DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT
광장 – 최인훈
QUẢNG TRƯỜNG – CHOI IN-HOON
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Đàng Thị Thúy Nga – CSTT Kanata Thủ Đức
- 남한의 이명준
Lee Myung-jun ở Hàn Quốc (miền Nam)
일주일 후, 명준은 두 번째 S서 형사실에 앉아 있다.
→ Một tuần sau, Myung-jun đang ngồi trong phòng điều tra của S-sở cảnh sát lần thứ hai.
이번에는 여러 사람이 자리에 있는 시간이다.
→ Lần này là lúc có nhiều người đang có mặt trong phòng.
명준을 맡은 형사 옆에 앉은, 얼굴이 바둑판같이 각이 진 친구가 명준을 흘끗 쳐다보더니 묻는다.
→ Một người đàn ông có khuôn mặt vuông vức như bàn cờ, ngồi cạnh viên cảnh sát phụ trách Myung-jun, liếc nhìn anh rồi hỏi.
“뭐야?”
→ “Là ai vậy?”
“이형도 씨 자제 분이야.”
→ “Là con trai của ông Lee Hyeong-do.”
“이형도?”
→ “Lee Hyeong-do?”
“이형도가 누구야?”
→ “Lee Hyeong-do là ai vậy?”
다음다음 자리에 앉았던 친구도 서류에서 눈길을 떼면서, 그들의 이야기에 끼여든다.
→ Người ngồi cách đó hai chỗ cũng rời mắt khỏi tập hồ sơ và xen vào câu chuyện của họ.
“박헌영이 밑에서 남로당을 하다가 이북으로 뺑소니친 새끼야.”
→ “Là thằng từng hoạt động trong Nam-ro-đảng dưới trướng Park Heon-young rồi chạy trốn sang miền Bắc.”
저편 자리에서 소리가 난다.
→ Từ chỗ ngồi phía bên kia vang lên một giọng nói.
“응 알아. 요사이 민주주의 민족통일전선인가에서 대남 방송에 나오는 놈 말이지?”
→ “Ừ, biết rồi. Dạo này là thằng hay xuất hiện trên chương trình phát thanh hướng về miền Nam của cái gọi là Mặt trận Thống nhất Dân tộc Dân chủ phải không?”
“그래.”
→ “Đúng.”
“이 새끼가 그 새끼 새끼란 말이지.”
→ “Vậy là thằng này chính là con của cái thằng đó.”
와 웃음이 터진다.
→ Cả phòng bật cười ồ lên.
명준은 고개를 숙이고 발끝을 내려다본다.
→ Myung-jun cúi đầu nhìn xuống mũi giày của mình.
아버지 이름이 놀림을 받는 자리에서 아버지에 대한 사랑이 태어나는 것을 알았다.
→ Ngay tại nơi tên cha mình bị đem ra chế giễu, anh nhận ra rằng tình yêu dành cho cha đang nảy sinh trong lòng.
얻어맞고 터지더라도 먼젓번처럼 취조관하고 단둘인 편이 오히려 나을 성싶다.
→ Dù có bị đánh đập đi nữa, có lẽ được thẩm vấn riêng với điều tra viên như lần trước còn tốt hơn.
여럿의 노리개가 되는 건 더 괴로웠다.
→ Trở thành trò tiêu khiển cho nhiều người còn đau khổ hơn.
“그래 이 자식은 뭘 하는 놈이야?”
→ “Vậy thằng này làm gì?”
“철학자라네.”
→ “Nghe nói là triết gia.”
“철학? 새끼 꼭 아편쟁이 같은 게 그럴싸하군.”
→ “Triết gia à? Nhìn thằng này giống con nghiện thuốc phiện thật đấy.”
“이런 새끼들 속이란 더 알쏭달쏭한 거야.
→ “Loại người như thế này lòng dạ lại càng khó đoán.
내 사찰계 근무 경험으로, 극렬한 빨갱이들 가운데는 이 새끼 같은 것들이 꽤 많아.
→ Theo kinh nghiệm làm việc ở bộ phận theo dõi của tôi, trong số những tên cộng sản cực đoan có khá nhiều kẻ giống như thằng này.
보기는 버러지도 무서워 할 것 같지.
→ Nhìn bề ngoài thì tưởng như đến con giun cũng sợ.
이런 일이 있었어……
→ Tôi từng gặp một chuyện như thế này…”
그자는 명준을 젖혀 놓고 동료 쪽으로 돌아앉아서 겪은 얘기를 늘어놓기 시작한다.
→ Người đó quay lưng lại với Myung-jun, hướng về phía đồng nghiệp và bắt đầu kể dài dòng những chuyện mình đã trải qua.
명준은 그의 얘기를 들으면서도 또 한 번 놀란다.
→ Nghe câu chuyện của ông ta, Myung-jun lại một lần nữa ngạc nhiên.
그는 자기 전성 시대라면서, 일제 때 특고 형사 시절에 좌익을 다루던 이야기를 하고 있는 것이었다.
→ Ông ta đang kể về “thời hoàng kim” của mình, tức thời còn làm điều tra viên đặc biệt dưới thời Nhật chiếm đóng, chuyên xử lý những người cánh tả.
그는 특고가 마치 한국 경찰의 전신이나 되는 것처럼 이야기한다.
→ Ông ta nói về lực lượng cảnh sát đặc biệt ấy như thể đó chính là tiền thân của cảnh sát Hàn Quốc.
그 말투에는 일제 시대에, 그 학교의 전신이던 학교에 다닌 선배가, 그 소위 후배들을 앞에 놓고 옛날, 운동으로 날리던 얘기에 신명이 났을 때의 도도함이 있다.
→ Trong giọng điệu của ông ta có cái vẻ kiêu hãnh giống như một đàn anh từng học ở ngôi trường tiền thân của trường hiện tại, đang hào hứng kể lại những ngày huy hoàng thời xưa trước mặt các đàn em.
그의 옛날 얘기를 듣고 있으려니까, 명준은 자기가 마치 일본 경찰의 특고 형사실에 와 있는 듯한 생각에 사로잡힌다.
→ Khi nghe những câu chuyện quá khứ ấy, Myung-jun có cảm giác như mình đang ngồi trong phòng điều tra của cảnh sát đặc biệt Nhật Bản.
형사의 얘기는 그토록 지난날과 지금을 뒤섞고 있다.
→ Câu chuyện của viên cảnh sát trộn lẫn quá khứ với hiện tại đến mức như vậy.
빨갱이 잡는 걸 가지고 볼 때 지금이나 일본시절이나 다름없다고 생각하고 있는 게 완연하다.
→ Rõ ràng ông ta nghĩ rằng việc bắt “bọn cộng sản” bây giờ cũng chẳng khác gì thời Nhật.
일제는 반공이다, 우리도 반공이다.
→ Nhật Bản thời đó chống cộng, còn chúng ta bây giờ cũng chống cộng.
그러므로 둘은 같다라는 삼단논법.
→ Vì vậy hai bên giống nhau – đó là kiểu suy luận tam đoạn luận của ông ta.
그는 옛날은 좋았다고 한다.
→ Ông ta nói rằng ngày xưa thật tốt.
옛날엔 세도가 당당했다고 한다.
→ Ông ta nói rằng thời đó quyền thế rất hiển hách.
명준은 차츰 몰라진다.
→ Myung-jun dần cảm thấy bối rối.
옛날이 좋았다? 이조 시대란 말인가?
→ Ngày xưa tốt sao? Ý là thời triều Joseon à?
고려? 신라? 삼한?
→ Hay thời Goryeo? Silla? Hay Tam Hàn?
혹은 에덴 시대?
→ Hay thậm chí là thời vườn Eden?
아니 이자가 그런 고전적인 회고 취미를 가졌을 리 없다.
→ Không, người như ông ta chắc chắn không phải kiểu người hoài niệm cổ điển như vậy.
그건 일본 시대를 말하는 소리다.
→ Ông ta đang nói về thời Nhật Bản cai trị.
20분이나 잘 되게 그를 버려뒸다가 그제야 돌아앉는다.
→ Ông ta bỏ mặc Myung-jun gần hai mươi phút rồi mới quay lại đối diện với anh.
“잘 생각해 봤나?”
→ “Đã suy nghĩ kỹ chưa?”
“네?”
→ “Dạ?”
“이 새끼 첫마디에 알아듣는 적이 없어. 대학에서 철학까지 공부하는 새끼레 왜 그리 눈치가 없어?”
→ “Thằng này chưa bao giờ hiểu ngay từ câu đầu. Đã học triết ở đại học mà sao lại kém tinh ý thế?”
“……”
→ Im lặng
“순순히 불 생각이 들었느냔 말이야.”
→ “Tao hỏi là mày có định ngoan ngoãn khai ra không?”
명준은 잠깐 고개를 떨어뜨렸다가, 똑바로 얼굴을 쳐들면서 입을 열었다.
→ Myung-jun cúi đầu một lát, rồi ngẩng thẳng mặt lên và mở lời.
“전번에도 말씀드렸습니다만, 저에게 오해를 하시는 모양인데……”
→ “Như tôi đã nói lần trước, có lẽ các ông đang hiểu lầm về tôi…”
“네, 끝까지 들어 주세요……”
→ “Vâng, xin hãy nghe tôi nói hết…”
“잘못 아시는 모양인데 제 부친은 집에 들어서는 통 그런 얘기를 안 하는 분이었고,
→ “Có lẽ các ông hiểu sai, cha tôi khi ở nhà hoàn toàn không bao giờ nói những chuyện như vậy,
월북하셨을 때도 처음 몇 달 동안은 어머니나 저나 그런 줄을 몰랐어요.
→ ngay cả khi ông sang miền Bắc, trong vài tháng đầu mẹ tôi và tôi cũng không hề biết chuyện đó.
전에도 집을 비우시는 일이 많았으니까요.
→ Vì trước đây ông cũng thường xuyên vắng nhà.
그러려니 하고 있다가 나중에야 알았어요.
→ Chúng tôi cứ nghĩ bình thường như vậy, rồi sau này mới biết.
그 후로 어머니는 돌아가시고 저는 지금 살고 있는 변성제 씨 댁에 와서 지금까지 지냈고
→ Sau đó mẹ tôi qua đời, còn tôi thì đến sống ở nhà ông Byun Seong-je, nơi tôi đang sống cho đến bây giờ.
아버지 소식은 알래야 어떻게 알 수 있었겠습니까.
→ Còn tin tức về cha tôi thì làm sao mà tôi có thể biết được.
이 점에 대해서는 변선생께서도 잘 알고 계십니다.”
→ “Về điều này, thầy Byun cũng biết rất rõ.”
그러나 형사는 그의 말을 내내 들어주고 있지는 않는다.
→ Nhưng viên cảnh sát không thực sự nghe hết lời anh.
성냥개비를 가지고 귀를 후비기도 하고,
→ Ông ta dùng que diêm ngoáy tai,
새끼손가락 끝으로 콧구멍을 후비기도 하면서,
→ rồi lại dùng đầu ngón út ngoáy mũi,
딴전을 부리다가 변성제란 이름이 나왔을 때 불쑥 한마디 던진다.
→ tỏ vẻ lơ đãng, nhưng khi cái tên Byun Seong-je được nhắc đến thì bất ngờ buông một câu.
“변선생? 변선생은 거기까지는 다짐할 수 없다는 거야.”
→ “Thầy Byun à? Thầy Byun nói rằng không thể đảm bảo đến mức đó đâu.”
명준은 가슴이 콱 막힌다.
→ Ngực Myung-jun như bị bóp nghẹt lại.
어렴풋이 나마 그 이름이 미칠 수 있는 힘을 짐작하고서 한,
→ Anh mơ hồ hiểu được sức nặng mà cái tên ấy có thể gây ra,
명준의 그 말만은 놓치지 않고 대뜸 쏘아붙이는 형사의 투는,
→ và cách viên cảnh sát lập tức chĩa thẳng vào câu nói đó của anh,
흘려듣는 듯하면서 대목은 결코 놓치지 않고 있다는 다짐이다.
→ cho thấy rằng dù tỏ ra như không chú ý, ông ta thực ra không hề bỏ sót chi tiết nào.
능글맞은 늑대 한 마리를 보는 듯하다.
→ Cảm giác như đang đối diện với một con sói ranh mãnh.
변선생이 뭐라 한 걸 가지고 넘겨짚는 수작인지 그것도 알 수 없다.
→ Anh cũng không biết liệu đó có phải là thủ đoạn suy diễn từ lời thầy Byun hay không.
가만히 있을 순 없을 것 같아서, 그대로 잇는다.
→ Không thể cứ im lặng được, anh tiếp tục nói.
“물론 한집에 사는 식구라도 일거일동을 모조리 알 수야 없겠지만,
→ “Dĩ nhiên, dù là người sống chung trong một gia đình thì cũng không thể biết hết mọi hành động của nhau,
저의 생활이란 간단합니다.
→ nhưng cuộc sống của tôi rất đơn giản.
제가 제일 접촉이 많은 곳이래야 결국 학교일 테고,
→ Nơi tôi tiếp xúc nhiều nhất cuối cùng cũng chỉ là trường học,
그밖에 교우관계도 조사해 보시면 아실 겁니다.
→ còn các mối quan hệ bạn bè của tôi, nếu các ông điều tra thì cũng sẽ biết.
지은 죄없이 추궁 받는 건 정말 괴롭습니다.”
→ Bị tra hỏi khi không hề phạm tội thật sự rất khổ sở.”
‘일거일동’이니 ‘접촉’이니 ‘교우관계’니 하는 이 동네 말이 제 입에서 술술 나온다.
→ Những từ ngữ kiểu như “nhất cử nhất động”, “tiếp xúc”, “quan hệ bạn bè” – thứ ngôn ngữ của chốn này – cứ trôi ra trôi chảy từ miệng anh.
“제일 친한 친구가 누구야?”
→ “Bạn thân nhất của mày là ai?”
명준은 잠깐 생각했다.
→ Myung-jun suy nghĩ một lúc.
“별로 없습니다.”
→ “Không có ai đặc biệt cả.”
“뭐? 한 사람이다두 대란 말야.”
→ “Gì? Ít nhất cũng phải có một người chứ.”
“글쎄요, 특별히 친하단 사람은 …… 변태식이 그중……”
→ “Ừm… nếu nói là thân nhất thì… Byun Tae-sik có lẽ là một trong số đó…”
“변태식이?”
→ “Byun Tae-sik?”
“뭣 하는 사람이야?”
→ “Hắn làm gì?”
“변선생 자제 분입니다.”
→ “Là con trai của thầy Byun.”
“아따, 요 새끼 노는 꼴 봐라.”
→ “Chà, nhìn cái kiểu thằng này chơi trò kìa.”
옆자리에서 거들 듯 흥 소리가 난다.
→ Từ chỗ ngồi bên cạnh vang lên một tiếng hừ như hùa theo.
“변선생을 끌고 들어가는 게 안전하단 말이지?
→ “Mày nghĩ kéo thầy Byun vào thì sẽ an toàn à?
그따위 잔꾀 부리지 말어.
→ Đừng có giở mấy trò ranh vặt đó.
하긴 내 경험으로두 너처럼 상판때기가 샌님처럼 생긴 게 곧잘 사람을 속이는 법이야.
→ Theo kinh nghiệm của tao, những thằng có bộ mặt thư sinh như mày thường rất giỏi lừa người khác.
내가 아직 경험이 없을 땐 그 수에 잘 넘어갔지.
→ Khi tao còn ít kinh nghiệm, tao cũng từng bị kiểu đó lừa.
그렇지만 지금은 달라.
→ Nhưng bây giờ thì khác rồi.
너 같은 놈을 한두 명 겪은 줄 알어?
→ Mày tưởng tao chỉ gặp một hai thằng như mày thôi à?
뱃속까지 환하다, 이 쌔끼야.”
→ Tao nhìn thấu cả ruột gan của mày rồi, thằng khốn.”
그러면 어쩌자는 말일까. 그의 목을 죄는 손은 왠걸 끈질기다. 무서움이 한 걸음 한 걸음 뚜렷한 모습을 띤다.
→ Vậy rốt cuộc họ muốn anh phải làm gì? Bàn tay đang siết cổ anh sao mà dai dẳng đến vậy. Nỗi sợ hãi từng bước một hiện ra rõ ràng hơn.
- 월북한 이명준 Lee Myung-jun sau khi sang miền Bắc
월북한 지 반년이 지난 이듬해 봄, 명준은 호랑이 굴에 스스로 걸어 들어온 저를 저주하면서, 이제 나는 무얼 해야 하나? 무쇠 티끌이 섞인 것보다 더 숨막히는 공기 속에서, 이마에 진땀을 흘리며, 하숙집 천장을 노려보고 있었다.
→ Vào mùa xuân năm sau, khi đã sang miền Bắc được nửa năm, Myung-jun nguyền rủa chính mình vì đã tự bước vào hang hổ. “Bây giờ mình phải làm gì đây?” Trong bầu không khí ngột ngạt còn khó thở hơn cả khi trộn lẫn bụi sắt, anh toát mồ hôi lạnh trên trán và nằm nhìn chằm chằm lên trần nhà của căn phòng trọ.
아버지는 새 장가를 들고 있었다. ‘민주주의 민족통일전선’ 중앙 선전 책임자인 그의 부친은, 모란봉 극장에 가까운 적산집에, 새 아내와 살고 있었다.
→ Cha anh đã tái hôn. Cha anh, người đang giữ chức trưởng ban tuyên truyền trung ương của “Mặt trận Thống nhất Dân tộc Dân chủ”, sống cùng người vợ mới trong một ngôi nhà tịch thu của người Nhật, gần nhà hát Moranbong.
평안도 사투리가 그대로 구수한 ‘조선의 딸’이었다. 예 그대로인 조선 여자의 본보기, 그저 여자였다.
→ Bà là một “người con gái Triều Tiên” với giọng địa phương Pyongan đậm đặc. Một hình mẫu điển hình của người phụ nữ Triều Tiên truyền thống — chỉ đơn giản là một người đàn bà như thế.
머릿수건을 쓰고 아버지가 벗어 놓은 양말을 헹구고 있는 그녀를 보았을 때, 명준은 끔한 꼴을 본 듯 얼굴을 돌렸다.
→ Khi nhìn thấy bà quấn khăn trên đầu và đang giặt đôi tất cha anh vừa cởi ra, Myung-jun quay mặt đi như thể vừa nhìn thấy một cảnh tượng khó chịu.
꽃 나무가 가꾸어진 뜰 안. 30촉 전등 아래 신문지로 덮어 놓은 밥상을 지키고 앉은 명준이 나이 또래의 의붓어머니. 그것은 지옥이었다.
→ Trong sân có trồng cây hoa được chăm sóc cẩn thận. Dưới ánh đèn 30 nến, người mẹ kế trạc tuổi anh ngồi canh mâm cơm được phủ bằng tờ báo. Đối với Myung-jun, đó giống như địa ngục.
명준이 그 속에서 도망해 나온, 평범이란 이름의 진구렁.
→ Đó là một cái hố sâu mang tên “sự bình thường” mà Myung-jun muốn chạy trốn khỏi.
그 풍경은 맥빠진 월급쟁이 집안의 저녁 한때일망정, 반일 투사이며, 이름 있는 코뮤니스트였던 아버지의 터전일 수는 없었다.
→ Khung cảnh ấy giống một buổi tối bình thường trong gia đình của một người làm công ăn lương mệt mỏi, chứ không thể là nơi ở của một người cha từng là chiến sĩ chống Nhật và là một nhà cộng sản nổi tiếng.
부친의 재혼을 마다하는 것은 아니었다.
→ Không phải anh phản đối việc cha tái hôn.
아버지처럼, 믿음을 위해서 젊음을 어두운 골목과 낯선 땅 벌판에서 보낸, 어느 여류 코뮤니스트와 맺어졌다면, 그런 의붓어머니에게 어리광까지도 피웠을 거다.
→ Nếu cha anh kết hôn với một nữ cộng sản đã dành cả tuổi trẻ cho lý tưởng, lang bạt qua những con hẻm tối và vùng đất xa lạ như cha anh, thì có lẽ Myung-jun thậm chí còn có thể làm nũng với người mẹ kế như vậy.
그러나 이 여자. 그를 도련님 받들 듯하는 이 조선의 딸. 도대체 어디에 혁명이 있단 말인가.
→ Nhưng người phụ nữ này — “người con gái Triều Tiên” luôn đối xử với anh như với một cậu chủ nhỏ. Rốt cuộc thì cách mạng ở đâu?
일류 코뮤니스트의 집에서, 중류 부르주아의 그것 같은 차분함이 도사리고 있는 바에야, 혁명의 싱싱한 서슬이 어디 있단 말일까.
→ Trong ngôi nhà của một nhà cộng sản hàng đầu mà lại ẩn chứa sự yên ổn giống như gia đình tư sản trung lưu, vậy thì còn đâu khí thế sắc bén và sống động của cách mạng?
부친은 아들을 비키듯 했다. 난봉꾼 아들을 피하는 마음 약한 아버지.
→ Cha anh dường như né tránh con trai mình, giống như một người cha yếu đuối đang lảng tránh một đứa con hư hỏng.
구역질이 나는 부르주아 집안의 나날이었다.
→ Đó là những ngày tháng trong một gia đình tư sản khiến anh buồn nôn.
밖에 나가서 아버지라는 이름에 어울리지 않는 죄를 저지르고 있는 사나이가, 자기 아내와 철든 아이들에게 보이는 너그러움.
→ Một người đàn ông ra ngoài thì phạm phải những tội lỗi không xứng với danh nghĩa người cha, nhưng lại tỏ ra rộng lượng trước vợ và những đứa con đã trưởng thành.
그러면 아버지는 무슨 죄를 밖에서 지었다는 건가.
→ Vậy rốt cuộc cha anh đã phạm tội gì ở bên ngoài?
혁명을 판다는 죄, 그걸 스스로 모를 리 없는 아버지가 계면쩍어하는 몸가짐일 것이다.
→ Đó là tội “bán rẻ cách mạng”, và có lẽ cha anh cũng tự biết điều đó nên mới có dáng vẻ ngượng ngùng như vậy.
신문사 일도 손에 잡혀 가고, 자기가 그 속에 살고 있는 공기의 이룸 새도 바닥이 드러나게쯤 된 이른 봄 어느 날
→ Vào một ngày đầu xuân khi công việc ở tòa soạn đã dần quen tay, và bản chất của bầu không khí xã hội mà anh đang sống cũng bắt đầu lộ rõ,
월북한 이래로 그들 부자는 처음 부딪쳤다.
→ kể từ khi sang miền Bắc, hai cha con họ mới thực sự đối mặt với nhau lần đầu.
명준은 터지는 마음을 그대로 쏟았다.
→ Myung-jun trút ra tất cả những cảm xúc đang dồn nén trong lòng.
“이게 무슨 인민의 공화국입니까? 이게 무슨 인민의 소비에트입니까? 이게 무슨 인민의 나랍니까?”
→ “Đây là kiểu cộng hòa của nhân dân gì vậy? Đây là kiểu Xô viết của nhân dân gì vậy? Đây là kiểu đất nước của nhân dân gì vậy?”
“제가 남조선을 탈출한 건, 이런 사회로 오려던 게 아닙니다.”
→ “Tôi rời bỏ miền Nam không phải để đến một xã hội như thế này.”
“솔직히 말씀드리면 아버지가 못 견디게 그리웠던 것도 아닙니다.”
→ “Nói thật thì cũng không phải vì tôi nhớ cha đến mức không chịu nổi.”
“무지한 형사의 고문이 두려워서도 아닙니다.”
→ “Cũng không phải vì tôi sợ bị những viên cảnh sát ngu dốt tra tấn.”
“제 나이에 아버지 없어서 못 살 건 아니잖아요?”
→ “Ở tuổi tôi, không có cha thì cũng đâu phải là không sống nổi.”
“또 제가 아무리 미워도 아버지가 여기서 활약하신다고 그들이 저를 죽이기야 했겠습니까?”
→ “Và dù họ có ghét tôi đến đâu, vì cha tôi hoạt động ở đây thì họ cũng đâu đến mức giết tôi.”
“저는 살고 싶었습니다.”
→ “Tôi muốn được sống.”
“보람 있게 청춘을 불태우고 싶었습니다.”
→ “Tôi muốn đốt cháy tuổi trẻ của mình một cách có ý nghĩa.”
“정말 삶다운 삶을 살고 싶었습니다.”
→ “Tôi muốn sống một cuộc đời thật sự đáng gọi là cuộc sống.”
“남녘에 있을 땐, 아무리 둘러보아도, 제가 보람을 느끼면서 살 수 있는 광장은 아무 데도 없었어요.”
→ “Khi còn ở miền Nam, dù nhìn quanh thế nào tôi cũng không thấy nơi nào — một ‘quảng trường’ — nơi tôi có thể sống mà cảm thấy ý nghĩa.”
“아니, 있긴 해도 그건 너무나 더럽고 처참한 광장이었습니다.”
→ “Không, nếu có thì đó cũng chỉ là một quảng trường bẩn thỉu và thảm hại.”
“아버지, 아버지가 거기서 탈출하신 건 옳았습니다. 거기까지는 옳았습니다.”
→ “Cha à, việc cha thoát khỏi nơi đó là đúng. Đến mức đó thì cha đã đúng.”
“제가 월북해서 본 건 대체 뭡니까?”
→ “Nhưng điều tôi nhìn thấy sau khi sang miền Bắc rốt cuộc là gì?”
“이 무거운 공기. 어디서 이 공기가 이토록 무겁게 짓눌려 나옵니까?”
→ “Bầu không khí nặng nề này. Tại sao nó lại đè nặng đến vậy?”
“인민이라구요? 인민이 어디 있습니까?”
→ “Nhân dân ư? Nhân dân ở đâu?”
“자기 정권을 세운 기쁨으로 넘치는 웃음을 얼굴에 지닌 그런 인민이 어디 있습니까?”
→ “Những người dân mang nụ cười tràn đầy niềm vui vì đã lập nên chính quyền của mình ở đâu?”
“바스티유를 부수던 날의 프랑스 인민처럼 셔츠를 찢어서 공화국 만세를 부르던 인민이 어디 있습니까?”
→ “Những người dân như nhân dân Pháp trong ngày phá ngục Bastille, xé áo mình và hô vang ‘Cộng hòa muôn năm’ ở đâu?”
“저는 프랑스 혁명 해설 기사를 썼다가, 편집장에게 욕을 먹고, 직장 세포에서 자아비판을 했습니다.”
→ “Tôi đã viết một bài bình luận về Cách mạng Pháp, rồi bị tổng biên tập mắng và phải tự kiểm điểm trong chi bộ cơ quan.”
“프랑스 혁명은 부르주아 혁명이라구, 인민의 혁명이 아니라구요.”
→ “Họ nói rằng Cách mạng Pháp là cách mạng tư sản, không phải cách mạng của nhân dân.”
“저도 압니다.”
→ “Tôi cũng biết điều đó.”
“그러나 제가 말하고 싶었던 건 그게 아니었습니다.”
→ “Nhưng điều tôi muốn nói không phải là điều đó.”
“그때 프랑스 인민들의 가슴에서 끓던 피, 그 붉은 심장의 얘기를 하고 싶었던 겁니다.”
→ “Điều tôi muốn nói là dòng máu sôi sục trong lồng ngực của nhân dân Pháp lúc đó — nhịp đập của trái tim đỏ ấy.”
“시라구요? 오, 아닙니다. 아버지, 아닙니다.”
→ “Thơ ca ư? Không, không phải vậy, cha à.”
“그 붉은 심장의 설레임, 그것이야말로 모든 것입니다.”
→ “Chính sự rung động của trái tim đỏ ấy mới là tất cả.”
“그것이야말로 우리와 자본주의자들을 가르는 단 하나의 것입니다.”
→ “Đó mới chính là điều duy nhất phân biệt chúng ta với những kẻ tư bản.”
“퍼센티지가 문제인 게 아닙니다.”
→ “Vấn đề không phải là phần trăm.”
“생산지수가 문제인 게 아닙니다.”
→ “Cũng không phải là chỉ số sản xuất.”
“인민 경제 계획의 초과 달성이 문젠 게 아닙니다.”
→ “Cũng không phải là việc vượt chỉ tiêu kế hoạch kinh tế của nhân dân.”
“우리 가슴속에서 불타야 할 자랑스러운 정열…”
→ “Mà là niềm nhiệt huyết đáng tự hào phải cháy lên trong trái tim chúng ta…”
그것만이 문젭니다. 이남에는 그런 정열이 없었습니다.
→ Chỉ điều đó mới là vấn đề. Ở miền Nam không có thứ nhiệt huyết như vậy.
있는 것은, 비루한 욕망과, 탈을 쓴 권세욕과, 그리고 섹스뿐이었습니다.
→ Chỉ có những dục vọng tầm thường, lòng ham quyền lực đội lốt, và tình dục mà thôi.
서양에 가서 소위 민주주의를 배웠다는 놈들이 돌아와서는, 자기 몇 대조가 무슨 판서 무슨 참판을 지냈다는 자랑을 늘어놓으면서, 인민의 등에 올라앉아 외국에서 맞춘 아른거리는 구둣발로 그들의 배를 걷어차고 있었습니다.
→ Những kẻ từng sang phương Tây học cái gọi là dân chủ, khi trở về thì khoe khoang rằng tổ tiên mấy đời trước từng làm quan lớn, rồi ngồi lên lưng nhân dân và dùng đôi giày sáng loáng đặt may ở nước ngoài đá vào bụng họ.
도시 어떻게 된 영문인지, 일본 놈들 밑에서 벼슬을 지내고 아버지 같은 애국자를 잡아 죽이던 놈들이 무슨 국장, 무슨 처장, 무슨 청장 자리에 앉아서 인민들을 호령하고 있습니다.
→ Thật không hiểu vì sao, những kẻ từng làm quan dưới thời Nhật và bắt giết những người yêu nước như cha tôi, giờ lại ngồi vào các chức vụ như cục trưởng, vụ trưởng, giám đốc và ra lệnh cho nhân dân.
남조선 사회는 백귀야행(百鬼夜行)하는 도시 알 수 없는 난장판이었습니다.
→ Xã hội Nam Hàn là một cảnh hỗn loạn khó hiểu, như nơi trăm quỷ đi đêm.
청년들은, 섹스와 재즈와 그림 속의 미국 여배우의 젖가슴에서 허덕이지 않으면, 재빨리 외국인을 친지로 삼아서 외국으로 내빼고 있었습니다.
→ Thanh niên, nếu không chìm đắm trong tình dục, nhạc jazz và bộ ngực của các nữ diễn viên Mỹ trên tranh ảnh, thì cũng nhanh chóng kết thân với người nước ngoài để tìm đường trốn ra nước ngoài.
유학이라는 이름으로 그들은 그 험한 사회의 혼탁에서 잠시 몸을 빼고, 아름다운 아내와 쪼들리지 않을 만큼 한 살림을 꾸릴 수 있는 간판과 기술을 얻기 위해서, 외국으로 간 것입니다.
→ Dưới danh nghĩa du học, họ tạm rời khỏi sự hỗn loạn của xã hội ấy để ra nước ngoài, nhằm có được bằng cấp và kỹ năng đủ để sau này xây dựng một gia đình với người vợ xinh đẹp và cuộc sống không quá túng thiếu.
부르주아 사회의 가장 실팍한 뼈대를 이루는, 약사 빠른 수재들 말입니다.
→ Đó chính là những người tài năng nhanh nhạy tạo nên bộ khung vững chắc nhất của xã hội tư sản.
이도 저도 못 하는 우리 같은 것은, 철학이니 예술이니 하는, 19세기 구라파의 찬란한 옛날 얘기책을 뒤적이면서, 자기 자신을 속이려고 했습니다.
→ Còn những người như chúng tôi, không làm được cái này cũng chẳng làm được cái kia, chỉ biết lật giở những câu chuyện huy hoàng của triết học và nghệ thuật châu Âu thế kỷ 19 để tự lừa dối chính mình.
지금도 그러고 있는 사람이 남조선에는 얼마든지 있습니다.
→ Ngay cả bây giờ ở Nam Hàn vẫn có vô số người như thế.
그들이야말로 가장 아름다운 심장의 소유자들입니다.
→ Chính họ mới là những người sở hữu trái tim đẹp nhất.
젊은 사람 치고, 이상주의적인 사회 개량의 정열이 없는 사람이 어디 있겠습니까?
→ Trong những người trẻ tuổi, ai lại không có nhiệt huyết cải tạo xã hội đầy lý tưởng?
다만 그들은, 남조선이라는 이상한, 참으로 이상한 풍토 속에서는 움직일 자리를 가지지 못했다는 것뿐입니다.
→ Chỉ là trong môi trường kỳ lạ, thật sự kỳ lạ mang tên Nam Hàn ấy, họ không có chỗ để hành động.
저는 그런 풍토 속에서 성격적인 약점이 점점 커지더군요.
→ Trong môi trường như vậy, những điểm yếu trong tính cách của tôi ngày càng lớn dần.
저는 새로운 풍토로 탈출하기로 결정했습니다. 월북했습니다.
→ Tôi quyết định thoát sang một môi trường mới. Tôi đã sang miền Bắc.
어리광을 피우려는 저의 손길을, 위대한 인민공화국은 매정스레 뿌리치더군요.
→ Nhưng bàn tay muốn tìm sự nương tựa của tôi đã bị Cộng hòa Nhân dân vĩ đại lạnh lùng gạt bỏ.
편집장은 저한테 이런 말을 했습니다.
→ Tổng biên tập đã nói với tôi như thế này:
“이명준 동무는, 혼자서 공화국을 생각하는 것처럼 말하는군.
당이 명령하는 대로 하면 그것이 곧 공화국을 위한 거요. 개인주의적인 정신을 버리시오.”
→ “Đồng chí Lee Myung-jun nói cứ như thể một mình cậu đang suy nghĩ cho đất nước vậy. Chỉ cần làm theo mệnh lệnh của Đảng thì đó chính là vì nước cộng hòa. Hãy từ bỏ tinh thần cá nhân chủ nghĩa đi.”
아하, 당은 저더러는 생활하지 말라는 겁니다.
→ À, vậy là Đảng muốn tôi không được sống như một con người.
일이면 일마다 저는 느꼈습니다. 제가 주인공이 아니고 ‘당’이 주인공이란 걸.
→ Trong mọi việc tôi đều cảm nhận rằng nhân vật chính không phải là tôi, mà là “Đảng”.
‘당’만이 흥분하고 도취합니다. 우리는 복창만 하라는 겁니다.
→ Chỉ có “Đảng” được phấn khích và say mê. Còn chúng tôi chỉ được phép lặp lại.
‘당’이 생각하고 판단하고 느끼고 한숨지을 테니, 너희들은 복창만 하라는 겁니다.
→ “Đảng” sẽ suy nghĩ, phán đoán, cảm nhận và thở dài; còn các anh chỉ cần nhắc lại mà thôi.
우리는 기껏해야 ‘일찍이 위대한 레닌 동무는 말하기를 ……’
‘일찍이 위대한 스탈린 동무는 말하기를……’
→ Chúng tôi cùng lắm chỉ có thể nói:
“Ngày xưa đồng chí Lenin vĩ đại đã nói rằng…”
“Ngày xưa đồng chí Stalin vĩ đại đã nói rằng…”
그렇습니다.
→ Đúng vậy.
모든 것은, 위대한 동무들에 의하여, 일찍이 말해져 버린 것입니다. 이제는 아무 말도 할 말이 없습니다. 우리는 인제 아무도 위대해질 수 없습니다.
→ Mọi thứ đã được những “đồng chí vĩ đại” nói hết từ trước rồi. Bây giờ chẳng còn gì để nói nữa. Giờ đây không ai trong chúng ta có thể trở nên vĩ đại nữa.
아, 이 무슨 짓입니까? 도대체 어쩌다 이 꼴이 된 겁니까?
→ À, đây là chuyện gì vậy? Rốt cuộc làm sao mà mọi thứ lại trở nên như thế này?
마르크스주의는, 역사적 현실의 모든 경우에 한결같이 적용되는 단 한 가지의 처방을 내린 것으로 해석되어서는 안 됩니다.
→ Chủ nghĩa Marx không nên được hiểu như một công thức duy nhất áp dụng giống nhau cho mọi hoàn cảnh của lịch sử.
마르크스의 이론이란, 정확하게는, 그가 자기 시대를 분석한 그의 저술 속에서 쓴, 방법론을 가리켜야 합니다.
→ Chính xác mà nói, lý thuyết của Marx phải được hiểu là phương pháp luận mà ông đã sử dụng trong các tác phẩm phân tích thời đại của mình.
이론 속에 엉켜 있는 방법과 정책에 대해서는 방법론의 창시자조차도 반드시는 정확하달 수 없습니다.
→ Ngay cả người sáng lập phương pháp luận ấy cũng chưa chắc đã hoàn toàn chính xác về những phương pháp hay chính sách gắn liền trong lý thuyết đó.
하물며 계승자인 경우에는, 어느 누구도 해석권을 독점해서는 안 됩니다.
→ Huống chi là những người kế thừa, không ai được độc quyền quyền giải thích nó.
아무리 위대한 동무들도 모든 것을 다 말할 수 있었을 리가 없고 그렇게 믿어서는 안 됩니다.
→ Dù là những “đồng chí vĩ đại” đến đâu cũng không thể nói hết mọi điều, và chúng ta không nên tin như vậy.
그들은 어떤 결정된 진리만을 믿은 게 아니고 진리는 더 고치는 것이 용서 안 될 만큼까지 최종적으로 결정돼서는 안된다는 태도까지 믿은 것입니다.
→ Họ không chỉ tin vào một chân lý cố định, mà còn tin rằng chân lý không bao giờ nên bị đóng khung đến mức không thể sửa đổi nữa.
수많은 고결한 심장의 소유자들이, 이런 공화국을 만들려고, 중세기의 순교자들보다 더 거룩한 죽음을 한 건 아니잖습니까?
→ Biết bao con người có trái tim cao quý đã hy sinh, thậm chí còn thiêng liêng hơn những vị tử đạo thời Trung Cổ, đâu phải để tạo ra một đất nước như thế này.
그들의 피에 대한 배반입니다.
→ Đây là sự phản bội đối với máu của họ.
그 누군가가 위대한 선구자들의 피를 착취하고 있습니다.
→ Có ai đó đang khai thác và lợi dụng máu của những người tiên phong vĩ đại ấy.
저는 월북한 이래 일반 소시민이나 노동자 농민들까지도 어떤 생활 감정을 가지고 살고 있는지 알았습니다.
→ Từ khi sang miền Bắc, tôi đã biết người dân thường, công nhân và nông dân đang sống với tâm trạng như thế nào.
그들은 무관심할 뿐입니다.
→ Họ chỉ đơn giản là thờ ơ.
그들은 굿만 보고 있습니다.
→ Họ chỉ đang nhìn vào những màn trình diễn như một nghi lễ.
그들은 끌려 다닙니다.
→ Họ bị lôi kéo đi theo.
그들은 앵무새처럼 구호를 외칠 뿐입니다.
→ Họ chỉ lặp lại khẩu hiệu như những con vẹt.
그렇습니다. 인민이란 그들에겐 양떼들입니다.
→ Đúng vậy. Đối với họ, nhân dân chỉ là một đàn cừu.
그들은 인민의 그러한 부분만을 써먹습니다.
→ Họ chỉ lợi dụng phần đó của nhân dân.
인민을 타락시킨 것은 그들입니다.
→ Chính họ là những người đã làm tha hóa nhân dân.
양들과 개들을 데리고 위대한 김일성 동무는 인민공화국의 수상이라? 하하하……
→ Dẫn theo đàn cừu và bầy chó như thế mà “đồng chí vĩ đại Kim Il-sung” lại là thủ tướng của nước Cộng hòa Nhân dân ư? Ha ha ha…
- 전쟁 중의 이명준 Lee Myung-jun trong chiến tranh
“왜 이런 전쟁을 시작했을까요?”
→ “Tại sao họ lại bắt đầu cuộc chiến tranh như thế này?”
“고독해서 그랬겠지.”
→ “Có lẽ vì cô đơn.”
“누가?”
→ “Ai?”
“김일성 동지지.”
→ “Đồng chí Kim Il-sung chứ ai.”
(Kim Il-sung)
그녀는 다시 눈을 감았다. 한참 만에, 이쪽으로 돌아누우면서, 명준의 가슴을 만지작거렸다.
→ Cô lại nhắm mắt. Một lúc lâu sau, cô quay người về phía này và khẽ chạm tay vào ngực Myung-jun.
“자기가 외롭다고 남을 이렇게 할 권리가 있나요?”
→ “Chỉ vì mình cô đơn mà có quyền làm người khác khổ như thế này sao?”
“권리? 권리가 있어서만 움직인다면 벌써 천당이 왔을 거야.”
→ “Quyền à? Nếu con người chỉ hành động khi có quyền chính đáng thì thiên đường đã đến từ lâu rồi.”
“김일성 동무는 애인이 없었던가 보지요?”
→ “Chắc đồng chí Kim Il-sung không có người yêu nhỉ?”
“있어도 신통치 않았겠지.”
→ “Có thì chắc cũng chẳng ra gì.”
“이 동무가 수상이라면 어떡하시겠어요?”
→ “Nếu đồng chí mà làm thủ tướng thì sẽ làm gì?”
“나? 나 같으면 이따위 바보 짓은 안 해. 전쟁 따윈 안 해. 나라면 이런 내각 명령을 내겠어.”
→ “Tôi à? Nếu là tôi thì tôi sẽ không làm cái trò ngu ngốc như thế này. Tôi sẽ không gây chiến tranh. Nếu là tôi, tôi sẽ ban hành một sắc lệnh của nội các như thế này.”
무릇 조선민주주의 인민공화국의 공민은 삶을 사랑하는 의무를 진다.
→ “Mọi công dân của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên có nghĩa vụ phải yêu cuộc sống.”
사랑하지 않는 자는 인민의 적이며, 자본가의 개이며, 제국주의자들의 스파이다.
→ “Ai không yêu cuộc sống thì là kẻ thù của nhân dân, là con chó của bọn tư bản, là gián điệp của đế quốc.”
누구를 묻지 않고 사랑하지 않는 자는 인민의 이름으로 사형에 처한다. 이렇게 말이야.
→ “Bất cứ ai không yêu cuộc sống, không cần hỏi lý do, sẽ bị xử tử nhân danh nhân dân. Tôi sẽ ra lệnh như vậy.”
“하하하.”
→ “Ha ha ha.”
그녀는 남자처럼 웃었다. 그러면서 두 손으로 잡고 있는 명준의 목을 마구 흔들어 댔다.
→ Cô cười sảng khoái như một người đàn ông, vừa cười vừa nắm cổ Myung-jun bằng hai tay mà lắc mạnh.
“그런 시인을 수상으로 가진 인민들만 봉변이군요.”
→ “Chỉ có nhân dân mới khổ khi có một nhà thơ như anh làm thủ tướng thôi.”
“시인? 아 그럼 그 과학적인 친구들이 앉아서 한다는 게 요꼴인가? 아니야.”
→ “Nhà thơ à? Vậy những người tự cho là khoa học kia ngồi làm chính trị mà ra nông nỗi này sao? Không đâu.”
- 중립국을 택한 이명준 Lee Myung-jun chọn quốc gia trung lập
방 안 생김새는, 통로보다 조금 높게 설득 자들이 앉아 있고, 포로는 왼편에서 들어와서 바른편으로 빠지게 돼 있다.
→ Bên trong căn phòng, những người thuyết phục ngồi ở vị trí cao hơn một chút so với lối đi, còn tù binh thì đi vào từ bên trái và ra ở phía bên phải.
네 사람의 공산군 장교와, 국민복을 입은 중공 대표가 한 사람, 합쳐서 다섯 명.
→ Có bốn sĩ quan quân đội cộng sản và một đại diện Trung Quốc mặc quốc phục, tổng cộng là năm người.
그들 앞에 가서, 걸음을 멈춘다. 앞에 앉은 장교가, 부드럽게 웃으면서 말한다.
→ Myung-jun bước tới trước mặt họ rồi dừng lại. Một sĩ quan ngồi phía trước mỉm cười nhẹ nhàng và nói.
“동무, 앉으시오.”
→ “Đồng chí, mời ngồi.”
명준은 움직이지 않았다.
→ Myung-jun không hề nhúc nhích.
“동무는 어느 쪽으로 가겠소?”
→ “Đồng chí muốn đi về phía nào?”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
그들은 서로 쳐다본다. 앉으라고 하던 장교가, 윗몸을 테이블 위로 바싹 내밀면서, 말한다.
→ Họ nhìn nhau. Viên sĩ quan vừa bảo anh ngồi liền nghiêng người sát về phía trước bàn và nói.
“동무, 중립국도, 마찬가지 자본주의 나라요. 굶주림과 범죄가 우글대는 낯선 곳에 가서 어쩌자는 거요?”
→ “Đồng chí à, nước trung lập cũng vẫn là quốc gia tư bản. Tại sao lại muốn đến một nơi xa lạ đầy đói khát và tội phạm như thế?”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
“다시 한 번 생각하시오. 돌이킬 수 없는 중대한 결정이란 말요. 자랑스러운 권리를 왜 포기하는 거요?”
→ “Hãy suy nghĩ lại một lần nữa. Đây là một quyết định lớn không thể quay lại. Tại sao đồng chí lại từ bỏ quyền đáng tự hào ấy?”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
이번에는, 그 옆에 앉은 장교가 나앉는다.
→ Lần này viên sĩ quan ngồi bên cạnh lên tiếng.
“동무, 지금 인민공화국에서는, 참전 용사들을 위한 연금 법령을 냈소.
→ “Đồng chí à, hiện nay nước Cộng hòa Nhân dân đã ban hành luật trợ cấp cho các cựu chiến binh.
동무는 누구보다도 먼저 일터를 가지게 될 것이며, 인민의 영웅으로 존경받을 것이오.
→ Đồng chí sẽ được nhận việc làm trước bất cứ ai và sẽ được tôn trọng như một anh hùng của nhân dân.
전체 인민은 동무가 돌아오기를 기다리고 있소. 고향의 초목도 동무의 개선을 반길 거요.”
→ Toàn thể nhân dân đang chờ đồng chí trở về. Cây cỏ nơi quê hương cũng sẽ chào đón chiến thắng trở về của đồng chí.”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
그들은 머리를 모으고 소곤소곤 상의를 한다.
→ Họ ghé đầu lại với nhau và thì thầm bàn bạc.
처음에 말하던 장교가, 다시 입을 연다.
→ Viên sĩ quan nói lúc đầu lại lên tiếng.
“동무의 심정도 잘 알겠소. 오랜 포로 생활에서, 제국주의자들의 간사한 꼬임수에 유혹을 받지 않을 수 없었다는 것도 용서할 수 있소.”
→ “Chúng tôi cũng hiểu tâm trạng của đồng chí. Trong thời gian dài sống như tù binh, việc bị những kẻ đế quốc xảo quyệt dụ dỗ cũng là điều có thể tha thứ.”
“그런 염려는 하지 마시오. 공화국은 동무의 하찮은 잘못을 탓하기보다도, 동무가 조국과 인민에게 바친 충성을 더 높이 평가하오.”
→ “Đừng lo lắng về điều đó. Nước Cộng hòa không trách những lỗi nhỏ của đồng chí mà đánh giá cao lòng trung thành mà đồng chí đã cống hiến cho tổ quốc và nhân dân.”
중공 대표가, 날카롭게 무어라 외쳤다. 설득하던 장교는, 증오에 찬 눈초리로 명준을 노려보면서, 내뱉었다.
→ Đại diện Trung Quốc đột ngột quát lên điều gì đó bằng giọng sắc lạnh. Viên sĩ quan đang thuyết phục nhìn Myung-jun với ánh mắt đầy căm ghét rồi buông ra một câu.
“좋아.”
→ “Được thôi.”
눈길을, 방금 도어를 열고 들어서는 다음 포로에게 옮겨 버렸다.
→ Rồi hắn chuyển ánh mắt sang người tù binh tiếp theo vừa bước vào qua cánh cửa.
아까부터 그는 설득자들에게 간단한 한마디만을 되풀이 대꾸하면서, 지금 다른 천막에서 동시에 진행되고 있을 광경을 그려 보고 있었다. 그리고 그 자리에도 자기를 세워 보고 있었다.
→ Từ nãy đến giờ, trong khi chỉ đáp lại những người thuyết phục bằng một câu ngắn lặp đi lặp lại, Myung-jun vẫn tưởng tượng ra cảnh tượng đang diễn ra đồng thời ở những chiếc lều khác. Và anh cũng hình dung mình đứng ở vị trí đó.
Bắt đầu cảnh thẩm vấn ở phía Nam
“자넨 어디 출신인가?”
→ “Anh quê ở đâu?”
“……”
→ “……”
“음, 서울이군.”
→ “Ừm, Seoul à.”
설득자는 앞에 놓인 서류를 뒤적이면서 말했다.
→ Người thuyết phục vừa lật xem hồ sơ trước mặt vừa nói.
“중립국이라지만 막연한 얘기요. 제 나라보다 나은 데가 어디 있겠어요.”
→ “Nước trung lập nghe thì vậy thôi, nhưng thật mơ hồ. Làm gì có nơi nào tốt hơn đất nước của mình.”
“외국에 가본 사람들이 늘 하는 말이 있잖아요. 밖에 나가 봐야 조국이 소중하다는 걸 안다구요.”
→ “Những người từng ra nước ngoài vẫn thường nói: chỉ khi ra ngoài mới biết quê hương quý giá thế nào.”
“당신이 지금 가슴에 품은 울분은 나도 압니다.”
→ “Tôi cũng hiểu nỗi uất ức mà anh đang mang trong lòng.”
“대한민국이 과도기적인 여러 가지 모순을 가지고 있다는 걸 누가 부인합니까?”
→ “Ai mà phủ nhận rằng Hàn Quốc đang có nhiều mâu thuẫn trong giai đoạn chuyển tiếp chứ?”
“그러나 대한민국엔 자유가 있습니다. 인간은 무엇보다도 자유가 소중한 것입니다.”
→ “Nhưng Hàn Quốc có tự do. Với con người, tự do là điều quý giá nhất.”
“당신은 북한 생활과 포로 생활을 통해서 이중으로 그걸 느꼈을 겁니다.”
→ “Chắc hẳn anh đã cảm nhận điều đó gấp đôi, qua cuộc sống ở miền Bắc và cả thời gian làm tù binh.”
“인간은……”
→ “Con người…”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
“허허허, 강요하는 것이 아닙니다.”
→ “Ha ha ha, chúng tôi không ép buộc đâu.”
“다만 내 나라 내 민족의 한 사람이 타향 만리 이국 땅에 가겠다고 하는데, 동족으로서 어찌 한마디 참고되는 이야길 안 할 수 있겠습니까?”
→ “Chỉ là khi một người cùng dân tộc muốn rời đi đến một đất nước xa xôi, là đồng bào với nhau, sao chúng tôi có thể không nói vài lời khuyên được chứ?”
“우리는 이곳에 남한 2천만 동포의 부탁을 받고 온 것입니다.”
→ “Chúng tôi đến đây theo lời nhờ của hai mươi triệu đồng bào miền Nam.”
“한 사람이라도 더 건져서 조국의 품으로 데려오라는……”
→ “Họ nhờ chúng tôi cứu thêm dù chỉ một người và đưa trở về vòng tay của tổ quốc…”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
“당신은 고등교육까지 받은 지식인입니다.”
→ “Anh là một trí thức đã được giáo dục cao.”
“조국은 지금 당신을 요구하고 있습니다.”
→ “Tổ quốc đang cần anh.”
“당신은 위기에 처한 조국을 버리고 떠나 버리렵니까?”
→ “Anh định bỏ rơi tổ quốc đang lâm nguy mà ra đi sao?”
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
“지식인일수록 불만이 많은 법입니다.”
→ “Trí thức thường là những người có nhiều bất mãn.”
“그러나 그렇다고 제 몸을 없애 버리겠습니까?”
→ “Nhưng chẳng lẽ vì thế mà anh lại hủy hoại chính mình sao?”
“종기가 났다고 말이지요.”
→ “Giống như khi bị nhọt vậy.”
당신 한 사람을 잃는 건, 무식한 사람 열을 잃은 것보다 더 큰 민족의 손실입니다.
→ Việc mất đi một người như anh còn là tổn thất lớn cho dân tộc hơn là mất đi mười người không có học.
당신은 아직 젊습니다. 우리 사회에는 할 일이 태산 같습니다.
→ Anh vẫn còn trẻ. Xã hội của chúng ta còn vô vàn việc phải làm.
나는 당신보다 나이를 약간 더 먹었다는 의미에서, 친구로서 충고하고 싶습니다.
→ Với tư cách là người lớn tuổi hơn anh một chút, tôi muốn khuyên anh như một người bạn.
조국의 품으로 돌아와서, 조국을 재건하는 일꾼이 돼주십시오.
→ Hãy trở về vòng tay của tổ quốc và trở thành người xây dựng lại đất nước.
낯선 땅에 가서 고생하느니, 그쪽이 당신 개인으로서도 행복이라는 걸 믿어 의심치 않습니다.
→ Tôi tin chắc rằng điều đó cũng sẽ mang lại hạnh phúc cho chính anh, hơn là phải sang một vùng đất xa lạ chịu khổ.
나는 당신을 처음 보았을 때, 대단히 인상이 마음에 들었습니다.
→ Khi lần đầu gặp anh, tôi đã có ấn tượng rất tốt.
뭐 어떻게 생각지 마십시오. 나는 동생처럼 여겨졌다는 말입니다.
→ Đừng hiểu lầm. Ý tôi là tôi xem anh như một người em.
만일 남한에 오는 경우에, 개인적인 조력을 제공할 용의가 있습니다. 어떻습니까?”
→ Nếu anh đến miền Nam, tôi sẵn sàng giúp đỡ anh trên phương diện cá nhân. Anh thấy thế nào?”
명준은 고개를 쳐들고, 반듯하게 된 천막 천장을 올려다본다.
→ Myung-jun ngẩng đầu lên, nhìn vào trần lều căng phẳng phía trên.
한층 가락을 낮춘 목소리로 혼잣말 외듯 나직이 말할 것이다.
→ Với giọng nói trầm xuống như lẩm bẩm một mình, anh nói khẽ:
“중립국.”
→ “Nước trung lập.”
설득자는 손에 들었던 연필 꼭지로 테이블을 툭 치면서 곁에 앉은 미군을 돌아볼 것이다.
→ Người thuyết phục gõ nhẹ đầu bút chì xuống bàn rồi quay sang nhìn viên lính Mỹ ngồi bên cạnh.
미군은 어깨를 nhún và nháy mắt cười.
→ Người lính Mỹ nhún vai rồi nháy mắt cười.
나오는 문 앞에서 서기의 책상 위에 놓인 명부에 이름을 적고 천막을 나서자, 그는 마치 재채기를 참았던 사람처럼 몸을 벌떡 뒤로 젖히면서 마음껏 웃음을 터뜨렸다.
→ Khi ghi tên vào danh sách trên bàn của viên thư ký trước cửa rồi bước ra khỏi lều, anh đột ngột ngả người ra sau như người vừa nhịn hắt hơi và bật cười sảng khoái.
눈물이 찔끔찔끔 번지고, 침이 걸려서 캑캑거리면서도 그의 웃음은 멎지 않았다.
→ Nước mắt rịn ra, cổ họng nghẹn lại khiến anh ho sặc sụa, nhưng tiếng cười vẫn không dừng.
Đoạn suy tư của 이명준
준다고 바다를 마실 수는 없는 일. 사람이 마시기는 한 사발의 물.
→ Cho dù có được ban tặng cả đại dương, con người cũng không thể uống hết; thứ con người có thể uống chỉ là một bát nước.
준다는 것도 허황하고 가지거니 함도 철없는 일.
→ Việc “ban cho” cũng là ảo tưởng, mà việc “nhận lấy” cũng là ngây thơ.
바다와 한잔의 물. 그 사이에 놓인 골짜기와 눈물과 땀과 피. 그것을 셈할 줄 모르는 데 잘못이 있었다.
→ Giữa đại dương và một chén nước là cả vực sâu của nước mắt, mồ hôi và máu — sai lầm là ở chỗ người ta không biết tính đến điều đó.
세상에서 뒤진 가난한 땅에 자란 지식 노동자의 슬픈 환상.
→ Đó là ảo tưởng buồn bã của một trí thức lớn lên trên mảnh đất nghèo nàn và lạc hậu.
과학을 믿은 게 아니라 무술을 믿었던 게지.
→ Không phải là tin vào khoa học, mà là đã tin vào phép thuật.
바다를 한잔의 영생수로 바꿔 준다는 마술사의 말을.
→ Tin vào lời của ảo thuật gia hứa rằng sẽ biến cả đại dương thành một chén nước trường sinh.
그들은 뻔히 알면서 권력이라는 약을 팔려고 말로 속인 꼬임을.
→ Họ biết rõ điều đó, nhưng vẫn dùng lời nói để lừa gạt, nhằm bán thứ thuốc mang tên quyền lực.
어리석게 신비한 술잔을 찾아 나섰다가, 낌새를 차리고 항구를 돌아보자, 그들은 항구를 차지하고 움직이지 않고 있었다.
→ Những kẻ ngây thơ lên đường tìm chiếc chén thần bí; khi nhận ra và quay lại bến cảng, thì bến cảng đã bị họ chiếm giữ và không còn lối quay về.
참을 알고 돌아온 바다의 난파자들을 그들은 감옥에 가둘 것이다. 못된 균을 옮기지 않기 위해서.
→ Những người đắm tàu trở về sau khi hiểu ra sự thật sẽ bị họ nhốt vào tù, để không lây lan “mầm bệnh nguy hiểm”.
역사는 소걸음으로 움직인다.
→ Lịch sử tiến lên bằng những bước chậm chạp như bước chân bò.
사람의 커다란 모순과 업(業)에 비기면, 아무 자국도 못 낸 것이나 마찬가지다.
→ So với những mâu thuẫn và nghiệp lực lớn của con người, nó hầu như chẳng để lại dấu vết gì.
당대까지 사람이 만들어 낸 물질 생산의 수확을 고르게 나누는 것만이 모든 시대에 두루 맞는 가능한 일이다.
→ Điều duy nhất có thể thực hiện trong mọi thời đại là phân chia công bằng những thành quả vật chất mà con người đã tạo ra.
마찬가지 아닌가. 벌써 아득한 옛날부터 사람 동네가 알아낸 슬기.
→ Điều đó chẳng phải từ lâu con người đã biết rồi sao.
사람이라는 조건에서 비롯하는 슬픔과 기쁨을 고루 나누는 것.
→ Chia sẻ đều những nỗi buồn và niềm vui bắt nguồn từ thân phận con người.
그래 봐야, 사람의 조건이 아직도 풀어 나가야 할 어려움의 크기에 대면, 아무것도 아니다.
→ Nhưng ngay cả như thế cũng chẳng là gì trước những khó khăn to lớn mà con người vẫn còn phải giải quyết.
사람이 이루어 놓은 것에 눈을 돌리지 않고 이루어야 할 것에만 눈을 돌리면 그 자리에서 그는 삶의 힘을 잃는다.
→ Nếu chỉ nhìn vào những điều chưa đạt được mà không nhìn vào những gì đã đạt được, con người sẽ mất đi sức sống ngay tại chỗ.
사람이 풀어야 할 일을 한눈에 보여 주는 것 — 그것이 ‘죽음’이다.
→ Thứ cho con người thấy toàn bộ những vấn đề chưa giải quyết chính là cái chết.
은혜의 죽음을 당했을 때, 이명준 배에서는 마지막 돛대가 부러진 셈이다.
→ Khi “cái chết ân huệ” ập đến, con thuyền của Myung-jun coi như chiếc cột buồm cuối cùng đã gãy.
이제 이루어 놓은 것에 눈을 돌리면서 살 수 있는 힘이 남아 있지 않다.
→ Giờ đây anh không còn sức để sống mà nhìn vào những gì đã đạt được nữa.
팔자소관으로 빨리 늙는 사람도 있는 법이었다.
→ Có những người già đi quá sớm bởi số phận.
사람마다 다르게 마련된 몸의 길, 마음의 길, 무리의 길.
→ Mỗi con người đều có con đường của thân thể, của tâm hồn và của cộng đồng khác nhau.
대일 언덕 없는 난파꾼은 항구를 잊어버리기로 하고 물결 따라 나선다.
→ Người thủy thủ đắm tàu không còn bến đỗ quyết định quên cảng và trôi theo sóng nước.
환상의 술에 취해 보지 못한 섬에 닿기를 바라며.
→ Hy vọng trong cơn say ảo tưởng sẽ cập bến một hòn đảo chưa từng thấy.
그리고 그 섬에서 환상 없는 삶을 살기 위해서.
→ Và ở hòn đảo đó sẽ sống một cuộc đời không còn ảo tưởng.
무서운 것을 너무 빨리 본 탓으로 지쳐 빠진 몸이 자연의 수명을 다하기를 기다리면서 쉬기 위해서.
→ Để cơ thể đã kiệt sức vì nhìn thấy quá sớm những điều khủng khiếp được nghỉ ngơi cho đến khi hết tuổi thọ tự nhiên.
그렇게 해서 결정한, 중립국 행이었다.
→ Và vì thế, anh đã quyết định đi đến một quốc gia trung lập.
중립국. 아무도 나를 아는 사람이 없는 땅.
→ Một quốc gia trung lập. Một vùng đất nơi không ai biết tôi.
하루 종일 거리를 싸다닌대도 어깨 한 번 치는 사람이 없는 거리.
→ Dù tôi có lang thang ngoài đường suốt cả ngày cũng không có ai vô tình chạm vai tôi.
내가 어떤 사람이었던 지도 모를뿐더러 알려고 하는 사람도 없다.
→ Không ai biết tôi từng là người như thế nào, và cũng chẳng có ai muốn biết.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823









