và trước hết là thái độ hào sảng ấy khiến anh thấy không ghét nổi.
- 그가 자기보다는 댓 살쯤 더 나이 들어 보였다. 그리고 이 바람 부는 겨울 들판에 척 걸터앉아서도 만사태평인 꼴이었다.
Ông ta trông già hơn anh khoảng năm tuổi. Và giữa cánh đồng mùa đông lộng gió này, ông ta vẫn ngồi thản nhiên như thể mọi chuyện trên đời đều thái bình vậy.
- 영달이는 처음보다는 경계하지 않고 대답했다.
Yeong-dal trả lời với vẻ bớt cảnh giác hơn lúc đầu.
- “넉 달 있었소. 그런데 노형은 어디루 가쇼?”
“— Tôi đã ở đó bốn tháng. Thế còn anh, anh định đi đâu?”
- “삼포에 갈까 하오.”
“— Tôi định về Sampo.”
- 사내는 눈을 가늘게 뜨고 조용히 말했다. 영달이가 고개를 흔들었다.
Người đàn ông nheo mắt lại và khẽ nói. Yeong-dal lắc đầu.
- “방향 잘못 잡았수. 거긴 벽지나 다름없잖소. 이런 겨울철에.”
“— Anh nhầm hướng rồi. Nơi đó chẳng khác nào xóm vắng hẻo lánh đâu. Nhất là vào mùa đông thế này.”
- “내 고향이오.”
“— Đó là quê hương tôi.”
- 사내가 목장갑 낀 손으로 코 밑을 쓱 훔쳐냈다. 그는 벌써 들판 저 끝을 바라보고 있었다.
Người đàn ông dùng bàn tay đeo găng len quẹt ngang mũi. Ông ta đã đưa mắt nhìn về phía cuối cánh đồng xa xăm.
- 영달이와는 전혀 사정이 달라진 것이다. 그는 집으로 가는 중이었고 영달이는 또 다른 곳으로 달아나는 길 위에 서 있었기 때문이었다.
Hoàn cảnh của ông ta giờ đây đã hoàn toàn khác biệt với Yeong-dal. Bởi lẽ ông ta đang trên đường về nhà, còn Yeong-dal lại đang đứng trên con đường chạy trốn đến một nơi khác.
- “참…… 집에 가는군요.”
“— À… ra là anh đang về nhà.”
- 사내가 일어나 맹꽁이 배낭을 한쪽 어깨에다 걸쳐 매면서 영달이에게 물었다.
Người đàn ông đứng dậy, khoác chiếc ba lô lên vai và hỏi Yeong-dal.
- “어디 무슨 일자리 찾아가쇼?”
“— Anh đang đi tìm việc ở đâu à?”
- “댁은 오라는 데가 있어서 여기 왔었소? 언제나 마찬가지죠.”
“— Thế anh đến đây vì có nơi mời gọi à? Lúc nào chẳng giống nhau.”
- 자, 난 이제 가 봐야겠는걸.”
“— Thôi, tôi phải đi đây.”
- 그는 뒤도 돌아보지 않고 질척이는 둑길을 향해 올라갔다.
Ông ta chẳng thèm ngoái đầu lại, cứ thế bước lên con đường đê nhão nhẹo.
- 그가 둑 위로 올라서더니 배낭을 다른 편 어깨 위로 바꾸어 매고는 다시 하반신부터 차례로 개털 모자 끝까지 둑 너머로 사라졌다.
Ông ta leo lên đỉnh đê, đổi chiếc ba lô sang vai bên kia, rồi thân hình cứ thế thấp dần, từ đôi chân cho đến chóp mũ lông chó, biến mất phía bên kia bờ đê.
- 영달이는 어디로 향하겠다는 별 뾰죽한 생각도 나지 않았고, 동행도 없이 길을 갈 일이 아득했다.
Yeong-dal vẫn chưa có ý niệm rõ ràng là mình nên đi đâu, và việc phải độc hành trên con đường phía trước khiến anh cảm thấy thật mịt mờ.
- 가다가 도중에 헤어지게 되더라도 우선은 말동무라도 있었으면 싶었다.
Dẫu có phải chia tay giữa đường đi chăng nữa, thì ít nhất lúc này anh cũng muốn có một người để bầu bạn tâm tình.
- 그는 멍청히 섰다가 잰걸음으로 사내의 뒤를 따랐다.
Anh đứng ngẩn ngơ một lúc rồi rảo bước đuổi theo người đàn ông kia.
- 영달이는 둑 위로 뛰어올라 갔다.
Yeong-dal chạy vội lên phía trên con đê.
- 사내의 걸음이 무척 빨라서 벌써 차도로 나가는 샛길에 접어들어 있었다.
Bước chân của người đó rất nhanh, đã rẽ vào con đường nhỏ dẫn ra lộ lớn.
- 차도 양쪽에 대빗자루를 거꾸로 박아 놓은 듯한 앙상한 포플라들이 줄을 지어 섰는 게 보였다.
Hai bên đường lộ, những hàng cây dương khẳng khiu trông như những chiếc chổi tre cắm ngược đứng thành hàng dài.
- 그는 둑 아래로 달려 내려가며 사내를 불렀다.
Anh vừa chạy xuống dưới đê vừa gọi người đàn ông.
- “여보쇼, 노형!”
“— Này, anh bạn ơi!”
- 그가 멈춰 서더니 뒤를 돌아보고 나서 다시 천천히 걸어갔다.
Người đó dừng lại, ngoái nhìn rồi lại tiếp tục bước đi chậm rãi.
- 영달이는 달려가서 그 뒤편에 따라붙어 헐떡이면서 “같이 갑시다, 나두 월출리까진 같은 방향인데…….” 했는데도 그는 대답이 없었다.
Yeong-dal chạy đến bám theo sau, vừa thở hổn hển vừa nói: “Cho tôi đi cùng với, tôi cũng đi cùng hướng đến tận Wolchul-ri mà…” nhưng người đó vẫn chẳng mảy may đáp lại.
- 영달이는 그의 뒤통수에다 대고 말했다.
Yeong-dal nói vọng vào sau gáy ông ta.
- “젠장, 이런 겨울은 처음이오. 작년 이맘때는 좋았지요. 월 삼천 원짜리 방에서 작부랑 살림을 했으니까. 엄동설한에 정말 갈데없이 빳빳하게 됐는데요.”
“— Khỉ thật, đây là lần đầu tôi gặp cái mùa đông thế này đấy. Tầm này năm ngoái thì sướng rồi, tôi còn đang chung sống với một cô ả trong căn phòng ba ngàn won một tháng kia mà. Thế mà giữa cái đại hàn buốt giá này, tôi lại chẳng còn nơi nào để đi, trắng tay hoàn toàn.”
- “우린 습관이 되어 놔서.” 사내가 말했다.
“— Chúng tôi thì quen rồi.” — Người đàn ông nói.
- “삼포가 여기서 몇 린 줄 아쇼? 좌우간 바닷가까지만도 몇백 리 길이요. 거기서 또 배를 타야 해요.”
“— Anh có biết từ đây đến Sampo là bao nhiêu dặm không? Dù sao thì chỉ tính riêng đường đến bờ biển thôi cũng đã mất mấy trăm dặm rồi. Từ đó lại còn phải bắt thuyền đi nữa.”
- “몇 년 만입니까?”
“— Anh đã xa quê bao nhiêu năm rồi?”
- “십 년이 넘었지. 가 봤자…… 아는 이두 없을 거요.”
“— Đã hơn mười năm rồi. Có về thì… chắc cũng chẳng còn ai quen biết nữa.”
- “그럼 뭣하러 가쇼?”
“— Thế thì anh về làm gì?”
- “그냥…… 나이 드니까, 가보구 싶어서.”
“— Chỉ là… khi có tuổi rồi, tự dưng lại thấy muốn về thăm thôi.”
- 그들은 차도로 들어섰다. 자갈과 진흙으로 다져진 길이 그런대로 걷기에 편했다.
Họ bước vào con đường lộ. Con đường được nện chặt bằng sỏi và đất sét nên đi lại cũng khá dễ dàng.
- 영달이는 시린 손을 잠바 호주머니에 처박고 연방 꼼지락거렸다.
Yeong-dal thọc đôi bàn tay lạnh buốt vào túi áo khoác, không ngừng cử động các ngón tay.
- “어이 육실허게는 춥네. 바람만 안 불면 좀 낫겠는데.”
“— Trời ơi, lạnh đến phát điên đi được. Nếu gió không thổi mạnh thế này thì chắc sẽ đỡ hơn.”
- 사내는 별로 추위를 타지 않았는데, 털모자와 야전잠바로 단단히 무장한 탓도 있겠지만 원체가 혈색이 건강해 보였다.
Người đàn ông kia dường như không mấy sợ lạnh, một phần là nhờ được trang bị kỹ càng bằng mũ lông và áo khoác dã chiến, nhưng phần lớn là vì vốn dĩ trông sắc diện ông ta rất khỏe mạnh.
- 사내가 처음으로 다정하게 영달이에게 물었다. “어떻게 아침은 자셨소?”
Lần đầu tiên người đàn ông hỏi Yeong-dal bằng giọng thân thiện: “Anh đã dùng bữa sáng chưa?”
- “웬걸요.” 영달이가 열적게 웃었다. “새벽에 몸만 간신히 빠져나온 셈인데…….”
“— Đâu có.” — Yeong-dal cười ngượng nghịu. “Sáng sớm tôi chỉ vừa kịp thoát thân với bàn tay trắng thôi mà…”
- “나두 못 먹었소. 찬샘까진 가야 밥술이라두 먹게 될 거요. 진작에 떴을걸. 이젠 겨울에 움직일 생각이 안 납디다.”
“— Tôi cũng chưa ăn gì. Phải đến tận Chansaem mới mong có được miếng cơm bỏ bụng. Đáng lẽ nên đi sớm hơn. Tầm này mùa đông tôi chẳng còn muốn di chuyển chút nào.”
- “인사 늦었네요. 나 노영달이라구 합니다.”
“— Tôi chào hỏi hơi muộn, tôi là Noh Yeong-dal.”
- “나는 정가요.”
“— Tôi họ Jeong.”
- “우리두 기술이 좀 있어 놔서 일자리만 잡으면 별 걱정 없지요.”
“— Tôi cũng có chút tay nghề đấy, chỉ cần kiếm được việc làm là chẳng phải lo nghĩ gì nữa.”
- 영달이가 정씨에게 빌붙지 않을 뜻을 비췄다.
Yeong-dal ngầm ra ý rằng mình sẽ không dựa dẫm vào ông Jeong.
- “알고 있소, 착암기 잡지 않았소? 우리넨, 목공에 용접에 구두까지 수선할 줄 압니다.”
“— Tôi biết chứ, anh chẳng phải thợ khoan đá sao? Còn tôi ấy à, thợ mộc, hàn điện, cho đến sửa giày tôi đều làm được hết.”
- “야 되게 많네. 정말 든든하시겠구만.”
“Chà, nhiều nghề gớm nhỉ. Thế thì chắc dạ lắm đây.”
- “십 년이 넘었다니까.”
“Đã bảo là hơn mười năm rồi mà.”
- “그래도 어디서 그런 걸 배웁니까?”
“Thế nhưng anh học những thứ đó ở đâu vậy?”
- “다 좋은 데서 가르치고 내보내는 집이 있지.”
“Có một cái ‘nhà’ chuyên dạy dỗ tử tế rồi mới cho người ta ra ngoài đấy.”
- “나두 그런 데나 들어갔으면 좋겠네.”
“Tôi cũng ước gì được vào cái nơi như thế.”
- 정씨가 쓴웃음을 지으며 고개를 저었다.
Ông Jeong nở nụ cười cay đắng rồi lắc đầu.
- “지금이라두 쉽지. 하지만 집이 워낙에 커서 말요.”
“Giờ muốn vào cũng chẳng khó gì. Chỉ có điều cái ‘nhà’ đó to lắm.”
- “큰집…….”
“Nhà lớn (Nhà giam)…”
- 하다 말고 영달이는 정씨의 얼굴을 쳐다봤다.
Đang nói dở, Yeong-dal ngước nhìn lên khuôn mặt ông Jeong.
- 정씨는 고개를 밑으로 숙인 채 묵묵히 걷고 있었다.
Ông Jeong vừa cúi gằm mặt vừa lầm lũi bước đi.
- 언덕을 넘어섰다.
Họ đã vượt qua con dốc.
- 길이 내리막이 되면서 강변을 따라서 먼 산을 돌아 나간 모양이 아득하게 보였다.
Con đường bắt đầu đổ dốc, men theo bờ sông uốn lượn quanh những ngọn núi xa mờ mịt.
- 인가가 좀처럼 보이지 않는 황량한 들판이었다.
Đó là một cánh đồng hoang vắng, chẳng mấy khi thấy bóng dáng nhà cửa.
- 마른 갈대밭이 헝클어진 채 휘청대고 있었고 강 건너 곳곳에 모래바람이 일어나는 게 보였다.
Những bụi sậy khô héo nằm rũ rượi, ngả nghiêng trong gió, phía bên kia sông những trận gió cát đang bốc lên khắp nơi.
- 정씨가 말했다.
Ông Jeong nói:
- “저 산을 넘어야 찬샘골인데. 강을 질러가는 게 빠르겠군.”
“Phải vượt qua ngọn núi kia mới đến làng Chansaem. Đi tắt qua sông chắc sẽ nhanh hơn.”
- “단단히 얼었을까.”
“Liệu băng có đóng chắc không nhỉ?”
- 강물은 꽁꽁 얼어붙어 있었다.
Dòng sông đã đóng băng cứng ngắc.
- 얼음이 녹았다가 다시 얼곤 해서 우툴두툴한 표면이 그리 미끄럽지는 않았다.
Lớp băng cứ tan rồi lại đóng nên bề mặt gồ ghề, không đến nỗi quá trơn trượt.
- 바람이 불어, 깨어진 살얼음 조각들을 날려 그들의 얼굴을 따갑게 때렸다.
Gió thổi mạnh, cuốn theo những mảnh băng mỏng vỡ vụn tạt vào mặt họ đau rát.
- “차라리, 저쪽 다릿목에서 버스나 기다릴 걸 잘못했나 봐요.”
“Có lẽ lúc nãy chúng ta nên đợi xe buýt ở đầu cầu bên kia thì hơn.”
- 숨을 헉헉 들이키던 영달이가 투덜대자 정씨가 말했다.
Khi Yeong-dal vừa thở hổn hển vừa cằn nhằn, ông Jeong liền đáp:
- “자주 끊겨서 언제 올지도 모르오. 그보다두 현금을 아껴야지. 굶어두 돈 있으면 든든하니까.”
“Xe cộ thất thường lắm, chẳng biết khi nào mới tới đâu. Hơn nữa phải biết tiết kiệm tiền mặt chứ. Có đói ăn đi nữa mà có tiền trong túi thì vẫn thấy vững tâm hơn.”
- “하긴 그래요.”
“Thì cũng đúng là vậy.”
- “월출 가면 남행열차를 탈 수는 있소. 거기서 기차 탈려오?”
“Đến Wolchul là có thể bắt được tàu xuôi Nam. Anh định lên tàu từ đó à?”
- “뭐….. 돼가는대루. 그런데 삼포는 어느 쪽입니까?”
“Thì… tới đâu hay tới đó thôi. Mà Sampo nằm ở hướng nào vậy?”
- 정씨가 막연하게 남쪽 방향을 턱짓으로 가리켰다.
Ông Jeong hất hàm chỉ về hướng Nam một cách mơ hồ.
- “남쪽 끝이오.”
“Ở tận cùng phương Nam.”
- “사람이 많이 사나요, 삼포라는 데는?”
“Ở cái nơi gọi là Sampo đó có đông người ở không?”
- “한 열 집 살까? 정말 아름다운 섬이오. 비옥한 땅은 남아돌아 가구, 고기두 얼마든지 잡을 수 있구 말이지.”
“Chắc khoảng mười nóc nhà chăng? Đó là một hòn đảo thực sự xinh đẹp. Đất đai màu mỡ thừa thãi, lại còn có thể đánh bắt cá thỏa thích nữa.”
- 영달이가 얼음 위로 미끄럼을 지치면서 말했다.
Yeong-dal vừa trượt đi trên mặt băng vừa nói:
- “야아 그럼, 거기 가서 아주 말뚝을 박구 살아 버렸으면 좋겠네.”
“Chà, nếu vậy thì tôi ước gì mình có thể đến đó cắm dùi mà sống luôn cho rồi.”
- “조오치, 하지만 댁은 안 될걸.”
“Tốt thôi, nhưng anh thì không được đâu.”
- “어째서요.”
“Tại sao chứ?”
- “타관 사람이니까.”
“Vì anh là người lạ (người xứ khác).”
- 그들은 얼어붙은 강을 건넜다. 구름이 몰려들고 있었다.
Họ băng qua dòng sông đóng băng. Những đám mây đang bắt đầu kéo đến.
- “눈이 올 거 같군. 길 가기 힘들어지겠소.”
“Hình như sắp tuyết rồi. Đường đi sẽ vất vả lắm đây.”
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823





