DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT QUẢ BÓNG NHỎ DO NGƯỜI LÙN BẮN LÊN CỦA NHÀ VĂN CHO SE-HUI ( PHẦN 2)

TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA

BAN BIÊN TẬP TÀI LIỆU

DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT

QUẢ BÓNG NHỎ DO NGƯỜI LÙN BẮN LÊN CỦA NHÀ VĂN CHO SE-HUI

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Hà Ngọc Bích Cầm – CSTT Kanata NKKN

201. 처음 보는 사람들이 하루에도 몇 차례씩 떼를 지어 동네를 돌았다.

Những người lạ mặt, mỗi ngày vài lần, tụ tập thành từng tốp đi quanh khu xóm.

202. 그 때만은 더러운 옷을 입은 어린아이들도 울음을 그쳤다.

Mỗi khi ấy, ngay cả lũ trẻ mặc quần áo bẩn thỉu cũng ngừng khóc.

203. 윽박지르는 주인의 기세에 눌린 개들도 짖기를 멈추고 뒤로 물러섰다.

Những con chó bị áp đảo bởi khí thế quát nạt của chủ cũng thôi sủa, lùi về phía sau.

204. 온 동네가 조용해졌다.

Cả khu xóm trở nên im lặng.

205. 갑자기 평화스러워져 어안이 벙벙할 정도였다.

Sự yên tĩnh đến đột ngột khiến người ta ngỡ ngàng như không tin nổi.

206. 나는 우리 동네에서 풍기는 냄새가 창피했다.

Tôi cảm thấy xấu hổ về mùi mà khu xóm chúng tôi tỏa ra.

207. 그들은 아버지에게 허리를 굽혀 인사했다.

Họ cúi người chào cha tôi.

208. 그들과 악수할 때 아버지는 발뒤꿈치를 들었다.

Khi bắt tay họ, cha tôi phải nhón gót lên.

209. 아버지가 어떤 자세를 취했건 상관이 없었다.

Cha có đứng ở tư thế nào đi nữa cũng chẳng quan trọng.

210. 난쟁이 아버지가 우리들에게는 거인럼 보였다.

Người cha lùn của chúng tôi, trong mắt chúng tôi, lại trông như một người khổng lồ..

211. “너 봤지?” 내가 물었다.

“Mày thấy rồi chứ?” Tôi hỏi.

212. 영호가 고개를 끄덕였다.

Young-ho gật đầu.

213. “나도 봤어.” 영희가 말했다.

“Em cũng thấy.” Young-hee nói.

214. 그 때 아버지에게 허리를 굽혀 인사한 사람은 개천에 다리를 놓고, 도로를 포장하고, 우리 동네 건물을 양성화시켜 주겠다고 말했다.

Người đã cúi chào cha khi ấy nói rằng sẽ xây cầu qua con suối, trải nhựa đường và hợp thức hóa các ngôi nhà trong khu xóm chúng tôi.

215. 우리는 어른들을 따라 크게 크게 손뼉을 쳤다.

Chúng tôi học theo người lớn, vỗ tay thật to.

216. 다음 사람은 먼저 사람이 다리를 놓고, 도로를 포장하겠다고 하니 구청장으로 보내고, 자기는 이러이러한 나라일을 하겠으니 그 일을 하게 해 달라고 말했다.

Người tiếp theo nói rằng, vì người trước đã hứa làm cầu và làm đường, nên hãy đưa người đó lên làm quận trưởng, còn bản thân ông ta sẽ lo những việc quốc gia như thế này thế kia, xin hãy để ông ta làm những việc ấy.

217. 어른들은 또 손뼉을 쳤다.

Người lớn lại vỗ tay.

218. 우리도 따라 쳤다.

Chúng tôi cũng vỗ theo.

219. 커서까지 나는 그 때 일을 종종 생각하고는 했다.

Mãi đến khi lớn lên, tôi vẫn thường nghĩ về chuyện ngày hôm đó.

220. 두 사람의 인상은 아주 진하게 나의 머릿속에 남았다.

Ấn tượng về hai người ấy in đậm trong tâm trí tôi.

221. 나는 그들을 증오했다.

Tôi căm ghét họ.

222. 그들은 거짓말쟁이였다.

Họ là những kẻ nói dối.

223. 그들은 엉뚱하게도 계획을 내세웠다.

Họ đưa ra những kế hoạch viển vông.

224. 그러나 우리에게 필요한 것은 계획이 아니었다.

Nhưng thứ chúng tôi cần không phải là kế hoạch.

225. 많은 사람들이 이미 많은 계획을 내놓았었다.

Đã có quá nhiều người đưa ra quá nhiều kế hoạch rồi.

226. 그런데도 달라진 것은 없었다.

Vậy mà chẳng có gì thay đổi.

227. 설혹 무엇을 이룬다고 해도 그것은 우리와는 상관이 없는 것이었을 것이다.

Dù có đạt được điều gì đi nữa, thì điều đó cũng chẳng liên quan gì đến chúng tôi.

228. 우리가 필요로 하는 것은 우리의 고통을 알아 주고 그 고통을 함께 져 줄 사람이었다.

Điều chúng tôi cần là một người hiểu được nỗi đau của chúng tôi và cùng gánh chịu nỗi đau ấy.

229. “그런 사람이 또 있겠니!” 어머니가 말했다.

“Làm gì còn ai như người đó nữa!” Mẹ tôi nói.

230. “누구 말씀이세요?” 영호가 물었다.

“Mẹ nói ai vậy?” Young-ho hỏi.

231. “명희 엄마 말이다. 얼마나 고마우냐. 십오만 원을 대 줘 건넌방 전세돈을 빼 줬잖니.”

“Là mẹ của Myung-hee chứ ai. Bà ấy tốt biết bao. Đã giúp mình mười lăm vạn won để lấy lại tiền thuê phòng bên kia.”

232. “영희 엄마.”

“Mẹ Young-hee à.”

233. 명희 어머니는 담너머에서 말했다.

Mẹ của Myung-hee nói vọng qua bức tường.

234. “섭섭하게 생각하지 말아요.”

“Đừng nghĩ ngợi gì nhé.”

235. “그럼요.” 어머니가 말했다.

“Vâng, tất nhiên rồi.” Mẹ tôi đáp.

236. “어떻게든 해 드릴 테니 걱정 마세요.”

“Chúng tôi sẽ tìm cách xoay xở trả lại, nên bà đừng lo.”

237. “그 돈이 보통 돈이우.”

“Số tiền đó đâu phải nhỏ.”

238. “알고 있어요. 명희 생각을 하면 가슴이 메어져요.”

“Tôi biết chứ. Nghĩ đến Myung-hee là tôi lại nghẹn lòng.”

239. 나도 마찬가지였다.

Tôi cũng vậy.

240. “명희 언니.” 영희가 소리쳐 불렀었다.

“Chị Myung-hee!” Young-hee đã từng gọi to như thế.

241. “놀러와. 우리 집에 놀러 와.”

“Sang chơi đi. Sang nhà em chơi đi.”

242. “새 집이라 좋지?”

“Nhà mới thích chứ?”

243. “응.”

“Ừ.”

244. “네가 장독대에 써 놓은 거 지우지 않으면 너희 집에 놀러가지 않을 거야.”

“Nếu cậu không xóa dòng chữ viết ở chỗ chum vại, thì tớ sẽ không sang nhà cậu đâu.”

245. “지울 수가 없어.”

“Không xóa được.”

246. “왜?”

“Sao vậy?”

247. “세멘이 굳어져서 못 지워.”

“Xi măng đã khô rồi, không xóa được.”

248. “그럼 난 안 가.”

“Thế thì tớ không sang.”

249. 영희는 몹시 실망하는 눈치였다.

Young-hee trông rất thất vọng.

250. 그러나 나는 명희를 만났다.

Nhưng tôi thì đã gặp Myung-hee.

