DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT QUẢ BÓNG NHỎ DO NGƯỜI LÙN BẮN LÊN CỦA NHÀ VĂN CHO SE-HUI ( PHẦN CUỐI )

 

TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA

BAN BIÊN TẬP TÀI LIỆU

DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT

QUẢ BÓNG NHỎ DO NGƯỜI LÙN BẮN LÊN CỦA NHÀ VĂN CHO SE-HUI

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Hà Ngọc Bích Cầm – CSTT Kanata NKKN

401. 영희는 하늘색 빵집 제복을 입고 일했다.

Young-hee mặc bộ đồng phục màu xanh da trời của tiệm bánh và làm việc.

402. 영호와 나는 유리창 밖에서 영희가 일하는 것을 보았다.

Young-ho và tôi đứng ngoài cửa kính nhìn Young-hee làm việc.

403. 영희는 예뻤다.

Young-hee rất xinh.

404. 사람들은 영희가 난쟁이의 딸이라는 것을 믿지 않으려고 했다.

Người ta không muốn tin rằng Young-hee là con của một người lùn.

405. 우리는 무슨 일이 있든 공부는 해야 한다고 생각했다.

Chúng tôi nghĩ rằng dù thế nào cũng phải học.

406. 공부를 하지 않고는 우리 구역에서 벗어날 수가 없다고 생각했다.

Chúng tôi tin rằng nếu không học, sẽ không thể thoát khỏi khu vực của mình.

407. 세상은 공부를 한 자와 못 한 자로 너무나 엄격하게 나뉘어져 있었다.

Thế giới bị chia cắt quá khắc nghiệt giữa người có học và người không có học.

408. 끔찍할 정도로 미개한 사회였다.

Đó là một xã hội lạc hậu đến mức đáng sợ.

409. 리가 학교 안에서 배운 것과는 정반대로 움직였다.

Nó vận hành hoàn toàn trái ngược với những gì chúng tôi được học trong trường.

410. 나는 무슨 책이든 손에 잡히는 대로 읽었다 정판에서 식자로 올라간 다음에는 일을 하다 말고 원고를 읽는 버릇까지 생겼다.

Tôi đọc bất cứ cuốn sách nào có thể cầm được; sau khi lên làm thợ sắp chữ ở khâu in chính, tôi còn hình thành thói quen đang làm việc cũng dừng lại để đọc bản thảo.

411. 동생들에게도 필요하다고 느껴지는 것을 판을 들고 가 몇 벌씩 교정쇄를 내기도 했다.

Tôi cũng mang bản in thử về cho các em, in ra vài bản những gì tôi thấy cần thiết để chúng đọc.

412. 영호와 영희는 나의 말을 잘 들었다.

Young-ho và Young-hee rất nghe lời tôi.

413. 내가 가져다 준 교정쇄를 동생들은 열심히 읽었다.

Hai đứa em chăm chỉ đọc những bản in thử mà tôi mang về.

414. 실제로 우리가 이 노력으로 잃은 것은 하나도 없었다.

Thực ra, chúng tôi không mất đi điều gì từ những nỗ lực đó.

415. 나는 고입 검정 고시를 거쳐 방송 통신 고교에 입학했다.

Tôi đã vượt qua kỳ thi tương đương vào cấp ba và nhập học vào trường trung học phổ thông giáo dục từ xa.

416. 그 해 늦가을 밤 아버지는 나를 작은 나무배에 태우고 방죽 안으로 들어갔다.

Vào một đêm cuối thu năm ấy, cha đưa tôi lên một chiếc thuyền gỗ nhỏ rồi chèo vào trong đầm nước.

417. 아버지는 말없이 노만 저었다.

Cha lặng lẽ chỉ chèo mái chèo, không nói một lời.

418. “돌아와요.”

“Hãy quay lại đi.”

419. 영희가 마당에서 소리쳤다.

Young-hee hét lên từ ngoài sân.

420. “그 배 위험해요.”

“Chiếc thuyền đó nguy hiểm lắm.”

421. 그러나 아버지는 방죽 한가운데로 노를 저어 갔다.

Nhưng cha vẫn chèo thuyền ra giữa đầm.

422. 손을 흔드는 영희의 모습이 희미하게 떠올랐다.

Hình ảnh Young-hee vẫy tay dần hiện lên mờ nhạt.

423. 나는 방죽의 물이 별빛을 받아 반짝이는 것을 보았다.

Tôi thấy mặt nước trong đầm lấp lánh dưới ánh sao.

424. 배 안으로 물이 스며들고 있었다.

Nước đang dần thấm vào trong thuyền.

425. 우리는 언덕 위에 교회를 지을 때 나무 널빤지를 훔쳐 왔다.

Khi xây nhà thờ trên đồi, chúng tôi đã lén lấy trộm những tấm ván gỗ.

426. 영호와 나는 한밤중에 깨어 널빤지를 훔쳐 왔다.

Young-ho và tôi đã thức dậy giữa đêm để đi lấy trộm ván gỗ.

427. 영희는 잠자리에 들기 전에 철조망 안으로 기어들어가 널빤지를 훔쳐 왔다.

Young-hee trước khi đi ngủ đã bò qua hàng rào thép gai để lấy trộm ván gỗ.

428. 교회 건물은 말짱했다.

Tòa nhà thờ thì vẫn nguyên vẹn, hoàn chỉnh.

429. 그런데 우리의 배는 망가져 물이 스며들었다.

Thế nhưng chiếc thuyền của chúng tôi lại bị hỏng, nước thấm vào.

430. 영희는 아버지를 걱정했다.

Young-hee lo lắng cho cha.

431. 나는 수영을 할 줄 알았다.

Tôi biết bơi.

432. 아버지는 방죽 한가운데서 노를 세웠다.

Cha dừng mái chèo lại giữa đầm.

433. 스며든 물이 우리의 발목을 넘어 찼다.

Nước thấm vào đã dâng lên quá mắt cá chân của chúng tôi.

434. 나는 신발을 벗어서 물을 퍼냈다.

Tôi cởi giày ra để tát nước.

435. 아버지가 내 신발을 빼앗았다.

Cha giật lấy chiếc giày của tôi.

436. 아버지는 웃고 있었다.

Cha đang mỉm cười.

437. “영수야.”

“Young-su à.”

438. 아버지가 말했다.

Cha nói.

439. “어제 왔던 꼽추아저씨 생각나니?”

“Con còn nhớ người đàn ông gù đã đến hôm qua không?”

440. “언제요?”

“Khi nào ạ?”

441. “어제.”

“Hôm qua.”

442. 나는 다른 신발을 벗어서 또 물을 퍼냈다.

Tôi cởi chiếc giày còn lại ra rồi lại tát nước.

443. 아버지가 다시 내 손을 막았다.

Cha lại ngăn tay tôi.

444. “전 모르겠어요.”

“Con không biết ạ.”

445. 내가 말했다.

Tôi nói.

446. “모르는 척해도 쓸데없어. 난 다 안다.”

“Dù có giả vờ không biết cũng vô ích thôi. Ta biết hết rồi.”

447. “뭘 아신단 말씀예요?”

“Cha nói là biết chuyện gì ạ?”

448. 어제가 아니라 이미 삼 년 반 전의 일이었다.

Không phải chuyện hôm qua, mà đã là chuyện từ ba năm rưỡi trước.

449. 생전 처음 보는 꼽추였다.

Đó là một người gù mà tôi lần đầu tiên trong đời nhìn thấy.

450. 그런데 아버지는 말했다.

Nhưng cha nói:

451. “그 아저씨와 전에도 일을 했었어.

“Ta đã từng làm việc với người đàn ông đó trước đây.

452. 아주 큰 바퀴를 탔었다.”

Ta đã từng lên một vòng quay rất lớn.”

453. “아버지, 무슨 말씀을 하시는 거예요? 그런 일이 언제 있었어요?”

“Cha ơi, cha đang nói gì vậy? Chuyện đó xảy ra khi nào chứ?”

454. “너는 장남이야. 장남인 네가 믿지 않으니까 두 동생도 믿질 않아.”

“Con là con trưởng. Vì con – là con trưởng – không tin, nên hai đứa em cũng không tin.”

455. “어머니도 모르시는 일이에요.”

“Ngay cả mẹ cũng không biết chuyện này.”

456. “얘야.”

“Con à.”

457. 아버지가 말했다.

Cha nói.

458. “너만은 알고 있어야 한다.

“Chỉ có con là phải biết chuyện này.

459. 너희 어머니는 병야.

Mẹ các con đang bệnh.

460. 어제 왔던 꼽추아저씨가 또 올 거다.

Người đàn ông gù đến hôm qua sẽ lại đến nữa.

461. 나를 막지 마.

Đừng ngăn ta.

462. 다른 일을 이제 힘이 들어 못 하겠다.

Giờ ta không còn đủ sức để làm những công việc khác nữa.

463. 너는 내가 언제까지나 수도 파이프를 갈아 잇고, 펌프머리를 들어 달 수 있을 거라고 믿니? 높은 건물에서 줄을 타고 내려오는 일도 할 수가 없어.

Con nghĩ ta có thể mãi thay ống nước, lắp đầu bơm được sao? Ngay cả việc đu dây từ những tòa nhà cao xuống, ta cũng không làm nổi nữa.

464. 이젠 안 돼.”

Giờ thì không được nữa rồi.”

465. “아버지는 일을 안 하셔도 돼요, 저희들이 일을 하잖아요.”

“Cha không cần phải làm việc đâu, chúng con sẽ làm mà.”

466. “누가 너희더러 일하라고 했니?”

“Ai bảo các con phải đi làm?”

467. 아버지는 말했다.

Cha nói.

468. “너희들은 학교에만 나가면 돼.

“Các con chỉ cần đi học thôi.

469. 그게 너희들이 할 일이다.”

Đó là việc của các con.”

470. “알았어요, 아버지.”

“Con hiểu rồi, thưa cha.”

471. 내가 말했다.

Tôi nói.

472. “이제 그 신발을 주세요.”

“Bây giờ xin cha đưa lại chiếc giày cho con.”

473. 아버지는 나를 쳐다보다가 신발을 내주었다.

Cha nhìn tôi một lúc rồi đưa lại chiếc giày.

474. 나는 물을 퍼냈다.

Tôi tát nước ra ngoài.

475. “어제 꼽추아저씨는 나를 도와 줄 생각으로 왔었어.

“Hôm qua người đàn ông gù đã đến với ý định giúp ta.

476. 내일 또 올 거다.

Ngày mai ông ấy sẽ lại đến.

477. 너희들이 그 아저씨를 처음 본다는 건 말도 안 돼.

Không thể nào các con nói là lần đầu tiên gặp ông ấy.

478. 우리는 함께 일했었다.

Chúng ta đã từng làm việc cùng nhau.

479. 생각나지 않니? 아예, 힘으로 나를 윽박지를 생각은 하지 마라.”

Con không nhớ sao? Đừng có nghĩ đến chuyện dùng sức mà ép buộc ta.”

480. “그 아저씨가 왔던 게 언제라구요.”

“Người đàn ông đó đã đến khi nào cơ ạ?”

481. “어제.”

“Hôm qua.”

482. “그 노를 주세요.”

“Xin cha đưa mái chèo cho con.”

483. 아버지는 세워 들고 있던 노를 나에게 주었다.

Cha đưa cho tôi mái chèo mà ông đang dựng đứng cầm trên tay.

484. 나는 말할 수 없었다.

Tôi không thể nói gì được.

485. 처음 본 꼽추였다고 해도 믿지 않았을 것이다.

Dù tôi có nói đó là người gù tôi lần đầu gặp, cha cũng sẽ không tin.

486. 어제가 아니라 삼 년 반 전의 일이라고 해도 아버지는 믿지 않았을 것이다.

Dù tôi có nói đó không phải chuyện hôm qua mà là chuyện từ ba năm rưỡi trước, cha cũng sẽ không tin.

487. 나는 조심스럽게 노를 저었다.

Tôi cẩn thận chèo mái chèo.

488. 물가에 닿기 전에 배는 가라앉았다.

Trước khi chạm vào bờ, chiếc thuyền đã chìm.

489. 나는 아버지를 안고 수초 사이를 헤쳐 나갔다.

Tôi ôm lấy cha, rẽ qua đám cỏ nước để tiến ra ngoài.

490. 우리는 물에 젖어 온몸을 떨고 있는 아버지를 어머니에게 맡겼다.

Chúng tôi giao cha — người đang run rẩy toàn thân vì ướt sũng — cho mẹ.

491. 아버지를 어머니 이상으로 간호할 사람은 이 세상에 없었다.

Trên đời này không ai có thể chăm sóc cha hơn mẹ.

492. “아버지는 병이세요.”

“Cha đang bị bệnh.”

493. 내가 말했다.

Tôi nói.

494. “닥쳐라!”

“Im đi!”

495. 어머니가 말했다.

Mẹ nói.

496. “언제나 알아듣겠니! 아버지는 지치셔서 그런 거야.”

“Bao giờ con mới hiểu đây! Cha chỉ là vì quá mệt mỏi thôi.”

497. 그 해 겨울을 아버지는 방 안에서 났다.

Mùa đông năm ấy, cha ở suốt trong phòng.

498. 나는 배를 끌어 내 말뚝에다 매었다.

Tôi kéo chiếc thuyền ra và buộc vào cọc.

499. 날이 추워지자 울 안으로 끌어들였다.

Khi trời trở lạnh, tôi kéo nó vào trong hàng rào.

500. 그 날 밤 방죽이 얼었다.

Đêm hôm đó, mặt đầm đóng băng.

501. 밤에 명희 어머니가 또 왔다.

Đêm ấy, mẹ của Myung-hee lại đến.

502. “영희 엄마.”

“Mẹ của Young-hee à.”

503. 명희 어머니가 말했다.

Mẹ của Myung-hee nói.

504. “조금만 기다려 보세요.

“Hãy chờ thêm một chút đi.

505. 입주권이 자꾸 올라요.

Giá quyền vào ở (suất tái định cư) cứ tăng lên.

506. 아침에 십칠만 원 했던 게 십팔만 오천 원으로 뛰었어요.

Sáng nay còn là 170 nghìn won, giờ đã nhảy lên 185 nghìn won rồi.

507. 우리는 괜히 먼저 팔아 가지고 손해만 봤어요.”

Chúng tôi bán sớm vô ích nên chỉ bị thiệt thôi.”

508. “저런!”

“Trời ơi!”

509. “만 오천 원이나!”

“Tăng đến 15 nghìn won cơ à!”

510. 어머니는 낮에 떼어 놓았던 알루미늄 표찰을 종이로 쌌다.

Mẹ bọc tấm biển nhôm đã tháo ra ban ngày bằng giấy.

511. 그것을 철게 계고장과 함께 옷장 안에 넣었다.

Rồi đặt nó cùng với giấy thông báo tháo dỡ vào trong tủ áo.

512. “영희야.”

“Young-hee à.”

513. 어머니가 불렀다.

Mẹ gọi.

514. “아버지 어디 가셨니?”

“Cha con đi đâu rồi?”

515. “모르겠어요.”

“Con không biết ạ.”

516. “영호야.”

“Young-ho à.”

517. “아까 아무 말씀 없이 나가셨어요.”

“Lúc nãy cha ra ngoài mà không nói gì cả ạ.”

518. “영희야, 큰오빠는 어디 있니?”

“Young-hee à, anh cả con đâu rồi?”

519. “방에 있어요.”

“Anh ấy ở trong phòng ạ.”

520. “아버지는 어딜 가셨을까?”

“Không biết cha đã đi đâu nhỉ?”

521. 어머니의 목소리가 불안해졌다.

Giọng mẹ trở nên bất an.

522. “애들아, 아버지를 찾아봐라.”

“Các con à, hãy đi tìm cha đi.”

523. 나는 아버지가 놓고 나간 책을 읽고 있었다.

Tôi đang đọc cuốn sách mà cha để lại.

524. 그것은 <일만 년 후의 세계>라는 책이었다.

Đó là cuốn sách mang tên “Thế giới sau mười nghìn năm”.

525. 영희는 온종일 팬지꽃 앞에 앉아 줄 끊어진 기타를 쳤다.

Young-hee ngồi trước khóm hoa păng-xê suốt cả ngày, gảy cây đàn guitar bị đứt dây.

526. ‘최후의 시장’에서 사온 기타였다.

Đó là cây đàn mua từ “khu chợ cuối cùng”.

527. 내가 방송 통신 고교의 강의를 받기 위해 라디오를 사러 갈 때 영희가 따라왔었다.

Khi tôi đi mua radio để nghe bài giảng của trường trung học từ xa, Young-hee đã đi theo.

528. 쓸 만한 라디오가 있었다.

Có một chiếc radio dùng được.

529. 그런데 영희가 먼지 속에 놓인 기타를 들어 퉁겨 보는 것이었다.

Nhưng Young-hee lại cầm cây đàn guitar nằm phủ bụi lên và thử gảy.

530. 영희는 고개를 약간 숙이고 기타를 쳤다.

Young-hee hơi cúi đầu xuống và chơi đàn.

531. 긴 머리에 반쯤 가려진 옆 얼굴이 아주 예뻤다.

Khuôn mặt nghiêng bị mái tóc dài che khuất một nửa của con bé rất đẹp.

532. 영희가 치는 기타 소리는 영희에게 아주 잘 어울렸다.

Tiếng đàn guitar của Young-hee rất hợp với chính con bé.

533. 나는 먼저 골랐던 라디오를 살 수 없었다.

Tôi đã không thể mua chiếc radio mà mình chọn trước đó.

534. 좀더 싼 것으로 바꾸면서 영희가 든 기타를 가리켰다.

Khi đổi sang một chiếc rẻ hơn, tôi đã chỉ vào cây đàn guitar mà Young-hee đang cầm.

535. 그 라디오가 고장이 나고 기타는 줄이 하나 끊어졌다.

Chiếc radio ấy bị hỏng, còn cây đàn guitar thì đứt mất một dây.

536. 줄 끊어진 기타를 영희는 쳤다.

Young-hee vẫn chơi cây đàn guitar bị đứt dây ấy.

537. 나는 아버지가 무슨 생각을 하고 있는지 알 수 없었다.

Tôi không thể biết cha đang nghĩ gì.

538. <일만 년 후의 세계>라는 책을 아버지는 개천 건너 주택가에 사는 젊은이에게서 빌렸다.

Cuốn sách “Thế giới sau mười nghìn năm” là cha mượn từ một thanh niên sống ở khu nhà bên kia con kênh.

539. 그의 이름은 지섭이었다.

Tên anh ta là Ji-seop.

540. 지섭은 밝고 깨끗한 주택가 삼층집에서 살았다.

Ji-seop sống trong một ngôi nhà ba tầng sáng sủa và sạch sẽ ở khu dân cư.

541. 지섭은 그 집 가정 교사였다.

Anh ta là gia sư của gia đình đó.

542. 아버지와 그는 서로 통하는 데가 있었다.

Cha và anh ta có điểm gì đó đồng cảm với nhau.

543. 지섭이 하는 말을 나는 들었었다.

Tôi đã từng nghe những điều Ji-seop nói.

544. 그는 이 땅에서 우리가 기대할 것은 이제 없다고 말했다.

Anh ta nói rằng trên mảnh đất này giờ đây không còn gì để chúng ta có thể hy vọng nữa.

545. “왜?”

“Tại sao?”

546. 아버지가 물었다.

Cha hỏi.

547. 지섭이 말했다.

Ji-seop nói:

548. “사람들은 사랑이 없는 욕망만 갖고 있습니다.

“Con người chỉ mang trong mình những dục vọng không có tình yêu.

549. 그래서 단 한 사람도 남을 위해 눈물을 흘릴 줄 모릅니다.

Vì thế, không một ai biết rơi nước mắt vì người khác.

550. 이런 사람들만 사는 땅은 죽은 땅입니다.”

Một vùng đất chỉ có những con người như vậy là một vùng đất chết.”

551. “하긴!”

“Cũng phải!”

552. “아저씨는 평생 동안 아무 일도 안 하셨습니까?”

“Bác suốt đời chẳng làm việc gì sao?”

553. “일을 안 하다니? 일을 했지.

“Sao lại không làm việc? Ta đã làm chứ.

554. 열심히 했어.

Ta đã làm rất chăm chỉ.

555. 우리 식구 모두가 열심히 일했네.”

Cả gia đình ta đều đã làm việc rất chăm chỉ.”

556. “그럼 무슨 나쁜 짓을 하신 적은 없으십니까? 법을 어긴 적 없으세요?”

“Vậy bác chưa từng làm điều gì xấu sao? Chưa từng vi phạm pháp luật à?”

557. “없어.”

“Không.”

558. “그렇다면 기도를 드리지 않으셨습니다.

“Vậy thì bác đã không cầu nguyện.

559. 간절한 마음으로 기도를 드리지 않으셨어요.”

Bác đã không cầu nguyện bằng một tấm lòng tha thiết.”

560. “기도도 올렸지.”

“Ta cũng đã cầu nguyện chứ.”

561. “그런데 이게 뭡니까? 뭐가 잘못된 게 분명하죠? 불공평하지 않으세요? 이제 이 죽은 땅을 떠나야 됩니다.”

“Vậy thì đây là gì? Rõ ràng có điều gì đó sai rồi, phải không? Bác không thấy bất công sao? Giờ chúng ta phải rời khỏi mảnh đất chết này.”

 

562. “떠나다니? 어디로?”

“Rời đi ư? Đi đâu?”

563. “달나라로!”

“Đến mặt trăng!”

564. “애들아!”

“Các con ơi!”

565. 어머니의 불안한 음성이 높아졌다.

Giọng mẹ đầy lo lắng cất cao lên.

566. 나는 책장을 덮고 밖으로 뛰어나갔다.

Tôi đóng sách lại rồi chạy vội ra ngoài.

567. 영호와 영희는 엉뚱한 곳을 찾아 헤매고 있었다.

Young-ho và Young-hee đang loay hoay tìm ở những chỗ không đúng.

568. 나는 방죽가로 나가 곧장 하늘을 쳐다보았다.

Tôi chạy ra bờ đầm và ngước thẳng lên bầu trời.

569. 벽돌 공장의 높은 굴뚝이 눈앞으로 다가왔다.

Ống khói cao của nhà máy gạch hiện ra ngay trước mắt tôi.

570. 그 맨 꼭대기에 아버지가 서 있었다.

Trên đỉnh cao nhất ấy, cha đang đứng.

571. 바로 한 걸음 정도 앞에 달이 걸려 있었다.

Ngay phía trước ông, cách chỉ một bước chân, mặt trăng như đang treo lơ lửng.

572. 아버지는 피뢰침을 잡고 발을 앞으로 내밀었다.

Cha nắm lấy cột thu lôi và bước chân ra phía trước.

573. 그 자세로 아버지는 종이 비행기를 날렸다.

Giữ nguyên tư thế ấy, cha thả một chiếc máy bay giấy bay đi.

574. 나는 방죽가 풀섶에 엎드려 있었다.

Tôi nằm sấp trong đám cỏ ven đầm.

575. 온몸이 이슬에 젖어 축축했다.

Toàn thân tôi ướt đẫm sương, ẩm ướt.

576. 조금만 움직이면 잡초에 맺힌 이슬 방울이 나의 몸에 떨어졌다.

Chỉ cần cử động một chút, những giọt sương đọng trên cỏ dại lại rơi xuống người tôi.

577. 한밤을 나는 방죽가 풀섶에 엎드려 새웠다.

Tôi đã nằm sấp trong đám cỏ ven đầm suốt cả đêm.

578. 아무것도 볼 수 없었다.

Tôi không thể nhìn thấy gì cả.

579. 어둠이 조금씩 뒷걸음쳐가기 시작했다.

Bóng tối bắt đầu lùi dần từng chút một.

580. 마지막 밤을 ‘우리의 집’에서 보내지 못했다는 아픔이 목을 타고 올라왔다.

Nỗi đau vì không thể trải qua đêm cuối cùng trong “ngôi nhà của chúng tôi” dâng nghẹn nơi cổ họng.

581. 동네는 아직 깊은 잠에 빠져 있었다.

Cả khu phố vẫn còn chìm trong giấc ngủ sâu.

582. 그러나 나는 더 이상 기다릴 필요가 없었다.

Nhưng tôi không cần phải chờ đợi thêm nữa.

583. 비행 접시를 타고 온 외계인들이 영희를 태워 갔다는 소문은 터무니없는 것이었다.

Tin đồn rằng người ngoài hành tinh đi bằng đĩa bay đã đưa Young-hee đi chỉ là chuyện vô lý.

584. 나는 처음부터 그 소문을 믿지 않았다.

Ngay từ đầu tôi đã không tin vào tin đồn đó.

585. “애들아!”

“Các con ơi!”

586. 어머니가 말했다.

Mẹ nói.

587. “이러고만 있으면 어떻게 할 거냐?”

“Cứ như thế này thì biết làm sao đây?”

588. “찾아봐도 없는 걸 어떻게 해요?”

“Tìm mãi cũng không thấy thì biết làm sao ạ?”

589. 내가 말했다.

Tôi nói.

590. 나는 헐어 버린 이발관집 공터에서 주정뱅이를 만났다.

Tôi gặp một kẻ say rượu ở bãi đất trống nơi tiệm cắt tóc đã bị phá bỏ.

591. “찾아봐야 쓸데없는 일이야.”

“Có tìm cũng vô ích thôi.”

592. “정말 보셨어요?”

“Thật sự ông đã nhìn thấy sao?”

593. “암, 봤다니까.”

“Ừ, tôi đã thấy mà.”

594. 주정뱅이는 말을 잘 못했다.

Gã say rượu nói năng không rõ ràng.

595. 그는 심하게 딸꾹질을 해댔다.

Hắn nấc lên liên hồi một cách dữ dội.

596. “영희를 보았다는 사람은 아저씨밖에 없어요.

“Người nói đã thấy Young-hee chỉ có mỗi bác thôi.

597. 그러니까 자세히 좀 말씀해 주세요.”

Vì vậy xin bác hãy kể chi tiết hơn một chút.”

598. “너희 아버지는 알고 있어.”

“Cha các cậu biết đấy.”

599. “아버지도 모르세요.”

“Cha tôi cũng không biết.”

600. “그럴 리가 없다.

“Không thể nào như vậy được.

601. 너희 아버지가 신호를 보내서 비행 접시가 왔던 거야.”

Chính cha các cậu đã phát tín hiệu nên đĩa bay mới đến.”

602. 더 이상 들을 필요가 없었다.

Không cần phải nghe thêm nữa.

603. 그런데도 나는 그 곳에 서 있었다.

Vậy mà tôi vẫn đứng ở đó.

604. “굉장히 큰 접시였지.

“Đó là một cái đĩa rất lớn.

605. 그 밑에서 나온 괴물들이 영희를 끌어올렸어, 순식간에.

Những con quái vật từ bên dưới nó xuất hiện và kéo Young-hee lên trong chớp mắt.

606. 나중에 알아보았더니, 그게 비행 접시라는 구나.”

Sau này tôi mới biết, đó gọi là đĩa bay.”

607. 주정뱅이는 계속 딸꾹질을 해댔다.

Gã say rượu vẫn tiếp tục nấc liên hồi.

608. “그만두세요.”

“Thôi đi.”

609. 내가 말했다.

Tôi nói.

610. “그럼 찾아보렴.”

“Vậy thì cứ đi tìm đi.”

611. 주정뱅이가 말했다.

Gã say rượu nói.

612. “네 동생이 어디 있나 찾아봐.

“Hãy tìm xem em cậu đang ở đâu.

613. 있을 턱이 없지.

Làm gì còn ở đó nữa.

614. (계속됨)

(Còn tiếp…)

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo