DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT 소나기 – 황순원 Mưa rào của tác giả Hwang Sun-won

DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT

소나기 – 황순원

Mưa rào của tác giả Hwang Sun-won

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

SVTT: Trương Mỹ Tâm Hiền

CSTT: Kanata Online

  1. 소년은 개울가에서 소녀를 보자 곧 윤 초시네 증손녀딸이라는 걸 알 수 있었다.
    Vừa nhìn thấy cô bé ở bên bờ suối, cậu bé liền nhận ra đó là cháu chắt của nhà ông Yun Chosi.
  2. 소녀는 개울에다 손을 잠그고 물장난을 하고 있는 것이다.
    Cô bé đang nhúng tay xuống suối và nghịch nước.
  3. 서울서는 이런 개울물을 보지 못하기나 한 듯이.
    Trông như thể ở Seoul cô bé chưa từng thấy dòng suối như thế này.
  4. 벌써 며칠째 소녀는, 학교에서 돌아오는 길에 물장난이었다.
    Đã mấy ngày nay, trên đường đi học về, cô bé đều nghịch nước như vậy.
  5. 그런데, 어제까지 개울 기슭에서 하더니, 오늘은 징검다리 한가운데 앉아서 하고 있다.
    Nhưng đến hôm qua thì còn chơi ở bờ suối, hôm nay lại ngồi giữa những hòn đá bước qua suối mà nghịch nước.
  6. 소년은 개울둑에 앉아 버렸다.
    Cậu bé ngồi xuống bờ suối.
  7. 소녀가 비키기를 기다리자는 것이다.
    Cậu nghĩ sẽ đợi cô bé tránh ra.
  8. 요행 지나가는 사람이 있어, 소녀가 길을 비켜 주었다.
    May mắn có người đi ngang qua, nên cô bé đã tránh đường.
  9. 다음 날은 좀 늦게 개울가로 나왔다.
    Ngày hôm sau, cậu bé ra bờ suối hơi muộn một chút.
  10. 이 날은 소녀가 징검다리 한가운데 앉아 세수를 하고 있었다. 분홍 스웨터 소매를 걷어올린 목덜미가 마냥 희었다.
    Hôm đó, cô bé ngồi giữa những hòn đá bước qua suối và đang rửa mặt; phần gáy lộ ra khi xắn tay áo len màu hồng trông trắng nổi bật.
  11. 한참 세수를 하고 나더니, 이번에는 물 속을 빤히 들여다 본다. 얼굴이라도 비추어 보는 것이리라.
    Sau khi rửa mặt một lúc lâu, cô bé chăm chú nhìn xuống nước, có lẽ là để soi mặt mình.
  12. 갑자기 물을 움켜 낸다. 고기 새끼라도 지나가는 듯.
    Đột nhiên cô bé vốc nước lên, như thể có cá con vừa bơi qua.
  13. 소녀는 소년이 개울둑에 앉아 있는 걸 아는지 모르는지 그냥 날쌔게 물만 움켜 낸다. 그러나, 번번이 허탕이다.
    Không rõ cô bé có biết cậu bé đang ngồi ở bờ suối hay không, cô cứ nhanh nhẹn vốc nước, nhưng lần nào cũng thất bại.
  14. 그대로 재미있는 양, 자꾸 물만 움킨다. 어제처럼 개울을 건너는 사람이 있어야 길을 비킬 모양이다.
    Vẫn như thấy rất thú vị, cô bé cứ tiếp tục vốc nước; có vẻ phải có người đi qua như hôm qua thì cô mới chịu tránh đường.
  15. 그러다가 소녀가 물 속에서 무엇을 하나 집어낸다. 하얀 조약돌이었다.
    Rồi cô bé nhặt được một thứ gì đó từ trong nước, đó là một viên sỏi trắng.
  16. 그리고는 벌떡 일어나 팔짝팔짝 징검다리를 뛰어 건너간다.
    Sau đó cô bật dậy và nhảy qua những hòn đá để sang bên kia suối.
  17. 다 건너가더니만 홱 이리로 돌아서며, “이 바보.” 조약돌이 날아왔다.
    Qua đến bên kia, cô quay phắt lại nói “Đồ ngốc”, rồi ném viên sỏi về phía cậu bé.
  18. 소년은 저도 모르게 벌떡 일어섰다.
    Cậu bé bất giác đứng bật dậy.
  19. 단발 머리를 나풀거리며 소녀가 막 달린다. 갈밭 사잇길로 들어섰다. 뒤에는 청량한 가을 햇살 아래 빛나는 갈꽃뿐.
    Cô bé với mái tóc ngắn bay bay chạy vụt đi, lao vào con đường giữa bãi cỏ lau; phía sau chỉ còn những bông lau sáng lên dưới ánh nắng thu trong trẻo.
  20. 이제 저쯤 갈밭머리로 소녀가 나타나리라. 꽤 오랜 시간이 지났다고 생각됐다. 그런데도 소녀는 나타나지 않는다.
    Cậu nghĩ chắc giờ này cô bé sẽ xuất hiện ở đầu bãi lau, thời gian đã trôi qua khá lâu, nhưng cô vẫn không xuất hiện.
  21. 발돋움을 했다. 그러고도 상당한 시간이 지났다고 생각됐다.
    Cậu nhón chân nhìn, rồi lại cảm thấy đã trôi qua thêm một khoảng thời gian nữa.
  22. 저 쪽 갈밭머리에 갈꽃이 한 옴큼 움직였다. 소녀가 갈꽃을 안고 있었다. 그리고, 이제는 천천한 걸음이었다.
    Ở phía đầu bãi lau bên kia, một cụm hoa lau lay động; cô bé đang ôm một bó hoa lau và giờ bước đi chậm rãi.
  23. 유난히 맑은 가을 햇살이 소녀의 갈꽃머리에서 반짝거렸다. 소녀 아닌 갈꽃이 들길을 걸어가는 것만 같았다.
    Ánh nắng thu trong vắt lấp lánh trên bó hoa lau của cô, trông như không phải cô bé mà chính bó hoa lau đang bước đi trên con đường đồng.
  24. 소년은 이 갈꽃이 아주 뵈지 않게 되기까지 그대로 서 있었다.
    Cậu bé đứng đó cho đến khi không còn nhìn thấy bóng dáng ấy nữa.
  25. 문득, 소녀가 던진 조약돌을 내려다보았다. 물기가 걷혀 있었다. 소년은 조약돌을 집어 주머니에 넣었다.
    Chợt cậu nhìn xuống viên sỏi cô bé đã ném; nó đã khô nước, cậu nhặt lên và cho vào túi.
  26. 다음 날부터 좀더 늦게 개울가로 나왔다. 소녀의 그림자가 뵈지 않았다. 다행이었다. 그러나, 이상한 일이었다.
    Từ ngày hôm sau, cậu bé ra bờ suối muộn hơn; không thấy bóng dáng cô bé, cậu thấy may mắn, nhưng đồng thời cũng cảm thấy có gì đó thật kỳ lạ.
  27. 소녀의 그림자가 뵈지 않는 날이 계속될수록 소년의 가슴 한 구석에는 어딘가 허전함이 자리 잡는 것이었다.
    Càng nhiều ngày không thấy cô bé, trong lòng cậu lại dần xuất hiện một khoảng trống khó tả.
  28. 주머니 속 조약돌을 주무르는 버릇이 생겼다.
    Cậu hình thành thói quen xoa nắn viên sỏi trong túi.
  29. 그러한 어떤 날, 소년은 전에 소녀가 앉아 물장난을 하던 징검다리 한가운데에 앉아 보았다.
    Vào một ngày như thế, cậu thử ngồi vào giữa những hòn đá nơi trước đây cô bé từng ngồi nghịch nước.
  30. 물 속에 손을 잠갔다. 세수를 하였다. 물 속을 들여다보았다. 검게 탄 얼굴이 그대로 비치었다. 싫었다.
    Cậu nhúng tay xuống nước, rửa mặt rồi nhìn xuống; khuôn mặt rám nắng của mình hiện lên rõ ràng, khiến cậu thấy không thích.
  31. 소년은 두 손으로 물 속의 얼굴을 움키었다. 몇 번이고 움키었다.
    Cậu dùng hai tay vốc lấy khuôn mặt phản chiếu trong nước, làm đi làm lại nhiều lần.
  32. 그러다가 깜짝 놀라 일어나고 말았다. 소녀가 이리로 건너오고 있지 않느냐. 숨어서 내가 하는 일을 엿보고 있었구나.
    Rồi đột nhiên cậu giật mình đứng bật dậy, vì thấy cô bé đang bước qua phía này; hóa ra cô đã trốn đâu đó nhìn lén những gì cậu làm.
  33. 소년은 달리기를 시작했다. 디딤돌을 헛디뎠다. 한 발이 물 속에 빠졌다. 더 달렸다.
    Cậu bắt đầu chạy, bước hụt trên đá, một chân rơi xuống nước nhưng vẫn tiếp tục chạy.
  34. 몸을 가릴 데가 있어 줬으면 좋겠다. 이 쪽 길에는 갈밭도 없다. 메밀밭이다.
    Cậu ước có chỗ nào đó để trốn, nhưng con đường này không có bãi lau, chỉ toàn là cánh đồng hoa kiều mạch.
  35. 전에 없이 메밀꽃 냄새가 짜릿하게 코를 찌른다고 생각됐다. 미간이 아찔했다.
    Mùi hoa kiều mạch lần này bỗng xộc mạnh vào mũi, khiến cậu thấy choáng váng.
  36. 찝찔한 액체가 입술에 흘러들었다. 코피였다.
    Một chất lỏng mằn mặn chảy xuống môi, đó là máu mũi.
  37. 소년은 한 손으로 코피를 훔쳐내면서 그냥 달렸다.
    Cậu vừa lau máu mũi bằng một tay vừa tiếp tục chạy.
  38. 어디선가 ‘바보, 바보’ 하는 소리가 자꾸만 뒤따라 오는 것 같았다.
    Cậu có cảm giác như từ đâu đó vang lên tiếng “đồ ngốc, đồ ngốc” cứ đuổi theo phía sau.
  39. 토요일이었다.
    Đó là một ngày thứ Bảy.
  40. 개울가에 이르니, 며칠째 보이지 않던 소녀가 건너편 가에 앉아 물장난을 하고 있었다.
    Khi đến bờ suối, cậu thấy cô bé – đã mấy ngày không gặp – đang ngồi bên bờ bên kia và nghịch nước.
  41. 모르는 체 징검다리를 건너기 시작했다. 얼마 전에 소녀 앞에서 한 번 실수를 했을 뿐, 여태 큰길 가듯이 건너던 징검다리를 오늘은 조심스럽게 건넌다.
    Cậu giả vờ không biết và bắt đầu bước qua những hòn đá; trước giờ vẫn đi như đường lớn, nhưng hôm nay vì từng lỡ mắc lỗi trước mặt cô bé nên đi rất cẩn thận.
  42. “얘.” 못 들은 체했다. 둑 위로 올라섰다.
    “Ê.” Cậu giả vờ không nghe và leo lên bờ.
  43. “얘, 이게 무슨 조개지?” 자기도 모르게 돌아섰다. 소녀의 맑고 검은 눈과 마주쳤다. 얼른 소녀의 손바닥으로 눈을 떨구었다.
    “Ê, cái này là con sò gì vậy?” Cậu bất giác quay lại, chạm phải ánh mắt trong veo của cô bé rồi vội nhìn xuống lòng bàn tay cô.
  44. “비단조개.” “이름도 참 곱다.”
    “Là sò lụa.” “Tên cũng đẹp thật.”
  45. 갈림길에 왔다. 여기서 소녀는 아래편으로 한 삼 마장쯤, 소년은 우대로 한 십 리 가까운 길을 가야 한다.
    Đến chỗ rẽ, từ đây cô bé đi xuống dưới khoảng vài dặm, còn cậu bé phải đi theo đường trên gần mười dặm.
  46. 소녀가 걸음을 멈추며, “너, 저 산 너머에 가 본 일 있니?” 벌 끝을 가리켰다. “없다.”
    Cô bé dừng lại hỏi: “Cậu đã từng sang bên kia núi chưa?” rồi chỉ về phía đỉnh núi. “Chưa.”
  47. “우리, 가보지 않으련? 시골 오니까 혼자서 심심해 못 견디겠다.” “저래 봬도 멀다.”
    “Chúng ta thử đi nhé? Tớ lên quê thấy buồn chán không chịu nổi.” “Trông vậy thôi chứ xa lắm.”
  48. “멀면 얼마나 멀기에? 서울 있을 땐 사뭇 먼 데까지 소풍 갔었다.”
    “Xa thì xa đến đâu chứ? Ở Seoul tớ còn đi dã ngoại xa hơn nhiều.”
  49. 소녀의 눈이 금새 ‘바보, 바보’ 할 것만 같았다.
    Ánh mắt cô bé như sắp nói “đồ ngốc, đồ ngốc” vậy.
  50. 논 사잇길로 들어섰다. 벼 가을걷이하는 곁을 지났다.
    Hai đứa bước vào con đường giữa ruộng, đi ngang nơi người ta đang gặt lúa.
  51. 허수아비가 서 있었다. 소년이 새끼줄을 흔들었다. 참새가 몇 마리 날아간다.
    Có một con bù nhìn đứng đó; cậu bé lắc dây rơm làm vài con chim sẻ bay đi.
  52. ‘오늘은 일찍 집으로 돌아가 텃논의 참새를 봐야 할걸.’ 하는 생각이 든다.
    Cậu chợt nghĩ hôm nay nên về sớm để trông ruộng cho khỏi chim sẻ.
  53. “야, 재밌다!” 소녀가 허수아비 줄을 잡더니 흔들어 댄다.
    “Ê, vui quá!” Cô bé nắm dây bù nhìn rồi lắc mạnh.
  54. 허수아비가 자꾸 우쭐거리며 춤을 춘다. 소녀의 왼쪽 볼에 보조개가 살짝 패였다.
    Con bù nhìn lắc lư như đang nhảy múa, má trái cô bé khẽ hiện lúm đồng tiền.
  55. 저만큼 허수아비가 또 서 있다. 소녀가 그리로 달려간다. 그 뒤를 소년도 달렸다.
    Xa xa lại có một con bù nhìn nữa, cô bé chạy tới, cậu bé cũng chạy theo.
  56. 오늘 같은 날은 집안일도 잊어버리려는 듯이.
    Như thể trong ngày hôm nay cậu muốn quên hết việc nhà.
  57. 소녀의 곁을 스쳐 그냥 달린다. 메뚜기가 얼굴에 부딪친다. 하늘이 눈앞에서 빙빙 돈다.
    Cậu chạy lướt qua cô bé; châu chấu đập vào mặt, bầu trời thu xanh quay cuồng trước mắt.
  58. 돌아다보니, 소녀는 뒤에서 또 허수아비를 흔들고 있다.
    Quay lại nhìn, cô bé đang lắc con bù nhìn phía sau.
  59. 논이 끝난 곳에 도랑이 있었다. 소녀가 먼저 뛰어 건넜다.
    Ở cuối ruộng có một con mương, cô bé nhảy qua trước.
  60. 거기서부터 산 밑까지는 밭이었다.
    Từ đó đến chân núi là cánh đồng hoa màu.
  61. “저게 뭐니?” “원두막.”
    “Cái kia là gì?” “Là chòi rẫy.”
  62. “참외 맛있니?” “수박이 더 맛있다.”
    “Dưa ngon không?” “Dưa hấu còn ngon hơn.”
  63. “하나 먹어 봤으면.”
    “Ước gì được ăn thử một quả.”
  64. 소년이 무를 뽑아 와 하나 건넨다. 먹는 법을 보여 주며 한입 베어 먹는다.
    Cậu bé nhổ củ cải đưa cho cô rồi làm mẫu cách ăn, cắn một miếng.
  65. 소녀도 따라 하지만, “아, 맵고 지려.” 하며 던져 버린다.
    Cô bé làm theo nhưng mới ăn vài miếng đã kêu cay quá rồi ném đi.
  66. “참, 맛없어 못 먹겠다.” 소년도 던져 버린다.
    “Chán thật, không ăn nổi.” Cậu cũng ném đi.
  67. 산이 가까워졌다. 단풍이 눈부셨다.
    Ngọn núi đã gần, lá đỏ rực rỡ chói mắt.
  68. “야아!” 소녀가 산을 향해 달려간다.
    “Ya!” Cô bé chạy về phía núi.
  69. 소년은 더 많은 꽃을 꺾어 왔다.
    Cậu bé hái được nhiều hoa hơn.
  70. “이게 들국화, 이게 싸리꽃…”
    “Đây là hoa cúc dại, đây là hoa… ”
  71. 소녀는 꽃 이름을 들으며 감탄한다.
    Cô bé nghe tên hoa và trầm trồ thích thú.
  72. 소녀가 꽃을 꺾다가 미끄러진다. 소년이 달려가 손을 잡아 올린다.
    Trong lúc hái hoa, cô trượt chân; cậu chạy tới kéo cô dậy.
  73. 무릎에 피가 났다. 소년은 무심코 상처를 입으로 빨아 준다.
    Đầu gối cô chảy máu, cậu vô thức cúi xuống mút vết thương.
  74. 그러다 갑자기 부끄러워 달려간다.
    Rồi bỗng thấy xấu hổ, cậu chạy đi.
  75. 송진을 가져와 상처에 발라 준다.
    Cậu mang nhựa thông về bôi lên vết thương cho cô.
  76. 송아지를 타고 장난을 친다.
    Cậu leo lên lưng bê con và đùa nghịch.
  77. 소녀 모습이 꽃과 어우러져 하나의 꽃다발처럼 보인다.
    Hình ảnh cô bé hòa với hoa trông như một bó hoa lớn.
  78. 농부가 나타나 소나기가 올 거라며 집에 가라고 한다.
    Một người nông dân xuất hiện và bảo mưa rào sắp đến, hãy về nhà.
  79. 갑자기 먹구름이 몰려오고 비가 쏟아진다.
    Đột nhiên mây đen kéo tới và mưa đổ xuống.
  80. 원두막으로 피하지만 비를 막기 어렵다.
    Hai đứa chạy vào chòi trú mưa nhưng vẫn bị dột.
  81. 소년이 옷을 벗어 소녀를 덮어 준다.
    Cậu cởi áo choàng cho cô bé.
  82. 더 안전한 곳을 찾아 수숫단 속으로 들어간다.
    Cậu tìm chỗ kín hơn và dẫn cô vào đống cây cao lương.
  83. 소녀가 들어오라고 하여 함께 앉는다.
    Cô gọi cậu vào ngồi cùng.
  84. 비가 그치고 밖이 밝아진다.
    Mưa tạnh, trời lại sáng.
  85. 도랑물이 불어 건널 수 없게 된다.
    Nước mương dâng cao không thể nhảy qua.
  86. 소년이 등을 내주자 소녀가 업힌다.
    Cậu quay lưng cõng cô qua.
  87. 소녀가 목을 끌어안는다.
    Cô ôm chặt cổ cậu.
  88. 어느새 비는 그치고 가을 하늘이 맑게 개어 있었다.
    Chẳng biết từ lúc nào mưa đã tạnh, bầu trời thu lại trong xanh.
  89. 그 뒤로 소녀의 모습은 뵈지 않았다. 매일같이 개울가로 달려와 봐도 뵈지 않았다.
  90. Từ sau đó, cậu bé không còn thấy bóng dáng cô bé nữa; ngày nào cũng chạy ra bờ suối nhưng vẫn không gặp.
  91. 학교에서 쉬는 시간에 운동장을 살피기도 했다. 남 몰래 5학년 여자 반을 엿보기도 했다. 그러나, 뵈지 않았다.
    Trong giờ nghỉ ở trường, cậu cũng nhìn khắp sân, thậm chí lén nhìn lớp nữ khối 5, nhưng vẫn không thấy cô bé.
  92. 그날도 소년은 주머니 속 흰 조약돌만 만지작거리며 개울가로 나왔다.
    Hôm đó, cậu lại ra bờ suối, tay cứ mân mê viên sỏi trắng trong túi.
  93. 그랬더니, 이 쪽 개울둑에 소녀가 앉아 있는 게 아닌가.
    Và rồi, ở bờ suối phía này, cô bé đang ngồi đó.
  94. 소년은 가슴부터 두근거렸다.
    Tim cậu bắt đầu đập thình thịch.
  95. “그 동안 앓았다.” 어쩐지 소녀의 얼굴이 해쓱해져 있었다.
    “Tớ bị ốm mấy hôm.” Quả nhiên khuôn mặt cô bé trông xanh xao hơn.
  96. “그 날, 소나기 맞은 탓 아냐?” 소녀가 가만히 고개를 끄덕이었다.
    “Không phải do hôm đó dính mưa rào sao?” Cô bé khẽ gật đầu.
  97. “인제 다 났냐?” “아직도…….”
    “Giờ khỏi hẳn chưa?” “Vẫn chưa…”
  98. “그럼, 누워 있어야지.” “하도 갑갑해서 나왔다.”
    “Vậy phải nằm nghỉ chứ.” “Tại bí bách quá nên tớ mới ra ngoài.”
  99. “참, 그 날 재밌었어… 그런데 이 물이 잘 안 지워져.”
    “Hôm đó vui thật… nhưng vết này không giặt sạch được.”
  100. 소녀가 스웨터 앞자락을 내려다본다. 거기에 검붉은 진흙물이 묻어 있었다.
    Cô bé nhìn xuống vạt áo len, nơi dính vết bùn đỏ sẫm.
  101. “이게 무슨 물 같니?” 소년은 말없이 바라보고만 있었다.
    “Cậu thấy vết này giống gì?” Cậu chỉ im lặng nhìn.
  102. “내 생각해 냈다. 그 날 네 등에 업혔을 때 묻은 거야.”
    “Tớ nghĩ ra rồi, là do hôm đó tớ được cậu cõng nên dính vào.”
  103. 소년은 얼굴이 확 달아올랐다.
    Mặt cậu bỗng đỏ bừng lên.
  104. 갈림길에서 소녀는 대추 한 줌을 내준다.
    Đến chỗ rẽ, cô bé đưa cho cậu một nắm táo tàu.
  105. “우리 집에서 딴 건데 아주 달다.” 소년은 두 손으로 받았다.
    “Nhà tớ hái đó, ngọt lắm.” Cậu đưa hai tay nhận lấy.
  106. “그리고 우리 집, 곧 이사 가게 됐다.”
    “Và… nhà tớ sắp chuyển đi rồi.”
  107. 소년은 이미 사정을 알고 있었다.
    Cậu đã biết chuyện này từ trước qua lời người lớn.
  108. “난 이사 가기 싫어.” 소녀의 눈에 쓸쓸함이 비쳤다.
    “Tớ không muốn chuyển đi.” Trong mắt cô thoáng hiện nỗi buồn.
  109. 돌아오는 길에 소년은 그 말을 계속 되뇌었다.
    Trên đường về, cậu cứ lặp đi lặp lại câu nói đó trong đầu.
  110. 대추를 먹으면서도 단맛을 느끼지 못했다.
    Dù đang ăn táo tàu, cậu cũng không cảm nhận được vị ngọt.
  111. 그날 밤, 소년은 몰래 호두밭으로 갔다.
    Đêm đó, cậu lén đến vườn óc chó.
  112. 나무에 올라가 막대를 휘둘러 호두를 떨어뜨렸다.
    Cậu leo lên cây và dùng gậy đánh rơi quả óc chó.
  113. 소리가 크게 나 가슴이 철렁했지만 계속 쳤다.
    Tiếng rơi vang lớn làm cậu giật mình, nhưng vẫn tiếp tục đánh.
  114. 많이 떨어지기를 바라며 정신없이 계속 내리쳤다.
    Cậu cứ thế đánh liên tục, mong càng rơi nhiều càng tốt.
  115. 돌아오는 길에는 그림자만 밟으며 걸었다.
    Trên đường về, cậu chỉ bước vào những chỗ có bóng tối.
  116. 주머니 속 호두를 만지며 소녀에게 주고 싶다고 생각했다.
    Cậu sờ túi đầy óc chó, chỉ nghĩ đến việc đem cho cô bé.
  117. 그러다 문득, 소녀에게 개울가에서 다시 만나자고 말하지 못한 걸 후회했다.
    Rồi chợt nhớ ra mình chưa kịp hẹn cô bé gặp lại ở bờ suối, cậu thấy hối hận.
  118. “바보 같은것.” 스스로를 탓했다.
    “Đúng là đồ ngốc.” Cậu tự trách mình.
  119. 다음 날, 아버지가 닭을 들고 나갈 준비를 하고 있었다.
    Hôm sau, bố cậu đang chuẩn bị mang một con gà đi đâu đó.
  120. 어디 가시냐고 물었지만 대답하지 않았다.
    Cậu hỏi đi đâu nhưng bố không trả lời.
  121. 어머니가 윤 초시 댁 제사에 가져간다고 했다.
    Mẹ nói là mang đến nhà ông Yun Chosi để cúng giỗ.
  122. 소년은 괜히 화가 나 책보를 던지고 외양간으로 갔다.
    Không hiểu sao cậu thấy bực bội, ném cặp sách rồi đi ra chuồng bò.
  123. 소의 등을 한 번 세게 때렸다.
    Cậu đập mạnh vào lưng con bò một cái.
  124. 개울물은 날로 여물어 갔다.
    Nước suối ngày càng cạn và trong hơn theo từng ngày.
  125. 소년은 갈림길에서 아래쪽으로 가 보았다. 갈밭머리에서 바라보는 서당골 마을은 쪽빛 하늘 아래 한결 가까워 보였다.
    Cậu bé đi xuống phía dưới từ chỗ rẽ; từ đầu bãi lau nhìn về làng Seodanggol, ngôi làng trông gần hơn dưới bầu trời xanh biếc.
  126. 어른들의 말이, 내일 소녀네가 양평읍으로 이사 간다는 것이었다. 거기 가서는 조그마한 가겟방을 보게 되리라는 것이었다.
    Người lớn nói rằng ngày mai gia đình cô bé sẽ chuyển đến Yangpyeong, và ở đó sẽ mở một cửa hàng nhỏ.
  127. 소년은 저도 모르게 주머니 속 호두알을 만지작거리며, 한 손으로는 갈꽃을 계속 꺾고 있었다.
    Cậu vô thức mân mê những hạt óc chó trong túi, tay kia cứ bẻ những bông lau.
  128. 그 날 밤, 소년은 누워서도 같은 생각뿐이었다. 내일 이사 가는 걸 보러 갈까 말까, 가면 소녀를 볼 수 있을까.
    Đêm đó, nằm xuống cậu vẫn chỉ nghĩ một điều: ngày mai có nên đi xem họ chuyển nhà không, và nếu đi thì có gặp được cô bé không.
  129. 그러다가 깜빡 잠이 들려는 순간, 아버지의 목소리가 들렸다.
    Đang lơ mơ ngủ thì cậu nghe thấy giọng của bố.
  130. “윤 초시 댁도 말이 아니야… 전답도 다 팔고 집도 넘기고, 또 이런 일까지 당하다니…”
    “Nhà ông Yun Chosi cũng thật khổ… bán hết ruộng đất, cả nhà cũng phải nhượng lại, giờ lại gặp chuyện này…”
  131. 어머니가 묻는다. “증손은 그 여자아이 하나뿐이었지요?”
    Mẹ hỏi: “Cháu chắt chỉ còn mỗi cô bé đó thôi phải không?”
  132. “그렇지, 아들 둘은 어릴 때 잃어버렸고…” “정말 자식복이 없네.”
    “Đúng vậy, hai đứa con trai thì mất từ nhỏ…” “Đúng là không có phúc con cái.”
  133. “이번 아이도 오래 앓았는데 약도 제대로 못 썼다더군. 이제 대도 끊긴 셈이지…”
    “Đứa bé lần này cũng ốm lâu mà không được chữa trị đàng hoàng, coi như dòng họ cũng tuyệt rồi…”
  134. “그런데 그 아이가 죽기 전에 이런 말을 했다더군…”
    “Nghe nói trước khi chết, đứa bé đã nói thế này…”
  135. “자기가 죽으면 자기가 입던 옷을 그대로 입혀서 묻어 달라고…”
    “Nếu mình chết, hãy chôn mình với chính bộ quần áo mình đang mặc…”

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo