TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA
BAN BIÊN TẬP TÀI LIỆU
DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN “만무방“
KHÔNG SAO CẢ
Kim Yu-jeong
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Vũ Thị Ngọc Anh – CSTT Kanata Thủ Đức
501. 노랫소리는 나직나직 한산히 흘러온다. Tiếng hát khe khẽ, nhàn nhạt vọng lại từ đằng xa.
502. 아마 벼를 뒷심대고 외상이리라. Chắc hẳn là cậy có lúa sắp thu hoạch nên lại đi uống rượu chịu rồi.
503. 응칠이는 잠자코 벌떡 일어나 바깥으로 나섰다. Eung-chil lẳng lặng bật dậy bước ra ngoài.
504. 그리고 다 나와서야 그 집 친구에게 눈치를 안 채이도록, “내 잠깐 다녀옴세!” Đợi đến khi đã ra hẳn bên ngoài, để người bạn trong nhà không nghi ngờ, anh mới nói vọng vào: “Tôi đi một lát rồi về!”
505. “어딜 가나?” “Đi đâu thế?”
506. 친구는 웬 영문을 몰라서 뻔히 쳐다보다 밤이 이렇게 늦었으니 나갈 생각 말고 어여 이리 들어와 자라 하였다.
Người bạn không hiểu chuyện gì, cứ thế nhìn trân trân rồi bảo đêm hôm khuya khoắt thế này rồi, đừng đi đâu nữa mà hãy vào đây ngủ đi.
507. 기껏 둘이 앉아서 개코쥐코 떠들다가 갑자기 일어서니까 꽤 이상한 모양이었다. Đang ngồi tán gẫu đủ thứ chuyện trên đời, tự dưng anh lại đứng phắt dậy đi khiến người bạn thấy lạ lùng lắm.
508. “건너마을 가 담배 한 봉 사올라구.” “Tôi sang làng bên mua gói thuốc lá ấy mà.”
509. “담배 여깄는데 또 사 뭐 하나?” “Thuốc lá ở đây có rồi, mua thêm làm gì nữa?”
510. 친구는 호주머니에서 굳이 연봉을 꺼내어 손에 들어 보이더니, “이리 들어와 섬이나 좀 쳐주게.” Người bạn cố lôi gói thuốc lá trong túi ra giơ lên cho thấy, rồi bảo: “Vào đây giúp tôi dệt mấy cái bao cói đi.”
511. “아 참, 깜빡…….” 하고 응칠이는 미안스러운 낯으로 뒤통수를 긁적긁적한다. “À phải rồi, tôi quên béng mất…” Eung-chil lộ vẻ áy náy, đưa tay gãi gãi sau gáy.
512. 하기는 섬을 좀 쳐달라고 며칠째 당부하는 걸 노름에 몸이 팔려 그만 잊고 잊고 했던 것이다. Quả thực, bạn anh đã nhờ dệt bao mấy ngày nay rồi, nhưng vì mải mê cờ bạc nên anh cứ quên bẵng đi.
513. 먹고 자고 이렇게 신세를 지면서 이건 썩 안됐다, 생각은 했지만, “내 곧 다녀올걸 뭐.” Tuy nghĩ rằng ăn nhờ ở đậu nhà người ta mà thế này thì thật không phải, nhưng anh vẫn nói: “Tôi đi loáng cái là về ngay thôi mà.”
514. 어정쩡하게 한마디 남기곤 그 집을 뒤에 남긴다. Anh để lại một câu lửng lơ rồi rời khỏi ngôi nhà.
515. 그러나 이 친구는, “그럼, 곧 다녀오게!” 하고 때를 재치는 법은 없었다. Nhưng người bạn này chưa bao giờ là hạng người hẹp hòi hay hay gây khó dễ.
516. 언제나 여일같이, “그럼 잘 다녀오게!” 이렇게 그 신상만 편하기를 비는 것이다. Lúc nào anh ta cũng vậy, luôn nói: “Thế thì đi cẩn thận nhé!”, chỉ cầu chúc cho bạn mình được bình an.
517. 응칠이는 모든 사람이 저에게 그 어떤 경의를 갖고 대하는 것을 가끔 느끼고 어깨가 으쓱거린다. Eung-chil thỉnh thoảng lại thấy tự hào và hãnh diện khi nhận thấy mọi người xung quanh luôn đối xử với anh bằng một sự kính nể nhất định.
518. 백판 모르는 사람도 데리고 앉아서 몇 번 말만 좀 하면 대뜸 구부러진다. Ngay cả những người hoàn toàn xa lạ, chỉ cần ngồi xuống nói chuyện vài câu là họ nể sợ anh ngay.
519. 그렇게 장한 것인지 그 일을 하다가, 그 일이라야 도적질이지만, 들어가 욕보던 이야기를 하면 그들은 눈을 커다랗게 뜨고, “아이구, 그걸 어떻게 당하셨수!” 하고 적이 놀라면서도, Không biết có phải vì oai phong quá không mà khi anh kể về những lần đi làm “việc ấy” thực ra là đi trộm cắp rồi bị bắt bớ nhục nhã, họ đều mở to mắt ngạc nhiên: “Trời đất, sao anh lại gặp phải chuyện kinh khủng thế!”
520. “그래 그 돈은 어떡했수?” “Thế rồi số tiền đó ra sao?”
521. “또 그럴 생각이 납디까요?” “Anh có định làm lại lần nữa không?”
522. “참, 우리 같은 농군에 대면 호강살이유!” 하고들 한편 썩 부러운 모양이었다.
“Chao ôi, so với hạng nông dân như bọn tôi thì đó đúng là cuộc sống xa hoa rồi!” — họ nói với vẻ đầy ngưỡng mộ.
523. 저들도 그와 같이 진탕 먹고 살고는 싶으나 주변 없어 못 하는 그 울분에서 그런 이야기만 들어도 다소 위안이 되는 것이다. Bọn họ cũng muốn được ăn chơi nhảy múa như thế, nhưng vì không có khả năng nên chỉ cần nghe những câu chuyện ấy thôi cũng thấy được an ủi phần nào cho nỗi uất ức của mình.
524. 응칠이는 이걸 잘 알고 그 누구를 논에다 거꾸로 박아 놓고 달아나다가 붙들리어 경치던 이야기를 부지런히 하며, “자네들은 안적 멀었네, 멀었어.” Biết rõ tâm lý này, Eung-chil càng hăng hái kể chuyện anh đã cắm đầu kẻ nào đó xuống ruộng rồi bỏ chạy, sau đó bị bắt và bị trừng phạt như thế nào, rồi anh bồi thêm: “Các chú còn xanh và non lắm, còn xa mới theo kịp anh.”
525. 하고 흰소리를 치면 그들은, 옳다는 뜻이겠지, 묵묵히 고개만 꺼떡꺼떡하며 속없이 술을 사주고 담배를 사주고 하는 것이다. Khi hắn nói khoác như vậy, bọn họ chắc là đồng ý, chỉ lặng lẽ gật đầu lia lịa rồi ngây ngô mua rượu, mua thuốc lá cho hắn.
526. 그런데 이번 벼를 훔쳐 간 놈은 응칠이를 마구 넘보는 모양 같다. Nhưng tên trộm lúa lần này dường như đang coi thường và nhắm thẳng vào Ứng Chil.
527. 이렇게 생각하면 응칠이는 더욱 괘씸하였다. Nghĩ đến vậy, Ứng Chil càng thêm tức giận.
528. 그는 물푸레 몽둥이를 벗삼아 논둑길을 질러서 산으로 올라간다. Hắn cầm theo cây gậy gỗ tần bì, băng qua bờ ruộng rồi leo lên núi.
529. 이슥한 그믐 칠야. Đêm mồng bảy cuối tháng, trời tối mịt.
530. 길은 어둡고 흐릿한 언저리만 눈앞에 아물거린다. Con đường tối tăm, chỉ thấy lờ mờ trước mắt.
531. 그 논까지 칠 마장은 느긋하리라. Từ đây đến ruộng chắc cũng phải bảy dặm, đi khá xa.
532. 이 마을을 벗어나는 어귀에 고개 하나를 넘는다. Ra khỏi làng phải vượt qua một con dốc.
533. 또 하나를 넘는다. Rồi lại vượt thêm một con dốc nữa.
534. 그러면 그 다음 고개와 고개 사이에 수목이 울창한 산중턱을 비겨 대고 몇 마지기의 논이 놓였다. Giữa hai con dốc tiếp theo, có vài thửa ruộng nằm sát sườn núi rậm rạp cây cối.
535. 응오의 논은 그 중의 하나이었다. Ruộng của Ứng Ngô là một trong số đó.
536. 길에서 썩 들어앉은 곳이라 잘 뵈도 않는다. Vì nằm sâu bên trong nên từ đường cũng khó nhìn thấy.
537. 동리에 그런 소문이 안 났을 때에는 천행으로 본 놈이 없을 것이나 반드시 성팔이의 성행임에는……. Nếu trong làng chưa có lời đồn thì may ra không ai thấy, nhưng chắc chắn là do Seong-pal gây ra…
538. 응칠이는 공동묘지의 첫 고개를 넘었다. Ứng Chil vượt qua con dốc đầu tiên gần nghĩa địa.
539. 그리고 다음 고개의 마루턱을 올라섰을 때 다리가 주춤하였다. Khi vừa lên đến đỉnh dốc tiếp theo, chân hắn chợt khựng lại.
540. 저 왼편 높은 산고랑에서 불이 반짝 하다 꺼진다. Ở khe núi cao bên trái, có ánh lửa lóe lên rồi tắt.
541. 짐승불로는 너무 흐리고…… Không giống ánh l
542. 아하, 이놈들이 또 왔군. À, bọn này lại đến nữa rồi.
543. 그는 가던 길을 옆으로 새었다. Hắn rẽ khỏi con đường đang đi.
544. 더듬더듬 나뭇가지를 짚으며 큰 산으로 올라간다. Lần mò bám vào cành cây mà leo lên núi lớn.
545. 바위는 미끄러 내리며 발등을 찧는다. Đá trơn trượt làm hắn va vào mu bàn chân.
546. 딸기 가시에 종아리는 따갑고 Gai dâu làm bắp chân rát buốt,
547. 엉금엉금 기어서 바위를 끼고 감돈다. Hắn bò trườn quanh các tảng đá.
548. 산, 거반 꼭대기에 바위와 바위가 어깨를 겯고 움쑥 들어간 굴이 있다. Gần đỉnh núi có một hang đá lõm vào giữa hai tảng đá.
549. 풀들은 뻗치어 굴문을 막는다. Cỏ mọc um tùm che kín cửa hang.
550. 그 속에 돌아앉아서 다섯 놈이 머리를 맞대고 수군거린다. Bên trong có năm tên ngồi quay vào nhau thì thầm.
551. 불빛이 샐까 염려다. Chúng lo ánh lửa lọt ra ngoài.
552. 남폿불을 얕이 달아 놓고 몸들을 바싹바싹 여미어 가리운다. Chúng treo đèn dầu thấp xuống rồi co người che lại.
553. “어서 후딱후딱 쳐, 갑갑해서 원.” “Nhanh lên, đánh nhanh đi, ngột ngạt quá.”
554. “이번엔 누가 빠지나?” “Lần này ai ra?”
555. “이 사람이지 뭘 그래.” “Người này chứ còn ai.”
556. “다시 섞어, 어서 이 따위 수작이야.” “Trộn lại đi, cái kiểu này là sao.”
557. 하고 한 놈이 골을 내고 화투를 빼앗아 제 손으로 섞다가 깜짝 놀란다. Một tên bực bội giật lấy bài rồi trộn lại, bỗng giật mình.
558. 그리고 버썩 대드는 응칠이를 벙벙히 쳐다보며 얼뚤한다. Nó ngơ ngác nhìn Ứng Chil lao tới.
559. 그들은 응칠이가 오는 것을 완고척이 싫어하는 눈치였다. Bọn chúng có vẻ không thích việc Ứng Chil đến.
560. 이런 애송이 노름판인데 응칠이를 들였다가는 맥을 못 쓸 것이다. Đây là sòng bạc nhỏ, nếu để Ứng Chil vào thì khó mà ăn được.
561. 속으로는 되우 꺼렸지마는 그렇다고 응칠이의 비위를 건드림은 더욱 좋지 못하므로, Trong lòng tuy khó chịu nhưng cũng không dám làm phật ý hắn,
562. “아, 응칠인가, 어서 들어오게.” “À, Ứng Chil à, vào đi.”
563. 하고 선웃음을 치는 놈에, Có kẻ cười giả lả,
564. “난 올 듯하기에, 자넬 기다렸지.” “Tôi biết anh sẽ đến nên đợi đấy.”
565. 하며 어수대는 놈, Có kẻ nói lăng xăng,
566. “하여튼 한 케 떠보세.” “Dù sao cũng làm một ván đi.”
567. 이놈들은 손을 잡아 들이며 썩들 환영이었다. Bọn chúng nắm tay kéo hắn vào, tỏ vẻ chào đón.
568. 응칠이는 그 속으로 들어서며 무서운 눈으로 좌중을 한번 훑어보았다. Ứng Chil bước vào, đảo mắt nhìn mọi người với ánh mắt đáng sợ.
569. 그런데 재성이도 그 틈에 끼여 있는 것이 아닌가. Không ngờ Jaeseong cũng có mặt ở đó.
570. 사날 전만 해도 응칠이더러 먹을 양식이 없으니 돈 좀 취하라던 놈이 의심이 부썩 일었다. Mới mấy hôm trước còn xin tiền vì không có cái ăn, khiến hắn nghi ngờ.
571. 도둑이란 흔히 이런 노름판에서 씨가 퍼진다. Kẻ trộm thường xuất hiện từ những sòng bạc như thế này.
572. 그 옆으로 기호도 앉았다. Bên cạnh còn có Kiho.
573. 이놈은 며칠 전 제 계집을 팔았다. Tên này mấy hôm trước còn bán vợ.
574. 그 돈으로 영동 가서 장사를 하겠다던 놈이 노름을 왔다. Nói sẽ đi buôn, vậy mà lại đến đánh bạc.
575. 제깐 주제에 딸 듯싶은가. Không biết tưởng mình sẽ thắng sao.
576. 하나는 용구. 농사엔 힘 안 쓰고 노름에 몸이 달았다. Một tên khác là Yonggu, không lo làm ruộng mà chỉ mê cờ bạc.
577. 시키는 부역도 안 나온다고 동리에서 손도를 맞을 놈이다. Hắn còn không đi lao dịch, sắp bị làng trừng phạt.
578. 그리고 남의 집 머슴 녀석. Còn một tên đầy tớ nhà người khác.
579. 뽐을 내고 멋없이 점잔을 피우는 중늙은이 상투쟁이, Một ông già làm bộ nghiêm chỉnh, buộc tóc sam,
580. 이 물건은 어서 날아왔는지 보지도 못하던 놈이다. Không biết từ đâu tới, trước giờ chưa từng thấy.
581. 체 이것들이 뭘 한다구! Lũ này thì làm được gì chứ!
582. 응칠이는 기호의 등을 꾹 찔러 가지고 밖으로 나왔다. Ứng Chil huých lưng Kiho rồi kéo ra ngoài.
583. 외딴 곳으로 데리고 와서, Dẫn đến chỗ vắng,
584. “자네 돈 좀 없겠나?” “Anh có tiền không?”
585. 하고 돌아서다가, Hỏi xong quay đi,
586. “웬걸 돈이 어디……” “Làm gì có tiền…”
587. 눈치만 남고 어름어름하니, Kiho ấp úng,
588. “아내와 갈렸다지, 그 돈 다 뭐 했나?” “Nghe nói chia tay vợ rồi, tiền đâu hết?”
589. “아 이 사람아, 빚 갚았지!” “Trời ơi, trả nợ hết rồi!”
590. 기호는 눈을 내리깔며 매우 거북한 모양이다. Kiho cúi mặt, trông rất khó chịu.
591. 오른편 엄지로 한 코를 막고 흥 하고 내뽑더니 이번 빚에 졸리어 죽을 뻔했네 하고 묻지 않는 발뺌까지 얹어서 설대로 등어리를 긁죽긁죽한다. Hắn dùng ngón cái bên phải bịt một bên mũi rồi khịt mạnh, nói rằng suýt chết vì bị nợ đè lần này, lại còn tự bào chữa dù chẳng ai hỏi, vừa nói vừa gãi lưng sột soạt.
592. 그러나 응칠이는 속으로 이놈, 하였다. Nhưng trong bụng Ứng Chil thầm nghĩ: “Cái thằng này…”
593. 응칠이는 실눈을 뜨고 기호를 유심히 쏘아 주었더니, Ứng Chil nheo mắt, nhìn chằm chằm vào Kiho,
594. “꼭 사 원 남았네.” 하고 선뜻 알리고, Kiho liền nói ngay: “Còn đúng bốn won thôi,”
595. “빚 갚고 뭣 하고 흐지부지 녹았어.” “Trả nợ rồi tiêu linh tinh nên hết sạch.”
596. 어색하게도 혼자말로 우물쭈물 웃어 버린다. Hắn cười gượng, lúng túng như nói một mình.
597. 응칠이는 퉁명스러이, Ứng Chil cộc lốc,
598. “나 이 원만 최게.” 하고 손을 내대다 “Cho tôi mượn hai won thôi,” rồi chìa tay ra,
599. 그래도 잘 듣지 않으매, Nhưng thấy hắn vẫn chần chừ,
600. “따서 둘이 노눌 테야, 누가 떼먹나.” 하고 소리가 한번 빽 아니 나올 수 없다. “Thắng rồi chia đôi, ai mà ăn gian chứ,” hắn không khỏi quát lên.
601. 이 말에야 기호도 비로소 안심한 듯, Nghe vậy Kiho mới yên tâm phần nào,
602. 저고리섶을 쳐들고 훔척거리다 쭈삣쭈삣 꺼내 놓는다. Hắn vén vạt áo, lục lọi rồi rụt rè lấy tiền ra.
603. 딴은 응칠이의 솜씨면 낙자는 없을 것이다. Với tay nghề của Ứng Chil thì chắc không lỗ.
604. 설혹 재간이 모자라 잃는다면 우격이라도 도로 몰아갈 테니깐. Dù có thua thì cũng có thể dùng sức mà giành lại.
605. “나두 한 케 떠보세.” “Tôi cũng chơi một ván.”
606. 응칠이는 우죄스레 굴로 기어든다. Ứng Chil lách người chui vào hang.
607. 그 콧등에는 자신 있는 그리고 흡족한 미소가 떠오른다. Trên sống mũi hắn hiện lên nụ cười tự tin và thỏa mãn.
608. 사실이지 노름만큼 그를 행복하게 하는 건 다시 없었다. Thật ra chẳng có gì khiến hắn vui hơn cờ bạc.
609. 슬프다가도 화투나 투전장을 손에 들면 공연스레 어깨가 으쓱거리고 Dù buồn đến đâu, chỉ cần cầm bài lên là hắn lại hứng khởi, vênh vai,
610. 아무리 일이 바빠도 노름판은 옆에 못 두고 지난다. Dù bận thế nào cũng không thể bỏ qua sòng bạc.
611. 그는 이놈 저놈의 눈치를 슬쩍 한번 훑고, Hắn liếc nhìn phản ứng của mọi người,
612. “두 패루 너누지?” “Chia hai phe nhé?”
613. 응칠이는 재성이와 용구를 데리고 한옆으로 비켜 앉았다. Ứng Chil ngồi sang một bên cùng Jaeseong và Yonggu.
614. 그리고 신바람이 나서 화투를 섞 Rồi hứng khởi bắt đầu xáo bài.
615. 다가 손을 따악 짚으며, “튀전이래지 이깐 화투는 하튼 뭘 할 텐가, 녹삐킨가 켤텐가?” Anh ta đập mạnh tay xuống và nói: “Bài thẻ thì còn nói, chứ dăm ba cái bài Hwatu này thì định chơi kiểu gì, chơi kiểu cộng dồn hay kiểu mở quân?”
616. “약단이나 그저 보지!” “Thì cứ đánh bình thường xem sao đã!”
617. 사방은 매섭게 조용하였다. 바위 위에서 혹 바람에 모래 구르는 소리뿐이다.
Bốn bề im phăng phắc đến lạnh người. Chỉ có tiếng cát lăn trên đá mỗi khi có cơn gió thổi qua.
618. 어쩌다, “옛다 봐라.” 하고 화투짝이 쩔꺽, 한다. 그리곤 다시 쥐죽은 듯 잠잠하다. Thỉnh thoảng mới có tiếng “Đây, xem đi” kèm theo tiếng bài đập xuống “cạch” một cái. Rồi không gian lại rơi vào im lặng như tờ.
619. 그들은 이욕에 몸이 달아서 이야기고 뭐고 할 여지가 없다. Bọn họ đang mải mê với lòng tham nên chẳng còn tâm trí đâu mà trò chuyện.
620. 행여 속지나 않는가 하여 눈들이 빨개서 서로 독을 올린다. Ai nấy đều đỏ hốc mắt, nhìn nhau gườm gườm vì sợ bị đối phương chơi xỏ.
621. 어떤 놈이 뜯는 놈이고 어떤 놈이 뜯기는 놈인지 영문 모른다. Chẳng biết được kẻ nào đang thắng, kẻ nào đang thua.
622. 응칠이가 한 장을 내던지고 명월 공산을 보기 좋게 떡 젖혀 놓으니, Khi Eung-chil ném một quân bài xuống rồi lật quân Myeong-wol Gong-san lên một cách đẹp mắt,
623. “이거 왜 수짜질이야!” 용구는 골을 벌컥 내며 쳐다본다. “Này, sao lại giở trò gian lận thế hả!” Yong-gu nổi khùng quát lên nhìn anh ta.
624. “뭐가?” “Gì cơ?”
625. “뭐라니, 아, 이 공산 자네 밑에서 빼내지 않았나?” “Gì mà gì, chẳng phải anh vừa rút quân Gong-san này từ dưới gầm lên sao?”
626. “봤으면 고만이지 그렇게 노할 건 또 뭔가!” “Thấy thì thôi, việc gì mà phải nổi nóng thế!”
627. 응칠이는 어설피 입맛을 쩍쩍 다시다, “그럼 이번엔 파토지?” 하고 손의 화투를 땅에 내던지며 껄껄 웃어 버린다. Eung-chil chép miệng vẻ lúng túng rồi nói: “Thế thì ván này hủy nhé?” rồi ném bộ bài xuống đất cười khà khà.
628. 이때 한옆에서 별안간, “이 자식, 죽인가!” 악을 쓰는 것이니 모두들 놀라며 시선을 몬다. Đúng lúc đó, từ góc bên cạnh có tiếng quát tháo vang lên: “Thằng khốn này, muốn chết hả!”, khiến mọi người giật mình quay lại nhìn.
629. 머슴이 마주 앉은 상투의 뺨을 갈겼다. 말인즉 매조 다섯 끗을 엎어 쳤다고. Gã đầy tớ vừa tát thẳng vào mặt lão già búi tóc. Lý do là vì lão đã lật úp quân Mae-jo 5 điểm để ăn gian.
630. 하나 정말은 돈을 잃은 것이 분한 것이다. 이 돈이 무슨 돈이냐 하면 일년 품을 판 피 묻은 사경이다. Nhưng thực ra, gã làm vậy vì uất ức do bị thua sạch tiền. Số tiền ấy chính là tiền công cả một năm làm lụng vất vả đầy máu và nước mắt.
631. 이런 돈을 송두리 먹히다니. Vậy mà giờ lại bị lột sạch sành sanh như thế này.
632. “이 자식, 너는 야마시(사기)꾼이지. 돈 내라.” 멱살을 훔켜잡고 다시 두 번을 때린다. “Thằng chó, mày là đồ lừa đảo. Trả tiền đây.” Gã túm lấy cổ áo lão già rồi bồi thêm hai cú đấm nữa.
633. “허, 이놈이 왜 이러누, 어른을 몰라보고.” 상투는 책상다리를 잡숫고 허리를 쓰윽 펴더니 점잖이 호령한다. “Hơ, cái thằng này sao lại làm thế, không biết kính trọng người lớn à.” Lão già búi tóc đang ngồi xếp bằng bèn vươn người lên, cố ra vẻ đạo mạo mà quát lại.
634. 자식 뻘 되는 놈에게 뺨을 맞는 건 말이 좀 덜 된다. 약이 올라서 곧 일을 칠 듯이 엉덩이를 번쩍 들었으나 그러나 그대로 주저앉고 말았다. Bị một đứa đáng tuổi con cháu mình tát vào mặt thì thật là nhục nhã. Lão tức điên lên, định nhổm dậy ăn thua đủ, nhưng rồi lại ngồi thụp xuống.
635. 악에 바짝 받친 놈을 건드렸다가는 결국 이쪽이 손해다. Đụng vào một kẻ đang cùng quẫn vì tức giận thì rốt cuộc mình chỉ có thiệt.
636. 더럽단 듯이 허, 허 웃고, “버릇 없는 놈 다 봤고!” 하고 꾸짖은 것은 잘됐으나 기어이 어이쿠, 하고 그 자리에 푹 엎으러진다. Lão cười khẩy khinh bỉ, buông lời trách móc: “Đúng là hạng mất dạy!”, nhưng vừa dứt lời lão đã kêu “Ối giời ơi” rồi ngã vật ra đó.
637. 이마가 터져서 피가 흘렀다. 어느틈엔가 돌멩이가 날아와 이마의 가죽을 터친 것이다. Trán lão bị rách và máu chảy ròng ròng. Hóa ra chẳng biết từ lúc nào, một hòn đá đã bay tới và làm rách da trán lão.
638. 응칠이는 싱글거리며 굴을 나섰다. 공연스레 쑥스럽게 일이나 벌어지면 성가신 노릇이다. Eung-chil tủm tỉm cười rồi bước ra khỏi hang. Dây dưa vào mấy chuyện rắc rối phiền phức này chỉ tổ mệt thân.
639. 그리고 돈 백이나 될 줄 알았더니 다 봐야 한 사십 원 될까말까. 그걸 바라고 어느 놈이 앉았는가. Lúc đầu anh ta cứ ngỡ phải có tới hàng trăm won, ai ngờ tổng cộng chắc chỉ khoảng bốn mươi won là cùng. Thế mà cũng có những kẻ ngồi chực chờ bấy nhiêu đó tiền.
640. 그가 딴 것은 본밑을 알라 구 원 하고 팔십 전이다. Số tiền anh ta thắng được, sau khi trừ vốn, là chín won tám mươi xu.
641. 기호에게 오 원을 내주고, “자, 반이 넘네. 자네 계집 잃고 돈 잃고 호강이겠네.” 농담으로 비웃어 던지고는 숲속으로 설렁설렁 내려온다. Anh ta đưa cho Gi-ho năm won rồi mỉa mai: “Này, hơn một nửa rồi nhé. Chú mày vừa mất vợ vừa mất tiền, giờ tha hồ mà hưởng phước.” Rồi anh buông lời đùa cợt đầy khinh miệt và lững thững đi xuống rừng.
642. “여보게, 자네에게 청이 있네.” 재성이 목이 말라서 바득바득 따라온다. “Này, tôi có việc muốn nhờ anh.” Jae-seong hớt hải đuổi theo sau.
643. 그 청이란 묻지 않아도 알 수 있었다. 저에게 돈을 다 빼앗기곤 구문이겠지. 시치미를 딱 떼고 나 갈 길만 걷는다. Chẳng cần hỏi cũng biết gã muốn gì. Chắc là muốn xin lại chút tiền hoa hồng sau khi đã bị thắng sạch. Eung-chil vờ như không biết, cứ thế bước tiếp con đường của mình.
644. “여보게 응칠이, 아, 내 말 좀 들어!” 그제는 팔을 잡아 낚으며 살려 달라 한다. “Này Eung-chil, nghe tôi nói đã!” Lúc này Jae-seong níu lấy tay anh ta van xin cứu giúp.
645. 돈을 좀 늘릴까 하고 벼 열 말을 팔아 해보았더니 다 잃었다고. 당장 먹을 게 없어 죽을 지경이니 노름 밑천이나 하게 몇 푼 달라는 것이다. Gã kể rằng vì muốn kiếm thêm ít tiền nên đã bán mười đấu lúa để đánh bạc, ai ngờ thua hết sạch. Giờ không còn gì để ăn, sắp chết đói đến nơi rồi, nên xin anh ta vài xu để làm vốn gỡ gạc.
646. 그러나 벼를 털었으면 그저 먹을 것이지 어쭙잖게 노름은…….“그런 걸 왜 너보고 하랬어?” 하고 돌아서며 소리를 빽 지르다가 가만히 보니 눈에 눈물이 글썽하다. 잠자코 돈 이 원을 꺼내 주었다. Nhưng nếu đã thu hoạch lúa thì cứ thế mà ăn đi, bày đặt cờ bạc làm gì cho khổ… “Ai bảo chú mày làm thế?” Eung-chil quay lại quát lớn, nhưng rồi thấy mắt gã rưng rưng lệ, anh lẳng lặng lấy hai won đưa cho gã.
647. 응칠이는 돌에 앉아서 팔짱을 끼고 덜덜 떨고 있다. 사방은 뺑돌리어 나무에 둘러싸였다. 거무튀튀한 그 형상이 헐없이 무슨 도깨비 같다. Eung-chil ngồi trên một tảng đá, khoanh t
quanh bốn bề cây cối bao phủ. Hình bóng đen sì của anh ta trông chẳng khác gì một con yêu quái.
648. 바람이 불 적마다 쏴하고 쏴하고 음충맞게 건들거린다. 어느 때에는 짹, 짹 하고 목을 따는지 비명도 울린다. Mỗi khi gió thổi qua, tiếng lá cây xào xạc nghe thật rợn người. Thỉnh thoảng lại có tiếng kêu chít chít như thể có con vật nào đó đang bị giết thịt.
649. 그는 가끔 뒤를 돌아보았다. 별일은 없을 줄 아나 호옥 뭐가 덤벼들지도 모른다. 서낭당은 바로 등뒤다. Anh ta thỉnh thoảng lại ngoái nhìn ra phía sau. Dẫu biết chẳng có gì nhưng vẫn sợ có thứ gì đó bất thình lình lao tới. Ngay sau lưng anh ta là miếu thờ thần làng.
650. 족제빈지 뭔지, 요동통에 돌이 무너지며 바스락바스락한다. 그 소리가 묘하게도 등줄기를 쪼옥 긁는다. 어두운 꿈속이다. Có tiếng sột soạt, có lẽ là con chồn hay con gì đó làm đá lở. Âm thanh ấy cứ mơn man dọc sống lưng anh ta một cách kỳ lạ trong cảnh vật như một giấc mơ u tối.
651. 하늘에서 이슬은 내리어 옷깃을 축인다. 공포도 공포려니와 냉기로 하여 좀체로 견딜 수가 없었다. Sương từ trên trời rơi xuống làm ướt sũng cổ áo. Vừa sợ hãi lại vừa lạnh giá khiến anh ta khó lòng chịu đựng nổi.
652. 산골은 산신까지도 주렸으렷다. 아들 낳아 달라고 떡 갖다 바칠 이 없을 테니까. 이놈의 영감님 홧김에 덥석 달려들면. Ở nơi thâm sơn cùng cốc này, chắc đến cả thần núi cũng đang bị bỏ đói, vì chẳng có ai mang bánh đến cúng bái cầu tự nữa. Biết đâu lão già thần núi lại đang nổi giận mà vồ lấy mình thì khốn.
653. 앞뒤를 다시 한번 휘돌아본 다음 설대를 뽑는다. 그리고 오금팽이로 불을 가리고는 한 대 뻑뻑 피워 물었다. Anh ta nhìn quanh một lượt rồi rút tẩu thuốc ra. Anh dùng khủy chân che chắn để châm lửa rồi rít một hơi thuốc thật dài.
654. 논은 여남은 칸 떨어져 그 아래 누웠다. 일심 정기를 다하여 나무틈으로 뚫어보고 앉았다. Mảnh ruộng nằm phía dưới, cách đó chừng mười gian nhà. Anh tập trung hết tinh thần, ngồi quan sát qua kẽ hở giữa các cành cây.
655. 그러나 땅에 대를 털려니까 풀숲이 이상스러이 흔들린다. 뱀, 뱀이 아닌가. 구시월 뱀이라니 물리면 고만이다. Khi định gõ tẩu thuốc xuống đất, anh thấy bụi cỏ rung rinh một cách kỳ lạ. Chẳng lẽ là rắn sao? Rắn tháng chín tháng mười mà cắn một cái thì chỉ có nước đi đời.
656. 자리를 옮겨 앉으며 손으로 입을 막고 하품을 터친다. 아마 두어 시간은 더 넘었으리라. Anh dời chỗ ngồi, lấy tay che miệng rồi ngáp một cái thật dài. Chắc cũng đã qua hơn hai tiếng đồng hồ rồi.
657. 이놈이 필연코 올 텐데 안 오니 또 무슨 조활까. 이 짓이란 소문이 나기 전에 한번 더 와 보는 것이 원칙이다. Đáng lẽ thằng đó phải tới rồi chứ, sao mãi vẫn chưa thấy mặt mũi đâu. Lẽ thường thì kẻ trộm sẽ tranh thủ quay lại lần nữa trước khi tin đồn bị lan ra.
658. 잠을 못 자서 눈이 뻑뻑한 것이 제물에 슬금슬금 감긴다. 이를 악물고 눈을 뒵쓰면 이번에는 허리가 노글거린다. Vì thiếu ngủ nên mắt anh cứ ríu lại một cách tự nhiên. Anh phải nghiến răng, cố trợn mắt lên thì cái lưng lại mỏi nhừ.
659. 속은 쓰리고 골치는 때리고. 불꽃 같은 노기가 불끈 일어서 몸을 옥죄인다. 이놈의 다리를 못 꺾어 놔도 애비 없는 후레자식이겠다. Bụng thì cồn cào, đầu thì đau như búa bổ. Một cơn giận hừng hực bốc lên làm lồng ngực anh thắt lại. Nếu không bẻ gãy được chân thằng khốn đó thì mình đúng là đồ vô dụng.
660. 닭들이 세 홰를 운다. 멀―리 산을 넘어오는 그 음향이 퍽은 서글프다. 큰 비를 몰아드는지 검은 구름이 잔뜩 낀다. 하긴 지금도 빗방울이 뚝, 뚝,
떨어진다. Gà đã gáy đến lượt thứ ba. Âm thanh vọng lại từ ngọn núi xa xăm nghe thật buồn bã làm sao. Mây đen bắt đầu kéo đến như sắp có mưa lớn, quả thực vài giọt mưa đã bắt đầu rơi lộp độp.
661. 그때 논둑에서 희끄무레한 허깨비 같은 것이 얼씬거린다. 정신을 바짝 차렸다. Đúng lúc ấy, có một bóng hình trắng nhạt như ma quái xuất hiện trên bờ ruộng. Anh lập tức tỉnh táo hẳn lại.
662. 영락없이 성팔이, 재성이 그들 중의 한 놈이리라. 이 고생을 시키는 그놈! 이가 북북 갈리고 어깨가 다 식식거린다. 몽둥이를 잔뜩 우려잡았다. Chắc chắn là lão Seong-pal hoặc Jae-seong, một trong số bọn chúng. Cái thằng đã khiến mình phải khổ sở thế này! Eung-chil nghiến răng ken két, đôi vai run lên vì giận, anh siết chặt cây gậy trong tay.
663. 그리고 벌떡 일어나서 나무줄기를 끼고 조심조심 돌아내린다. 하나 도랑쯤 내려오다가 그는 멈씰하여 몸을 뒤로 물렸다. Anh bật dậy, nép sát vào thân cây rồi thận trọng đi xuống. Nhưng khi đi đến gần con mương, anh đột ngột khựng lại và lùi ra phía sau.
664. 늑대 두 놈이 짝을 짓고 이편 산에서 저편 산으로 설렁설렁 건너가는 길이었다. 빌어먹을 늑대, 이것까지 말썽이람. 이마의 식은땀을 씻으며 도로 제자리로 돌아온다. 어쩌면 이번 이놈도 재작년 Đó là một cặp sói đang lững thững đi ngang qua từ ngọn núi này sang ngọn núi kia. Lũ sói chết tiệt, lại còn làm phiền cả mình nữa. Anh lau mồ hôi lạnh trên trán rồi quay lại vị trí cũ. Biết đâu tên này cũng hung hãn chẳng kém gì tên cướp năm kia…
665. 강도 짝이나 안 될는지. Liệu có phải là một tên cướp không?
666. 급시로 불길한 예감이 뒤통수를 탁 치고 지나간다. Một điềm báo bất lành chợt sượt qua đầu anh.
667. 그는 옷깃을 여미어 한 대를 더 붙였다. Anh kéo chặt cổ áo rồi châm thêm một điếu thuốc nữa.
668. 돌연히 풍세는 심하여진다. Bất chợt gió thổi mạnh hơn.
669. 산골짜기로 몰아드는 억센 놈이 가끔 발광이다. Luồng gió hung hãn lùa vào khe núi thỉnh thoảng lại rít lên điên cuồng.
670. 다시금 더르르 몸을 떨었다. Anh lại rùng mình run cầm cập.
671. 가을은 왜 이 지경인지. Sao mùa thu lại khắc nghiệt đến nhường này.
672. 여기에서 밤 새울 생각을 하니 기가 찼다. Nghĩ đến cảnh phải thức trắng đêm ở đây, anh thấy thật nản lòng.
673. 얼마나 되었는지 몸을 좀 녹이고자 일어나서 서성서성할 때이었다. Chẳng biết đã bao lâu trôi qua, đúng lúc anh đứng dậy đi đi lại lại để sưởi ấm cơ thể.
674. 논으로 다가오는 희미한 그림자를 분명히 두 눈으로 보았다. Anh đã tận mắt nhìn thấy một bóng đen mờ ảo đang tiến về phía ruộng lúa.
675. 그리고 보니 피로고, 한고이고 다 딴소리다. Ngay lập tức, mọi mệt mỏi và lạnh giá đều tan biến sạch sành sanh.
676. 고개를 내대고 딱 버티고 서서 눈에 쌍심지를 올린다. Anh vươn cổ ra, đứng thủ thế sẵn sàng, đôi mắt trợn ngược lên đầy giận dữ.
677. 흰 그림자는 어느틈엔가 어둠 속에 사라져 보이지 않는다. Cái bóng trắng ấy đã biến mất vào bóng tối tự lúc nào không hay.
678. 그리고 다시 나올 줄을 모른다. Và mãi chẳng thấy nó xuất hiện trở lại.
679. 바람 소리만 왱, 왱, 칠 뿐이다. 다시 암흑 속이 된다. Chỉ còn tiếng gió rít lên vù vù, không gian lại bao trùm trong màn đêm mịt mù.
680. 확실히 벼를 훔치러 논 속으로 들어갔을 것이다. Chắc chắn là nó đã lẻn vào ruộng để trộm lúa rồi.
681. 여깽이 같은 놈이 궂은 날새를 기화삼아 맘껏 하겠지. Thằng ranh ma như con cáo kia chắc đang lợi dụng lúc trời xấu để tác oai tác quái.
682. 의리 없는 썩은 자식, 격장에서 같이 굶는 터에오냐 대거리만 있거라. Đồ khốn vô liêm sỉ, giữa lúc cùng nhau đói khổ thế này mà… Được lắm, cứ đợi đấy mà xem.
683. 이를 한번 부드득 갈아붙이고 차츰차츰 논께로 내려온다. Anh nghiến răng ken két rồi từ từ tiến về phía ruộng lúa.
684. 응칠이는 논께로 바특이 내려서서 소나무에 몸을 착 붙였다. Eung-chil xuống sát mép ruộng rồi nép chặt mình vào một cây thông.
685. 섣불리 서둘다간 남의 횡액을 입을지도 모른다. Nếu hấp tấp vội vàng, có khi lại tự chuốc lấy tai vạ vào thân.
686. 다 훔쳐 가지고 나올 때만 기다린다. Anh kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi kẻ đó trộm xong và đi ra.
687. 몸뚱이는 잔뜩 힘을 올린다. Toàn thân anh gồng lên, chuẩn bị sẵn sàng.
688. 한 식경쯤 지났을까, 도적은 다시 나타난다. Khoảng một lúc sau, tên trộm lại xuất hiện.
689. 논둑에 머리만 내놓고 사면을 두리번거리더니 그제야 기어나온다. Hắn nhô đầu lên khỏi bờ ruộng, dáo dác nhìn quanh quất bốn phía rồi mới dám bò ra.
690. 얼굴에는 눈만 내놓고 수건인지 뭔지 헝겊이 가리었다. Gương mặt hắn bị che kín bởi một mảnh vải, chỉ để lộ ra đôi mắt.
691. 봇짐을 등에 짊어메고는 허리를 구붓이 뺑손을 놓는다. Hắn vác bọc đồ trên lưng, lom khom định tẩu thoát.
692. 그러자 응칠이가 날쌔게 달려 들며, “이 자식, 남의 벼를 훔쳐 가니!” 하고 대포처럼 고함을 지르니 논둑으로 고대로 데굴데굴 굴러서 떨어진다. Ngay lập tức, Eung-chil lao tới và gầm lên như sấm: “Thằng khốn, dám trộm lúa của người khác hả!”, khiến hắn giật mình ngã lăn lông lốc xuống bờ ruộng.
693. 얼결에 호되게 놀란 모양이다. Có vẻ như hắn đã bị một phen khiếp đảm thực sự.
694. 응칠이는 덤벼들어 우선 허리께를 내려조겼다. Eung-chil lao vào, trước tiên giáng một đòn chí mạng vào thắt lưng hắn.
695. 어이쿠쿠, 쿠하고 처참한 비명이다. Hắn cất tiếng kêu la thảm thiết: “Ối trời ơi…”.
696. 이 소리에 귀가 번쩍 띄어서 그 고개를 들고 팔부터 벗겨 보았다. Nghe thấy giọng nói đó, anh bỗng giật mình, bèn nâng đầu hắn lên và lột lớp vải che mặt ra.
697. 그러나 너무나 어이가 없었음인지 시선을 치걷으며 그 자리에 우두망찰한다. Thế nhưng, có lẽ vì quá ngỡ ngàng, anh trợn mắt nhìn trân trân rồi đứng sững người như trời trồng.
698. 그것은 무서운 침묵이었다. Đó là một sự im lặng đến đáng sợ.
699. 살뚱맞은 바람만 공중에서 북새를 논다. Chỉ có cơn gió lạnh lẽo vẫn đang rít gào trên không trung.
700. 한참을 신음하다 도적은 일어나더니, “성님까지 이렇게 못살게 굴기유?” 제법 눈을 부라리며 몸을 홱 돌린다. Sau một hồi rên rỉ, tên trộm đứng dậy và nói: “Đến cả anh cũng muốn làm khổ tôi thế này sao?”, rồi hắn trợn mắt nhìn anh mình và quay ngoắt đi.
701. 그리고 느끼며 울음이 복받친다. Hắn nức nở, tiếng khóc nghẹn ngào vỡ òa.
702. 봇짐도 내버린 채, “내 것 내가 먹는데 누가 뭐래?” 하고 데퉁스러이 내뱉고는 비틀비틀 논 저쪽으로 없어진다. Bỏ mặc cả bọc lúa, hắn buông một câu cộc lốc: “Của tôi tôi ăn, ai thèm làm gì?”, rồi loạng choạng biến mất phía bên kia ruộng.
703. 형은 너무 꿈속 같아서 멍하니 섰을 뿐이다. Người anh cứ đứng ngây ra đó như thể đang ở trong một giấc chiêm bao.
704. 그러다 얼마 지나서 한 손으로 그 봇짐을 들어 본다. Một lúc lâu sau, anh mới đưa tay nhấc cái bọc lúa lên.
705. 가뿐하니 끽 말가웃이나 될는지. Nó nhẹ tênh, chắc chỉ được khoảng hơn một đấu lúa.
706. 이까짓 걸 요렇게까지 해가려는 그 심정은 실로 알 수 없다. Thật chẳng thể hiểu nổi tâm trạng của kẻ phải đi trộm chính số lúa ít ỏi của mình đến mức này.
707. 벼를 논에다 도로 털어 버렸다. Anh đổ hết lúa trở lại ruộng.
708. 그리고 아내의 치마이겠지, 검은 보자기를 척척 개서 들었다. Rồi anh gấp gọn mảnh vải đen, chắc là váy của em dâu, rồi cầm lấy.
709. 내 걸 내가 먹는다야 이를 말이랴. “Của mình mình ăn” đúng là chuyện nực cười.
710. 하나 내 걸 내가 훔쳐야 할 그 운명도 얄궂거니와 형을 배반하고 이 짓을 벌인 아우도 아우렷다. Cái vận mệnh trớ trêu bắt người ta phải đi trộm chính đồ của mình đã đành, mà đứa em dại dột đi làm chuyện này sau lưng anh trai thì cũng thật là…
711. 에이 고얀 놈, 할 제 볼을 적시는 것은 눈물이다. “Hừ, cái thằng trời đánh này,” vừa nói anh vừa cảm thấy những giọt nước mắt lăn dài trên má.
712. 그는 주먹으로 눈물을 쓱, 비비고 머리에 번쩍 떠오르는 것이 있으니 두레두레한 황소의 눈깔. Anh lấy nắm đấm quẹt nước mắt, rồi trong đầu chợt hiện lên hình ảnh đôi mắt to tròn của một con bò đực.
713. 시오 리를 남쪽 산으로 들어가면 어느 집 바깥 뜰에 밤마다 늘 매여 있는 투실투실한 그 황소. Con bò mập mạp mỗi đêm vẫn được xích ở sân ngoài của một ngôi nhà trong núi phía Nam, cách đây khoảng mười lăm dặm.
714. 아무렇게 따지든 칠십 원은 갈 데 없으리라. Tính kiểu gì thì con bò đó cũng phải đáng giá ít nhất bảy mươi won.
715. 그는 부리나케 아우의 뒤를 밟았다. Anh vội vàng đuổi theo sau đứa em trai.
716. 공동묘지까지 거반 왔을 때에야 가까스로 만났다. Mãi đến khi gần tới nghĩa trang công cộng, anh mới đuổi kịp.
717. 아우의 등을 탁 치며, “얘, 좋은 수 있다. 네 원대로 돈을 해줄게 나하구 잠깐 다녀오자.” 씩씩한 어조로 기쁘도록 달랬다. Anh vỗ mạnh vào lưng em mình và dỗ dành bằng giọng phấn khởi: “Này, anh có cách hay rồi. Anh sẽ kiếm tiền cho chú mày như ý muốn, đi với anh một lát.”
718. 그러나 아우는 입 하나 열려 하지 않고 그대로 실쭉하였다. Thế nhưng, đứa em chẳng thèm mở miệng lấy một lời, khuôn mặt vẫn lầm lì cáu kỉnh.
719. 뿐만 아니라 어깨 위에 올려놓은 형의 손을 부질없단 듯이 몸으로 털어 버린다.
Không những thế, nó còn hất cánh tay anh mình ra khỏi vai như thể điều đó thật vô nghĩa.
720. 그리고 삐익 달아난다. 이걸 보니 하 엄청나고 기가 콱 막히었다. Rồi nó vụt chạy đi. Thấy cảnh đó, Eung-chil thấy giận phát nghẹt thở.
721. “이눔아!” 하고 악에 받치어, “명색이 성이라며?” 대뜸 몽둥이는 들어가 그 볼기짝을 후려갈겼다. “Cái thằng này!” Anh hét lên đầy giận dữ: “Mày còn coi tao là anh không hả?” rồi vung gậy quất mạnh vào mông nó.
722. 아우는 모로 몸을 꺾더니 시나브로 찌그러진다. Đứa em nghiêng mình né tránh rồi từ từ ngã sụp xuống.
723. 뒤미처 앞정강이를 때리고 등을 팼다. Tiếp đó, anh quất vào ống chân rồi đánh vào lưng nó.
724. 일어나지 못할 만치 매는 내리었다. Anh đánh cho đến khi nó không còn sức để đứng dậy được nữa.
725. 체면을 불고하고 땅에 엎드리어 엉엉 울도록 매는 내리었다. Anh đánh cho đến khi đứa em phải phục xuống đất mà khóc nức nở, chẳng còn thiết gì đến thể diện.
726. 홧김에 하긴 했으되 그 꼴을 보니 또한 마음이 편할 수 없다. Dẫu là vì giận quá mất khôn mà ra tay, nhưng nhìn thấy cảnh ấy, lòng anh cũng chẳng mấy dễ chịu gì.
727. 침을 퇴, 뱉어 던지곤 팔자 드신 놈이 그저 그렇지 별수 있나, 쓰러진 아우를 일으키어 등에 업고 일어섰다. Anh khạc nhổ một cái rồi tự nhủ, cái hạng số kiếp hẩm hiu thì cũng chỉ đến thế mà thôi, rồi anh đỡ đứa em dậy, cõng lên lưng mình.
728. 언제나 철이 날는지 딱한 일이었다. 속 썩는 한숨을 후하고 내뿜는다. Chẳng biết bao giờ nó mới khôn ra được, thật là đáng thương, anh thở dài một tiếng đầy não nề.
729. 그리고 어청어청 고개를 묵묵히 내려온다. Rồi cứ thế lững thững, lẳng lặng đi xuống đồi
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823