251. 그 때는 방죽 오른쪽은 숲이었다.

Khi đó, phía bên phải con đê vẫn còn là rừng.

252. 거기 앉아 있으면 숲 사이로 인쇄 공장의 불빛이 보였다.

Ngồi ở đó có thể nhìn thấy ánh đèn của nhà máy in qua những tán cây.

253. 그 곳 공원들은 밤중에도 일을 했다.

Những người thợ ở đó làm việc cả trong đêm.

254. “네가 약속하면 허락할 테야.” 명희가 말했다.

“Nếu cậu hứa, thì tớ sẽ cho phép.” Myung-hee nói.

255. “무슨 약속?” 내가 물었다.

“Lời hứa gì?” Tôi hỏi.

256. “넌 저 공장에 나가면 안 돼.”

“Cậu không được vào làm ở nhà máy đó.”

257. “미쳤어? 난 저 따위 공장엔 안 나가.”

“Cậu điên à? Tớ không đời nào vào cái loại nhà máy như thế.”

258. “정말이다? 약속했어.”

“Thật chứ? Hứa rồi nhé.”

259. “그래. 약속했어.”

“Ừ. Tớ hứa rồi.”

260. “그럼, 만져 봐.”

“Vậy thì, thử chạm đi.”

261. 명희는 나에게 가슴을 맡겼다.

Myung-hee để mặc cho tôi chạm vào ngực mình.

262. 아주 작은 가슴이었다.

Một bầu ngực rất nhỏ.

263. “네가 처음야.”

“Cậu là người đầu tiên.”

264. 명희가 말했다.

Myung-hee nói.

265. “내 가슴을 만져 본 사람은 너밖에 없어.”

“Ngoài cậu ra, chưa có ai từng chạm vào ngực tớ.”

266. 나는 왼팔로 명희의 어깨를 안고 오른손으로 그 애의 가슴을 만졌다.

Tôi ôm vai Myung-hee bằng tay trái, và dùng tay phải chạm vào ngực cô ấy.

267. 동그스름한 가슴이 따뜻했다.

Bầu ngực tròn trịa ấy ấm áp.

268. “아무에게도 말하면 안 돼.”

“Đừng nói với bất cứ ai.”

269. 명희가 속삭이듯 말했다.

Myung-hee nói khẽ như thì thầm.

270. 그 애의 입김이 귀 밑에 느껴졌다.

Hơi thở của cô ấy phả nhẹ dưới tai tôi.

271. “말 안 할게.”

“Tớ sẽ không nói.”

272. “동생한테도 말하지 마.”

“Đừng nói với cả em cậu.”

273. “말 안 해.”

“Tớ không nói đâu.”

274. “네가 비밀을 지키고, 아까 한 약속을 지키면 네가 하고 싶은 대로 하게 해 줄 테야.”

“Nếu cậu giữ bí mật và giữ lời hứa vừa rồi, tớ sẽ để cậu làm theo điều cậu muốn.”

275. “정말이지?”

“Thật chứ?”

276. “정말야.”

“Thật.”

277. “지금 다른 데 만지면 안 되니?”

“Bây giờ không được chạm vào chỗ khác sao?”

278. 그런데 명희는 만날 때마다 힘이 없어 보였다.

Nhưng mỗi lần gặp, Myung-hee đều trông như không còn sức lực.

279. 어떤 때는 정신없이 가만히 앉아만 있었다.

Có lúc cô ấy ngồi lặng im, như mất hồn.

280. “왜 그러니?”

“Sao vậy?”

281. 나는 걱정이 되었다.

Tôi thấy lo lắng.

282. “너 어디 아프니?”

“Cậu bị đau ở đâu à?”

283. “아니.”

“Không.”

284. “그럼 왜 그래?”

“Vậy sao lại như thế?”

285. “우리 집 밥은 먹기가 싫어.”

“Tớ không muốn ăn cơm ở nhà.”

286. “왜?”

“Tại sao?”

287. “질렸어.”

“Chán rồi.”

288. “그럼 넌 죽어.”

“Vậy thì cậu chết đi.”

289. “죽고 싶어.”

“Tớ muốn chết.”

290. “명희야. 난 저따위 공장엔 안 나갈거야. 공부를 해서 큰 회사에 나갈 테야. 약속해.”

“Myung-hee à. Tớ sẽ không vào làm ở cái loại nhà máy đó. Tớ sẽ học hành để vào một công ty lớn. Hứa đi.”

291. “배가 고파.”

“Tớ đói.”

292. 작은 명희가 웃으며 말했다.

Myung-hee nhỏ bé vừa cười vừa nói.

293. “뭐가 먹고 싶니?” 내가 물었다.

“Cậu muốn ăn gì?” Tôi hỏi.

294. 명희는 나의 손을 잡았다.

Myung-hee nắm lấy tay tôi.

295. 그 애는 나의 손가락을 하나 하나 짚어 가며 말했다.

Cô ấy lần lượt chạm vào từng ngón tay của tôi và nói:

296. “사이다, 포도, 라면, 빵, 사과, 계란, 고기, 쌀밥, 김.”

“Nước ngọt, nho, mì ăn liền, bánh mì, táo, trứng, thịt, cơm trắng, rong biển.”

297. 명희는 나의 손가락 하나를 마저 짚지 못했다.

Myung-hee không thể chạm đến ngón tay cuối cùng của tôi.

298. 그 때의 명희에게는 그 이상의 것은 필요하지 않았을 것이다.

Với Myung-hee lúc đó, có lẽ như thế đã là đủ.

299. 그 명희가 자라면서 다방 종업원이 되고, 고속 버스 안내양이 되고, 골프장 캐디가 되었다.

Myung-hee ấy, khi lớn lên, đã trở thành nhân viên quán trà, rồi tiếp viên xe buýt đường dài, rồi caddie ở sân golf.

300. 그 애가 어느 날 핼쑥해진 얼굴로 집에 돌아왔다.

Một ngày nọ, cô ấy trở về nhà với gương mặt hốc hác.

301. 그 애로서는 마지막 인사였다.

Đó là lời chào cuối cùng của cô ấy.

302. 어머니는 명희가 집에 올 때마다 배가 불러 있었다고 나중에 말했다.

Sau này, mẹ nói rằng mỗi lần Myung-hee đến nhà, bụng cô ấy đều đã no.

303. 명희는 음독 자살 예방 센터에서 숨을 거두었다.

Myung-hee qua đời tại trung tâm phòng chống tự tử bằng thuốc độc.

304. “싫어! 엄마! 싫어!” 독약 기운에 빠져 명희는 소리쳤다.

“Không! Mẹ ơi! Không!” — trong cơn ngấm độc, Myung-hee đã kêu lên như vậy.

305. 성장한 명희는 마지막 순간에 어렸을 적 일들 속을 헤매었을 것이다.

Myung-hee khi đã trưởng thành, trong giây phút cuối cùng, hẳn đã lạc lối giữa những ký ức tuổi thơ.

306. 그 애가 남긴 예금 통장에 십구만 원이 들어 있었다.

Trong sổ tiết kiệm cô ấy để lại có mười chín vạn won.

307. “십오만 원야요.”

“Là mười lăm vạn won.”

308. 명희 어머니가 말했다.

Mẹ của Myung-hee nói.

309. “우선 건넌방 사람들을 내보내세요.”

“Trước hết hãy cho người thuê phòng bên kia dọn đi.”

310. 어머니는 돈을 받아 들었다.

Mẹ tôi nhận lấy tiền.

311. 아무 말도 못했다.

Không nói được lời nào.

312. “헐릴 집이라는 걸 알면서 세 들어올 사람이 있겠어요?”

“Biết là nhà sắp bị phá, còn ai dám đến thuê chứ?”

313. “그래서 그래요.”

“Chính vì vậy đấy.”

314. “모진 소리 더 듣지 말고 우선 나가겠다는 사람은 내보내세요.”

“Đừng nghe thêm lời cay nghiệt nữa, trước hết cứ cho những người muốn đi thì đi.”

315. “이게 어떤 돈인데!”

“Số tiền này đâu phải tiền thường!”

316. “명희 언니는 큰오빠를 좋아했어.”

“Chị Myung-hee thích anh cả.”

317. 영희가 말했다.

Young-hee nói.

318. “큰오빠도 알았지?”

“Anh cả cũng biết mà, đúng không?”

319. “그만둬.”

“Thôi đi.”

320. 영희가 기타를 쳤다.

Young-hee gảy đàn guitar.

321. 나는 벽돌 공장 굴뚝 위에 떠 있는 달을 보았다.

Tôi nhìn vầng trăng treo trên ống khói của nhà máy gạch.

322. 나의 라디오는 고장이 났다.

Chiếc radio của tôi bị hỏng.

323. 며칠 동안 나는 방송 통신 고교의 강의를 받지 못했다.

Trong mấy ngày liền, tôi không thể nghe các bài giảng của trường trung học từ xa.

324. 나는 명희와의 약속을 지킬 수 없었다.

Tôi đã không thể giữ lời hứa với Myung-hee.

325. 중학교 3학년 초에 학교를 그만두었다.

Tôi bỏ học vào đầu năm lớp 9.

326. 더 이상 나갈 수 없었다.

Tôi không thể tiếp tục đến trường nữa.

327. 아버지와 어머니는 내가 공부를 계속하기를 바랐다.

Cha mẹ vẫn mong tôi tiếp tục việc học.

328. 그러나 밀어 줄 힘이 없었다.

Nhưng không có sức để đẩy lên.

329. 자세히 보면 아버지는 같은 또래의 사람들보다 많이 늙어 보였다.

Nhìn kỹ thì cha trông già hơn rất nhiều so với những người cùng tuổi.

330. 우리 식구들밖에 모르는 일이었다.

Đó là điều chỉ gia đình chúng tôi mới biết.

331. 아버지의 신장은 백십칠 센티미터, 체중은 삼십이 킬로그램이었다.

Chiều cao của cha là 117 cm, cân nặng là 32 kg.

332. 사람들은 이 신체적 결함이 주는 선입관에 사로잡혀 아버지가 늙는 것을 몰랐다.

Người ta bị ám ảnh bởi định kiến từ khiếm khuyết cơ thể ấy nên không nhận ra cha đang già đi.

333. 아버지는 스스로 황혼기에 접어들었다는 체념과 우울에 빠졌다.

Cha chìm vào sự buông xuôi và u uất khi tự thấy mình đã bước vào buổi hoàng hôn của đời người.

334. 실제로 이가 망가져 잠을 못 이루는 밤이 많았다.

Thực tế, có nhiều đêm cha mất ngủ vì răng đã hỏng.

335. 눈도 어두워지고 머리의 숱도 많이 빠졌다.

Mắt cũng kém đi, tóc cũng rụng nhiều.

336. 의욕은 물론 주의력과 판단력도 줄었다.

Không chỉ ý chí mà cả sự tập trung và khả năng phán đoán cũng giảm sút.

337. 아버지가 평생을 통해 해 온 일은 다섯 가지이다.

Suốt đời, cha chỉ làm năm công việc.

338. 채권 매매, 칼 갈기, 고층 건물 유리 닦기, 펌프 설치하기, 수도 고치기이다.

Đó là: mua bán giấy nợ, mài dao, lau kính nhà cao tầng, lắp máy bơm và sửa ống nước.

339. 이 일들만 해온 아버지가 갑자기 다른 일을 하겠다고 했다.

Người cha chỉ làm những việc ấy bỗng nói rằng sẽ làm một công việc khác.

340. 서커스단의 일이었다.

Đó là việc ở đoàn xiếc.

341. 아버지는 처음 보는 꼽추 한 사람을 데리고 와 여러 가지 이야기를 했다.

Cha dẫn về một người gù lưng mà chúng tôi chưa từng gặp và nói đủ chuyện.

342. 처음 얼마 동안은 그의 조수로 일하면 된다고 했다.

Ông nói rằng trước mắt chỉ cần làm phụ việc cho người đó một thời gian.

343. 두 사람은 자기들이 무대 위에서 해야 할 연기에 대해 이야기했다.

Hai người bàn về những màn diễn mà họ sẽ thực hiện trên sân khấu.

344. 그러자 어머니가 아버지에게 대들었다.

Khi đó, mẹ đã phản đối cha.

345. 우리들도 아버지를 성토했다.

Chúng tôi cũng trách móc cha.

346. 아버지는 힘없이 물러섰다.

Cha lặng lẽ rút lui, không còn sức phản kháng.

347. 꼽추는 멍하니 앉아 우리를 보았다.

Người gù lặng người ngồi nhìn chúng tôi.

348. 꼽추는 눈물이 핑 돌아 돌아갔다.

Mắt ông ta đỏ hoe, rồi quay lưng đi.

349. 그의 뒷모습은 아주 쓸쓸해 보였다.

Bóng lưng ông ta trông vô cùng cô đơn.

350. 아버지의 꿈은 깨어졌다.

Giấc mơ của cha đã tan vỡ.

351. 아버지는 무거운 부대를 메고 일을 찾아 나갔다.

Cha lại khoác chiếc bao nặng lên vai, đi tìm việc.

352. 그 날 저녁이었다.

Đó là vào buổi tối hôm ấy.

353. “애들아!”

“Các con ơi!”

354. 어머니가 우리를 불렀다.

Mẹ gọi chúng tôi.

355. “아버지의 음성이 이상해지셨어.”

“Giọng của cha trở nên kỳ lạ rồi.”

356. “왜 그러세요?”

“Sao vậy ạ?”

357. 내가 물었다.

Tôi hỏi.

358. 아버지는 아무 말 안 했다.

Cha không nói gì.

359. “약방엘 다녀와야겠다.”

“Phải ra tiệm thuốc một chuyến thôi.”

360. 어머니가 봉당으로 내려섰다.

Mẹ bước xuống hiên.

361. “백반을 사 와.”

“Mua phèn chua về.”

362. 아버지가 말했다.

Cha nói.

363. 아버지의 목소리 같지 않았다.

Đó không giống giọng của cha.

364. 아주 짧은 혀가 안으로 말려드는 소리를 냈다.

Âm thanh phát ra như thể chiếc lưỡi ngắn bị cuộn vào bên trong.

365. 어머니가 히비탄 트로키라는 약을 사 왔다.

Mẹ mua về một loại thuốc gọi là Hibitan Troche.

366. “백반은 안 나오고 이게 더 좋은 약이래요. 이걸 빨아 잡수세요.”

“Không có phèn chua, họ bảo cái này là thuốc tốt hơn. Ông ngậm cái này đi.”

367. 아버지는 말없이 약을 받아 입에 넣었다.

Cha lặng lẽ nhận thuốc rồi cho vào miệng.

368. 아버지는 그 일 이후 말을 잘 안 했다.

Từ sau chuyện đó, cha ít nói hẳn.

369. 혀가 안으로 말려든다고만 했다.

Chỉ nói rằng lưỡi bị cuộn vào bên trong.

370. 잠을 잘 때는 혀를 이로 물었다.

Khi ngủ, cha cắn giữ lưỡi bằng răng.

371. “아버지는 너무 지치셨다.”

“Cha đã quá kiệt sức rồi.”

372. 어머니가 말했다.

Mẹ nói.

373. “알겠니? 이젠 아버지를 믿지 마라.

“Các con hiểu chưa? Từ giờ đừng tin cha nữa.

374. 너희들이 아버지 대신 일해야 한다.”

Các con phải thay cha mà làm việc.”

375. 어머니가 울었다.

Mẹ khóc.

376. 어머니는 인쇄소 제본 공장에 나가 접지 일을 했다.

Mẹ đi làm việc gấp giấy ở xưởng đóng sách của nhà in.

377. 고무 골무를 끼고 인쇄물을 접었다.

Mẹ đeo bao ngón tay bằng cao su và gấp các ấn phẩm in.

378. 나는 겁이 났다.

Tôi cảm thấy sợ hãi.

379. 나는 인쇄소 공무부 조역으로 출발했다.

Tôi bắt đầu làm phụ việc ở bộ phận công vụ của nhà in.

380. 땀을 흘리지 않고는 아무것도 얻을 수 없었다는 것을 뒤늦게 알았다.

Tôi muộn màng nhận ra rằng không đổ mồ hôi thì chẳng thể có được gì.

381. 명희는 나를 만나 주지 않았다.

Myung-hee không chịu gặp tôi.

382. 아주 쌀쌀했다.

Cô ấy rất lạnh nhạt.

383. 영호와 영희도 몇 달 간격을 두고 학교를 그만 두었다.

Young-ho và Young-hee cũng lần lượt bỏ học, cách nhau vài tháng.

384. 마음이 차라리 편해졌다.

Ngược lại, lòng tôi lại thấy nhẹ đi.

385. 우리를 해치는 사람은 없었다.

Không có ai trực tiếp làm hại chúng tôi.

386. 우리는 보이지 않는 보호를 받고 있었다.

Chúng tôi đang được bảo vệ bởi một thứ vô hình.

387. 남아프리카의 어느 원주민들이 일정한 구역 안에서 보호를 받듯이 우리도 이질 집단으로서 보호를 받았다.

Giống như những người bản địa ở Nam Phi được “bảo vệ” trong một khu vực nhất định, chúng tôi cũng được “bảo vệ” như một nhóm biệt lập.

388. 나는 우리가 이 구역 안목-약물-해판의 과정을 거쳐 정판에서 일했다.

Tôi làm việc ở khâu in chính, sau khi trải qua các công đoạn như sửa bản, xử lý thuốc và chế bản trong khu vực này.

389. 영호는 인쇄에서 일했다.

Young-ho làm ở bộ phận in.

390. 나는 우리가 한 공장에서 일하는 것이 싫었다.

Tôi không thích việc chúng tôi làm cùng một nhà máy.

391. 영호도 마찬가지였다.

Young-ho cũng vậy.

392. 그래서 영호는 먼저 철공소 조수로 들어가 잔심부름을 했다.

Vì vậy, Young-ho trước tiên vào làm phụ việc ở xưởng cơ khí, làm những việc lặt vặt.

393. 가구 공장에서도 일했다.

Nó cũng từng làm ở xưởng sản xuất đồ gỗ.

394. 그 공장에 가 일하는 영호를 보았다.

Tôi đã đến xưởng đó và thấy Young-ho đang làm việc.

395. 뽀얀 톱밥 먼지와 소음 속에서 있는 작은 영호를 보고 나는 그만두라고 했다.

Nhìn Young-ho nhỏ bé giữa bụi mùn cưa trắng đục và tiếng ồn, tôi đã bảo nó nghỉ việc.

396. 인쇄공장의 소음도 무서운 것이었으나 그 곳에는 톱밥 먼지는 없었다.

Tiếng ồn ở nhà máy in cũng đáng sợ, nhưng ở đó không có bụi mùn cưa.

397. 우리는 죽어라 일했다.

Chúng tôi làm việc đến chết.

398. 우리의 팔목은 공장 안에서 긁어 갔다.

Cổ tay chúng tôi bị cọ xát, trầy xước trong nhà máy.

399. 영희는 그 때 큰길가 슈퍼마켓 한쪽에 자리잡은 빵집에서 일했다.

Khi đó, Young-hee làm việc ở một tiệm bánh nằm trong góc siêu thị ven đường lớn.

400. 우리가 고맙게 생각한 것은 환경이 깨끗하다는 것 하나뿐이었다.

Điều duy nhất chúng tôi thấy đáng biết ơn là môi trường ở đó sạch sẽ.

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo