DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN “만무방“ KHÔNG SAO CẢ Kim Yu-jeong (Phần 2)

TRƯỜNG HÀN NGỮ VIỆT HÀN KANATA

BAN BIÊN TẬP TÀI LIỆU

DỊCH SONG NGỮ TRUYỆN NGẮN “만무방“

KHÔNG SAO CẢ

Kim Yu-jeong

(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)

TTS Vũ Thị Ngọc Anh – CSTT Kanata Thủ Đức

 

251. 저도모르게 대뜸 주먹뺨이 들어갔던 것이다. Và không kìm được mà vung tay tát ngay.

252. 이렇게 문제 중에 있는 벼인데 귀신의 놀음 같은 변괴가 생겼다. Giữa lúc rắc rối như vậy thì xảy ra chuyện kỳ quái như ma làm.

253. 다시 말하면 벼가 없어졌다. Nói cách khác, lúa đã biến mất.

254. 그것도 병들어 쓰러진 쭉정이는 제쳐 놓고 Lại còn bỏ lại những bông lép, hư hỏng,

255. 무얼로 그랬는지 알장 이삭만 따갔다. Không biết bằng cách nào mà chỉ lấy đi những bông chắc hạt.

256. 그 면적으로 어림하면 아마 못 돼도 한 댓 말 가량은 될는지! Tính ra chắc cũng phải mất đến vài đấu lúa!

257. 응칠이가 아침 일찍이 그 논께로 노닐자 이걸 발견하고 기가 막혔다. Sáng sớm Eungchil ra ruộng và phát hiện ra chuyện này, hắn sững sờ.

258. 누굴 성가시게 굴려고 그러는지. Không biết kẻ nào cố tình gây rắc rối.

259. 산속에 파묻힌 논이라 아직은 본 사람이 없는 모양 같다. Vì ruộng nằm sâu trong núi nên có vẻ chưa ai phát hiện.

260. 하나 동리에 이 소문이 퍼지기만 하면 Nhưng nếu tin này lan ra làng,

261. 저는 어느 모로든 혐의를 받아 폐는 좋이 입어야 될 것이다. Thì hắn chắc chắn sẽ bị nghi ngờ và chịu thiệt hại.

262. 응칠이는 송이도 송이려니와 실상은 궁리에 바빴다. Eungchil tuy đang hái nấm nhưng thực ra đầu óc bận suy tính.

263. 속중으로 지목 갈 만한 놈을 여럿 들어 보았으나 Trong lòng hắn nghĩ đến vài kẻ đáng nghi,

264. 이렇다 찍을 만한 증거가 없다. Nhưng không có bằng chứng rõ ràng.

265. 어쩌면 재성이나 성팔이 이 둘 중의 짓이리라, Có lẽ là Jaeseong hoặc Seongpal làm,

266. 하고 결국 이렇게 생각던 것도 응칠이가 아니면 안 될 것이다. Và cuối cùng chỉ có hắn nghĩ theo hướng đó.

267. 원수는 외나무다리에서 만났다. Kẻ thù gặp nhau trên chiếc cầu độc mộc.

268. 응칠이는 저의 짐작이 들어맞음을 알고 Eungchil biết phỏng đoán của mình có thể đúng,

269. 당장에 일을 낼 듯이 성팔이의 눈을 들이 노렸다. Liền trừng mắt nhìn Seongpal như muốn gây chuyện ngay.

270. 성팔이는 신이 나서 떠들다가 그 눈총에 어이가 질려서 고만 벙벙하였다. Seongpal đang nói hăng thì bị ánh mắt đó làm cho bối rối.

271. 그리고 얼굴이 핼쑥하여 마주 대고 쳐다보더니, Mặt tái đi, nhìn lại,

272. “그래, 자네 왜 그케 노하나. 지내다 보니깐 그렇길래 일테면 자네보고 얘기지 뭐.” “Sao anh lại giận vậy? Tôi chỉ tiện nói với anh thôi mà.”

273. 하고 뒷갈망을 못 하여 우물쭈물한다. Nói lúng túng không trọn câu.

274. “노하긴 누가 노해!” “Ai mà giận chứ!”

275. 응칠이는 뻐팅겼던 몸에 좀더 힘을 올리며, Eungchil càng gồng người lên,

276. “응고개를 어째 갔더냐 말이지?” “Sao anh lại đến Eunggogae?”

277. “놀러 갔다 오는 길인데 우연히……” “Chỉ là tiện đi chơi thôi…”

278. “놀러 갔다, 거기가 노는 덴가?” “Đi chơi? Chỗ đó để chơi à?”

279. “글쎄, 그렇게까지 물을 게 뭔가. 난 응고개 아니라 서울은 못 갈 사람인가.” “Sao phải hỏi kỹ thế? Không lẽ tôi không được đi Eunggogae hay Seoul sao?”

280. 하다가 성팔이는 속이 타는지 코로 후응 하고 날숨을 길게 뽑는다. Nói rồi Seongpal thở dài nặng nề.

281. 이렇게 나오는 데는 더 물을 필요가 없었다. Nghe vậy thì không cần hỏi thêm nữa.

282. 성팔이란 놈도 여간내기가 아니요 Seongpal cũng không phải dạng vừa,

283. 구장네 솥인가 뭔가 떼다 먹고 한 번 다녀온 놈이었다. Từng ăn trộm đồ và bị bắt một lần.

284. 많이 사귀지는 못했으나 동리 평판이 Dù không thân lắm nhưng tiếng xấu trong làng,

285. 그놈과 같이 다니다가는 엉뚱한 일 만난다 한다. Là ai đi với hắn cũng gặp chuyện rắc rối.

 

286. 이번에 응칠이 저 역시 그 섭수에 걸렸음을 알고, Lần này Eungchil cũng biết mình bị dính vào chuyện đó,

287. “그야 응고개라고 못 갈 리 없을 테……” “Ừ thì đâu phải không đi được Eunggogae…”

288. 하고 한 번 엇먹다, Nói nửa chừng rồi ngập ngừng,

289. 그러나 자네두 알다시피 거 어디야, “Nhưng anh cũng biết đó là chỗ nào,

290. 거기 바로 길이 있다든지 사람 사는 동리라면 혹 모른다 하지마는 Nếu là nơi có đường hay có người ở thì còn hiểu,

291. 성한 사람이야 응고개에 뭘 먹으러 가나, Người bình thường ai lại đến đó làm gì,

292. 그렇지 자네야 심심하니까,” Trừ khi anh rảnh rỗi thôi,”

293. 하고 앞을 꽉 눌러 등을 떠본다. Nói vậy để dò xét phản ứng.

294. 여기에는 대답 없고 성팔이는 덤덤히 쳐다만 본다. Seongpal không trả lời, chỉ nhìn trơ trơ.

295. 무엇을 생각했는가 한참 있더니 Nghĩ một lúc,

296. 호주머니에서 단풍갑을 꺼낸다. Rồi lấy bao thuốc ra.

297. 우선 제가 한 개를 물고 또 하나를 뽑아 내대며, Tự hút một điếu rồi đưa thêm một điếu,

298. “궐련 하나 피우게.” “Hút điếu thuốc đi.”

299. 매우 듬직한 낯을 해보인다. Làm ra vẻ bình thản.

300. 이놈이 이에 밝기가 몹시 밝은 성팔이다. Thằng này là Seongpal, kẻ cực kỳ ranh mãnh trong chuyện lợi hại.

301. 턱없이 궐련 하나라도 선심을 쓸 궐자가 아니리라, 생각은 하였으나 Nghĩ rằng hắn không phải loại rộng rãi đến mức cho không một điếu thuốc,

302. 그렇다고 예까지 부르대는 건 도리어 저의 처지가 불리하다. Nhưng nếu từ chối đến mức đó thì lại bất lợi cho mình.

303. 그것은 짜장 그 손에 넘는 짓이니, Vì đó là việc vượt quá khả năng của mình,

304. “아 웬 궐련은 이래.” “Ơ, sao lại cho thuốc thế này?”

305. 하고 슬쩍 눙치며, Nói lảng đi,

306. “성냥 있겠나?” “Có diêm không?”

307. 일부러 불까지 거 대게 하였다. Còn cố ý để hắn châm lửa giúp.

308. 응칠이에게 액을 떠넘기어 이용하려는 고 야심을 생각하면 Nghĩ đến âm mưu muốn đổ tội cho mình của hắn,

309. 곧 달려들어 다리를 꺾어 놔야 옳을 것이다. Lẽ ra phải lao vào bẻ gãy chân hắn ngay.

310. 그러나 이 마당에 떠들어 대고 보면 저는 드러누워 침뱉기. Nhưng làm ầm lên lúc này chẳng khác nào tự chuốc họa.

311. 결국 도적은 뒤로 잡지 앞에서 어르는 법이 아니다. Trộm thì phải bắt phía sau, không thể đối đầu trực diện.

312. 동리에 소문이 퍼질 것만 두려워하며, Chỉ lo tin đồn lan ra làng,

313. “여보게, 자네가 했건 내가 했건 간.” “Này, dù là anh hay tôi làm,”

314. 하고 과연 정다이 그 등을 툭 치고 나서, Vừa nói vừa vỗ nhẹ lưng hắn,

315. “우리 둘만 알고 동리에 말을 내지 말게.” “Chỉ hai ta biết thôi, đừng nói ra làng.”

316. 하다가 성팔이가 이 말에 되우 놀라며 눈을 말똥말똥 뜨니, Nghe vậy Seongpal ngạc nhiên mở to mắt,

317. “그까진 벼쯤 먹으면 어떤가!” “Có ăn chút lúa đó thì sao!”

318. 하고 껄껄 웃어 버린다. Rồi cười ha hả.

319. 성팔이는 한 굽 접히어 말문이 메였는지 Seongpal như bị dồn thế bí,

320. 얼떨하여 입맛만 다신다. Chỉ biết lúng túng liếm môi.

321. “아예 말은 내지 말게, 응 알지.” “Nhớ đừng nói ra nhé, hiểu chưa.”

322. 하고 다시 다질 때에야 겨우 주저주저 입을 열어, Đến khi bị dặn lại, hắn mới ấp úng mở miệng,

323. “내야 무슨 말을 내겠나.” “Tôi thì nói gì được chứ.”

324. 하고 조금 사이를 떼어 또, Rồi ngập ngừng thêm,

325. “내야 무슨 말을…… 그건 염려 말게.” “Tôi đâu có nói gì… anh đừng lo.”

326. 하더니 비실비실 몸을 돌리어 저 갈 길을 내걷는다. Nói rồi quay người lảo đảo bước đi.

327. 그러나 저 앞 고개까지 가는 동안에 Nhưng trên đường lên đồi phía trước,

328. 두번이나 돌아다보며 이쪽을 살피고 살피고 한 것만은 사실이었다. Hắn đã hai lần quay lại nhìn dò xét.

329. 응칠이는 그 꼴을 이윽히 바라보고 입 안으로 죽일 놈, 하였다. Eungchil nhìn theo và lẩm bẩm: “Đồ đáng chết.”

330. 아무리 도적이라도 같은 동료에게 제 죄를 넘겨씌우려 함은 도저히 의리가 아니다. Dù là trộm cũng không thể đổ tội cho đồng bọn như vậy.

331. 그건 그렇다 치고 응오가 더 딱하지 않은가. Nhưng đáng thương hơn là Eungo.

332. 기껏 힘들여 지어 놓았다 남 좋은 일 한 것을 안다면 눈이 뒤집힐 일이겠다. Nếu biết công sức mình làm lại bị người khác hưởng thì chắc phát điên.

333. 이래서야 어디 이웃을 믿어 보겠는가. Thế này thì còn tin ai được nữa.

334. 확적히 증거만 있어 이놈을 잡으면 대번에 요절을 내리라 결심하고 Quyết rằng chỉ cần có chứng cứ là sẽ trừng trị hắn ngay,

335. 응칠이는 침을 탁 뱉어던지고 산을 내려온다. Eungchil nhổ nước bọt rồi xuống núi.

336. 그런데 그놈의 행티로 가늠 보면 Nhưng nhìn cách làm của kẻ đó,

337. 응칠이 저만치는 때가 못 벗은 도적이다. Cũng chỉ là hạng trộm non tay như Eungchil trước kia.

338. 어느 미친놈이 논두렁에까지 가새를 들고 오는가. Kẻ điên nào lại mang kéo ra tận bờ ruộng?

339. 격식도 모르는 풋둥이가 그러려면 Nếu là kẻ non nớt không biết cách,

340. 바로 조 낟가리나 수수 낟가리 말이지 Thì phải vào đống kê hoặc cao lương,

341. 그 속에 들어앉아 가위로 속닥거려야 들킬 리도 없고 Ngồi trong đó cắt thì không bị phát hiện,

342. 일도 편하고 두 포대고 세 포대고 마음껏 딸 수도 있다. Lại còn dễ dàng lấy được hai ba bao.

343. 그러나 틈 보고 집으로 나르면 그만이지만 Rồi chỉ cần chờ lúc thích hợp mang về nhà,

344. 누가 논의 벼를 다…… Chứ ai lại đi cắt lúa ngoài ruộng…

345. 그렇게도 벼에 걸신이 들었다면 Nếu thèm lúa đến vậy,

346. 바로 남의 집 머슴으로 들어가 Thì đi làm thuê cho người ta,

347. 한 달포 동안 주인 앞에 얼렁거리며 신용을 얻어 오다가 Lấy lòng chủ trong một tháng,

348. 주는 옷이나 얻어입고 다들 잠들거든 Lấy được chút quần áo rồi đợi mọi người ngủ,

349. 볏섬이나 두둑이 짊어메고 덜렁거리면 그뿐이다. Vác bao lúa đi là xong.

350. 이건 맥도 모르는 게 남도 못살게 굴려고 에이 망할자식두…… Cái này đến bản thân nó còn không hiểu mà lại còn muốn làm khổ người khác, cái thằng chết tiệt này…

351. 그는 분노에 살이 다 부들부들 떨리는 듯싶었다. Hắn dường như run bần bật vì tức giận.

352. 그러나 이런 좀도적이란 봉이 나기 전에는 바짝 물고 덤비는 법이었다. Nhưng loại trộm vặt như thế này thường trước khi bị bắt thì lại càng liều lĩnh lao vào.

353. 오늘 밤에는 요놈을 지켰다 꼭 붙들어 가지고 정강이를 분질러 놓으리라. Tối nay phải canh chừng tên này, bắt cho bằng được rồi đánh gãy ống chân nó.

354. 밥을 먹고는 태연히 막걸리 한 사발을 껄떡껄떡 들이켜자, Ăn cơm xong, hắn thản nhiên tu ừng ực một bát rượu makgeolli,

355. “커! 가을이 되니깐 맛이 행결 낫군!” “Khà! Đến mùa thu rồi nên vị ngon hơn hẳn!”

356. 그는 주먹으로 입가를 쓱쓱 훔친 다음 송이 꾸럼에서 세 개를 뽑는다. Hắn dùng nắm tay quệt miệng rồi lấy ra ba cây nấm tùng nhung từ túi.

357. 그리고 그걸 갈퀴같이 마른 주막 할머니 손에 내어 주며, Rồi đưa chúng vào bàn tay khô gầy như cái cào của bà lão quán rượu,

358. “엣수, 송이나 잡숫게유.” “Này, bà ăn nấm đi.”

359. 하고 술값을 치렀으나, Nói vậy rồi trả tiền rượu,

360. “아이, 송이두 고놈 참.” “Ôi chà, nấm này thì…”

361. 간사를 피우는 것이 겉으로는 반기는 척하면서도 좀 시쁜 모양이다. Bà ta tỏ vẻ giả lả, ngoài mặt như vui nhưng trông cũng có vẻ không hài lòng.

362. 제딴은 한 개에 삼 전씩 치더라도 구 전밖에 안 되니깐. Dù có tính mỗi cái ba xu thì cũng chỉ được chín xu thôi.

363. 응칠이는 슬며시 화가 나서 그 얼굴을 유심히 들여다보았다. Ứng Chil hơi bực mình nên nhìn kỹ khuôn mặt bà.

364. 움푹 들어간 볼때기에 저건 또 왜 저리 멋없이 불거졌는지 툭 나온 광대뼈하고 Đôi má hóp vào, xương gò má lồi ra một cách xấu xí,

365. 치마 아래로 남실거리는 발가락은 자칫 잘못 보면 황새 발목이니 Những ngón chân lộ ra dưới váy nhìn qua còn tưởng là chân cò,

366. 이건 언제 잡아 가려고 남겨 두는 거야― Không biết giữ lại thế này để làm gì nữa—

367. 보면 볼수록 하나 이쁜 데가 없다. Càng nhìn càng chẳng có điểm nào đẹp.

368. 한두 번 먹은 것도 아니요 Đâu phải chỉ ăn một hai lần,

369. 언젠가 울타리께 풀을 베어 주고 술사발이나 얻어먹은 적도 있었다. Trước đây còn từng giúp cắt cỏ hàng rào rồi được đãi rượu nữa.

370. 고렇게 야멸치게 따질 건 뭔가. Vậy mà cần gì phải tính toán keo kiệt như thế.

371. 그는 눈살을 흘깃 맞히고는 하나를 더 꺼내어, Hắn chau mày rồi lấy thêm một cái nữa,

372. “옜수, 또 하나 잡숫게유!” “Này, ăn thêm cái nữa đi!”

373. 내던져 주곤 댓돌에 가래침을 탁 뱉었다. Ném cho bà rồi khạc một bãi đờm xuống bậc cửa.

374. 그제야 식성이 좀 풀리는지 그 가축으로 웃으며, Lúc đó bà mới có vẻ dễ chịu hơn, cười giả lả,

375. “아이구 이거 자꾸 주면 어떻게 해.” “Ôi trời, cứ cho thế này thì sao được.”

376. “어떡하긴 자꾸 살찌게유.” “Thì làm bà béo lên chứ sao.”

377. 하고 한마디 툭 쏘고 일어서다가 Nói xẵng một câu rồi đứng dậy,

378. 무엇을 생각함인지 다시 툇마루에 주저앉는다. Nhưng như nhớ ra điều gì, hắn lại ngồi phịch xuống hiên.

379. “그런데 참 요즘 성팔이 보셨수?” “Mà dạo này bà có thấy Seong-pal không?”

380. “아니, 당최 볼 수가 없더구먼.” “Không, chẳng thấy đâu cả.”

381. “술도 안 먹으러 와유?” “Nó cũng không đến uống rượu à?”

382. “안 와!” “Không đến!”

383. 하고는 입 속으로 뭐라고 중얼거리며 의아한 낯을 들더니, Bà lẩm bẩm gì đó rồi ngẩng lên với vẻ khó hiểu,

384. “왜, 또 뭐 일이……?” “Sao, lại có chuyện gì à…?”

385. “아니유, 본 지가 하 오래니깐!” “Không, chỉ là lâu rồi không thấy thôi!”

386. 응칠이는 말끝을 얼버무리고 고개를 돌리어 한데를 바라본다. Ứng Chil nói lấp lửng rồi quay đầu nhìn về một phía.

387. 벌써 점심때가 되었는지 닭들이 요란히 울어 댄다. Có lẽ đã đến trưa nên lũ gà kêu inh ỏi.

388. 논둑의 미루나무는 부 하고 또 부 하고 잎이 날리며 팔랑팔랑 하늘로 올라간다. Cây dương bên bờ ruộng thổi “phù phù”, lá bay phấp phới lên trời.

389. “성팔이가 이 마을에서 얼마나 살았지요?” “Seong-pal sống ở làng này được bao lâu rồi nhỉ?”

390. “글쎄, 재작년 가을이지 아마.” “Ừm, chắc là từ mùa thu năm kia.”

391. 하고 장죽을 빡빡 빨더니, Nói rồi bà rít mạnh điếu thuốc dài.

392. 근대 또 떠난대든가, 홍천인가 어디 즈 성님한테로 간대.” “Nghe đâu bảo lại sắp đi tiếp, đi đến chỗ anh trai ở Hongcheon hay đâu đó.”

393. 하고 그게 옳지, 여기서 뭘 하느냐, 대장간이라구 일이나 많으면 모르거니와 밤낮 파리만날리는데 그보다는 즈 형이 크게 농사를 짓는다니 그 뒤나 거들어 주고 국으로 얻어먹는게 신상에 편하겠지. Anh ta nghĩ bụng thế cũng đúng, ở đây làm gì cho cam, tiệm rèn nếu nhiều việc thì không nói, đằng này ngày đêm vắng như chùa bà đanh, thà rằng đến giúp việc đồng áng cho anh trai đang làm nông lớn rồi cứ thế mà ăn bám có khi lại thong thả cái thân hơn.

394. 그래 불일간 처자식을 데리고 아마 떠나리라고 하고, “농군은 그저 농사를 지야 돼.” Thế là nghe bảo nội trong vài ngày tới anh ta sẽ dắt díu vợ con ra đi, anh bồi thêm: “Làm nông thì cứ phải bám lấy ruộng vườn thôi.”

395. “낼 술 먹으러 또 오지유.” 간단히 인사만 하고 응칠이는 다시 일어났다. “Mai tôi lại ghé uống rượu nhé.” Eung-chil chào ngắn gọn rồi đứng dậy.

396. 주막을 나서니 옷깃을 스치는 개운한 바람이다. Vừa bước ra khỏi quán trọ, một luồng gió mát rượi lướt qua cổ áo.

397. 밭 둔덕의 대추는 척척 늘어진다. Những quả táo tàu trên bờ ruộng trĩu xuống từng chùm.

398. 멀지 않아 겨울은 또 오렷다. Chẳng mấy chốc mà mùa đông lại về.

399. 그는 응오의 집을 바라보며 그간 죽었는지 궁금하였다. Anh nhìn về phía nhà Eung-o, tự hỏi không biết người kia (vợ Eung-o) đã chết chưa.

400. 응오는 봉당에 걸터앉았다. 그 앞 화로에는 약이 바글바글 끓는다. Eung-o đang ngồi bệt trên nền đất hiên nhà, trước mặt anh ta, siêu thuốc đang sôi sùng sục trên lò than.

401. 그는 정신없이 들여다보고 앉았다. Anh ta ngồi thẫn thờ nhìn chằm chằm vào đó.

402. 우중충한 방에서는 아내의 가쁜 숨소리가 들린다. Từ trong căn phòng u tối, tiếng thở dốc của người vợ vọng ra.

403. 색, 색 하다가 아이구, 하고는 까무러지게 콜록거린다. Tiếng thở khò khè rồi lại rên rỉ “Ái chà”, sau đó là những cơn ho sặc sụa như muốn đứt hơi.

404. 가래가 치밀어 몹시 괴로운 모양. Có vẻ như đờm kéo lên khiến cô ấy vô cùng khổ sở.

405. 뽑아 줄 사이가 없이 풀들은 뜰에 엉켰다. Cỏ dại mọc um tùm ngoài sân mà chẳng ai buồn nhổ.

406. 흙이 드러난 지붕에서 망초가 휘어청휘어청 바람은 가끔 찾아와 싸리문을 흔든다. Trên mái nhà trơ cả đất, những cây cỏ mang-cho lả lướt theo làn gió thỉnh thoảng lại ùa về rung lắc cánh cổng tre.

407. 그럴 적마다 문은 을씨년스럽게 삐―꺽 삐―꺽. Mỗi lần như thế, cánh cửa lại phát ra tiếng kêu “kẽo kẹt, kẽo kẹt” nghe thật ảm đạm.

408. 이웃의 발발이는 부엌에서 한창 바쁘게 달그락거린다. Con chó nhỏ nhà hàng xóm đang bận rộn lục lọi, gây ra những tiếng lạch cạch trong bếp.

409. 마는, 아침에 아내에게 먹이고 남은 조죽밖에야. Nhưng cũng chỉ có chút cháo kê còn sót lại sau khi cho người vợ ăn sáng thôi mà.

410. 아니 그것도 참 남편이 마저 긁었으니 사발에 붙은 찌꺼기뿐이리라. À không, ngay cả chỗ đó chắc anh chồng cũng đã vét sạch rồi, nên chắc chỉ còn lại vài vết dính bết bên thành bát.

411. “거, 다 졸았나 부다.” 응칠이는 약이란 다 졸면 못쓰니 고만 짜 먹여라 하였다. “Này, chắc sắc xong rồi đấy.” Eung-chil bảo hãy chắt ra mà cho uống đi, kẻo thuốc sắc cạn quá thì hỏng mất.

412. 약이라야 어젯저녁 울 뒤에서 옭아들인 구렁이지만. Gọi là thuốc cho oai, chứ thực chất chỉ là nước sắc từ con rắn hổ mang mà anh ta bẫy được sau hàng rào tối qua.

413. 그러나 응오는 듣고도 흘렸는지 혹은 못 들었는지 잠자코 고개도 안 든다. Nhưng Eung-o chẳng biết là nghe mà lờ đi hay không nghe thấy thật, cứ im lặng chẳng thèm ngẩng đầu lên.

414. “옜다, 송이 맛이나 봐라.” 하고 형이 손을 내밀 제야 겨우 시선을 들었으나 술이 거나한 그 얼굴을 거북살스레 훑어본다. “Này, nếm thử vị nấm tùng đi.” Đợi đến khi người anh chìa tay ra, Eung-o mới chịu ngước mắt lên nhìn, nhưng lại nhìn khuôn mặt đang ngà ngà say của anh mình một cách khó chịu.

415. 그리고 송이를 고맙지 않게 받아 방에 치뜨리고는, “이거나 먹어.” 하다가, “뭐?” 소리를 크게 질렀다. Rồi anh ta nhận lấy mấy cây nấm một cách không mấy cảm kích, ném vào trong phòng và nói “Ăn cái này đi,” rồi chợt quát lớn: “Cái gì?”.

416. 그래도 잘 들리지 않으므로, “뭐야 뭐야, 좀 똑똑히 하라니깐?” 하고 골피를 찌푸린다

Vì vẫn không nghe rõ tiếng vợ, anh ta nhíu mày gắt: “Cái gì, cái gì hả, bảo nói cho rõ ràng cơ mà?”.

417. 그러나 아내는 손짓만으로 무슨 소린지 알 수가 없다. Thế nhưng người vợ chỉ ra hiệu bằng tay, chẳng thể hiểu nổi cô ấy muốn nói gì.

418. 음성으로 치느니보다 종이 비비는 소리랄지, 그걸 듣기에는 지척도 멀었다. Tiếng nói của cô ấy còn nhỏ hơn cả tiếng giấy cọ vào nhau, dù ở ngay sát bên cũng khó lòng mà nghe thấy.

419. 가만히 보다 응칠이는 제가 다 불안하여, “뒤보겠다는 게 아니냐?” Quan sát nãy giờ, Eung-chil thấy sốt ruột thay nên hỏi: “Chẳng phải cô ấy muốn đi vệ sinh sao?”.

420. “그럼 그렇다 말이 있어야지.” 남편은 이내 짜증을 내며 몸을 일으킨다. “Thế thì cũng phải nói một tiếng chứ.” Anh chồng càu nhàu rồi đứng dậy.

421. 병약한 아내의 음성이 날로 변하여 감을 시방 안 것도 아니련만―—그는 방바닥에 늘어져 꼬치꼬치 마른 반 송장을 조심히 일으키어 등에 업었다. Dẫu biết rõ giọng nói của người vợ đau ốm đang yếu dần đi từng ngày — anh ta vẫn cẩn thận vực cái thân xác gầy gò héo hon như xác chết nằm trên sàn nhà lên rồi cõng trên lưng.

422. 울 밖 밭머리에 잿간은 놓였다. Nhà xí nằm ở đầu ruộng phía ngoài hàng rào.

423. 머리가 눌릴 만치 납작한 굴 속이다. Đó là một cái hốc thấp tè đến mức đụng đầu.

424. 게다 거미줄은 예제없이 엉키었다. Đã thế, mạng nhện còn giăng kín khắp nơi không chừa chỗ nào.

425. 부춛돌 위에 내려놓으니 아내는 벽을 의지하여 웅크리고 앉는다. Khi được đặt xuống phiến đá kê, người vợ tựa lưng vào tường rồi ngồi thụp xuống.

426. 그리고 남편은 눈을 멀뚱멀뚱 뜨고 지키고 섰는 것이다. Còn anh chồng thì đứng đó, mắt mở trừng trừng canh chừng.

427. 이 꼴들을 멀거니 바라보다 응칠이는 마뜩지 않게 코를 횡 풀며 입맛을 다시었다. Nhìn cảnh tượng đó, Eung-chil hỉ mũi một cái đầy khó chịu rồi chép miệng.

428. 응오의 짓이 어리석고 울화가 터져서이다. Đó là vì anh thấy cách hành xử của Eung-o thật ngu ngốc và khiến anh phát hỏa.

429. 요즘 응오가 형에게 잘 말도 않고 왜 어딱비딱하는지 그 속은 응칠이도 모르는 바 아닐 것이다. Dạo gần đây Eung-o chẳng mấy khi nói chuyện với anh mình mà cứ hay cáu kỉnh, lý do tại sao thì Eung-chil cũng không phải là không biết.

430. 응오가 이 아내를 찾아올 때 꼭 삼 년간을 머슴을 살았다. Để lấy được người vợ này, Eung-o đã phải đi làm thuê làm mướn suốt ba năm ròng.

431. 그처럼 먹고 싶던 술 한 잔 못 먹었고, 그처럼 침을 삼키던 그 개고기 한 메 물론 못 샀다. Một chén rượu thèm đến thế mà không dám uống, một miếng thịt chó ứa nước miếng cũng chẳng dám mua.

432. 그리고 사경을 받는 대로 꼭꼭 장리를 놓았으니 후일 선채로 썼던 것이다. Có bao nhiêu tiền công, anh ta đều đem cho vay lãi để dành dụm lo việc cưới hỏi sau này.

433. 이렇게까지 근사를 모아 얻은 계집이련만 단 두해가 못 가서 이 꼴이 되고 말았다.

Vất vả tích cóp mãi mới lấy được vợ, vậy mà chưa đầy hai năm cô ấy đã ra nông nỗi này.

434. 그러나 이 병이 무슨 병인지 도시 모른다. Thế nhưng chẳng ai biết rõ đó là bệnh gì.

435. 의원에게 한 번이라도 변변히 봬본 적이 없다. Chưa một lần nào cô ấy được thầy thuốc thăm khám tử tế.

436. 혹 안다는 사람의 말인즉 뇌점이니 어렵다 하였다. Có người biết chuyện thì bảo đó là bệnh lao, khó lòng mà chữa khỏi.

437. 돈만 있으면야 뇌점이고 염병이고 알바가 못 될 거로되 사날 전 거리로 쫓아 나오며, “성님!” 하고 팔을 챌 적에는 응오도 어지간히 급한 모양이었다. Nếu có tiền thì dù là lao hay dịch hạch cũng chẳng đáng lo, nhưng cái lúc Eung-o chạy ra đường chặn tay anh và gọi “Anh ơi!” cách đây ba bốn ngày, trông anh ta có vẻ đã khẩn thiết lắm rồi.

438. “왜?” 응칠이가 몸을 돌리니 허둥지둥 그 말이 이제는 별도리가 없다. “Gì thế?” Eung-chil quay lại thì thấy em mình lúng túng nói rằng giờ chẳng còn cách nào khác.

439. 있다면 꼭 한 가지가 남았으니 그것은 엊그저께 산신을 부리는 노인이 이 마을에 오지 않았는가. Nếu còn thì cũng chỉ còn một cách duy nhất, đó là nhờ cụ già thờ thần núi vừa mới đến làng hôm kia.

440. 그 노인이 응오를 특히 동정하여 십오 원만 들이어 산치성을 올리면 씻은 듯이 낫게 해주리라는데. Cụ già đó vì thương tình Eung-o nên bảo rằng nếu bỏ ra mười lăm won làm lễ cúng thần núi thì bệnh sẽ khỏi như chưa từng mắc phải.

441. “성님은 언제나 돈 만들 수 있지유?” “Anh lúc nào cũng có thể xoay được tiền mà đúng không?”

442. “거, 안 된다. 치성 들여 날 병이 안 낫겠니.” 하여 여전히 딱 떼고 그러게 내 뭐래든, 애전에 계집 다 내버리고 날 따라 나서랬지, 하고, “Cái đó không được đâu. Cúng bái mà khỏi được bệnh thì làm gì có người chết,” anh đã dứt khoát từ chối như thế, rồi bồi thêm: “Đã bảo rồi mà, thà bỏ vợ quách đi rồi đi theo anh từ sớm có phải hơn không.”

443. “그래 농군의 살림이란 제 목매기라지!” “Đúng là cái kiếp làm nông thì chỉ có tự thắt cổ mình thôi!”

444. 그러나 아우가 암말 없이 몸을 홱 돌리어 집으로 들어갈 제 응칠이는 속으로 또 괜한 소리를 했구나, 하였다. Thế nhưng khi thấy đứa em không nói không rằng quay ngoắt đi vào nhà, Eung-chil lại thầm nghĩ trong lòng rằng mình lại lỡ lời nói bậy rồi.

445. 응오는 도로 아내를 업어다 방에 뉘었다. Eung-o lại cõng vợ đặt nằm xuống phòng.

446. 약은 다 졸았다. 불이 삭기 전 짜야 할 것이다. Thuốc đã sắc xong, phải chắt ra trước khi lửa tàn.

447. 식기를 기다려 약사발을 입에 대어 주니 아내는 군말 없이 그 구렁이 물을 껄덕껄덕 들이마신다. Chờ cho thuốc nguội bớt, anh đưa bát thuốc lên miệng vợ, cô ấy chẳng nói lời nào, cứ thế uống ừng ực thứ nước nấu từ con rắn ấy.

448. 응칠이는 마당에 우두커니 앉았다. Eung-chil ngồi thẫn thờ giữa sân.

449. 사람의 목숨이란 과연 중하군 하였다. Anh tự nhủ mạng sống con người quả thực là quan trọng.

450. 그러나 계집이라는 저 물건이 저렇게 떼기 어렵도록 중할까, 하니 암만해도 알 수 없고. Thế nhưng cái thứ gọi là “vợ” kia, liệu có quan trọng đến mức khó dứt ra như thế không, anh suy nghĩ mãi mà vẫn không hiểu nổi.

451. “너 참 요 건너 성팔이 알지?” “……” “Này, chú có biết lão Seong-pal ở xóm bên không?” “…”

452. “너하고 친하냐?” “……” “Chú có thân với lão không?” “…”

453. “성이 뭐래는데 거 대답 좀 하렴.” 하고 소리를 빽 질러도 아우는 대답은 말고 고개도 안 든다. “Anh đang hỏi thì trả lời một tiếng xem nào,” anh quát to lên nhưng đứa em vẫn không đáp lời, cũng chẳng thèm ngẩng đầu lên.

454. 그러나 응칠이는 하늘을 쳐다보고 트림만 끄윽 하고 말았다. Rốt cuộc Eung-chil chỉ biết ngước nhìn lên trời rồi ợ lên một tiếng thật dài.

455. 술기가 코를 꽉꽉 찔러야 할 터인데 이건 풋김치 냄새만 코밑에서 뱅뱅 돈다. Đáng lẽ hơi rượu phải xộc lên mũi cho đã, đằng này chỉ thấy mùi kim chi sống cứ quẩn quanh đâu đây.

456. 공짜 김치만 퍼먹을 게 아니라 한 잔 더 했더면 좋았을걸. Biết thế đừng có ăn mót kim chi miễn phí mà uống thêm chén nữa thì có phải tốt không.

457. 그는 일어서서 대를 허리에 꽂고 궁둥이의 흙을 털었다. Anh đứng dậy, giắt cái tẩu vào thắt lưng rồi phủi bụi trên mông.

458. 벼 도둑맞은 이야기를 할까, 하다가 아서라 가 Anh định kể chuyện bị mất trộm lúa, nhưng rồi lại thôi, định đi…

459. 뜩이나 울상이 속이 쓰릴 것이다. Chắc hẳn cái vẻ mặt mếu máo ấy đang cảm thấy đau xót trong lòng lắm.

460. 그보다는 이놈을 잡아 놓고 낭중 희자를 뽑는 것이 점잔하겠지. Thay vì thế, thà cứ bắt sống tên trộm này rồi tính chuyện hưởng lợi sau thì có vẻ đàng hoàng hơn.

461. 그는 문 밖으로 나와 버렸다. Anh ta bước thẳng ra ngoài cửa.

462. 답답한 아우의 살림을 보니 역 답답하던 제 살림이 연상되고 가슴이 두루 답답하였다. Nhìn cảnh ngộ bí bách của đứa em, anh lại liên tưởng đến gia cảnh túng quẫn của chính mình nên lòng dạ càng thêm nặng nề, khó thở.

463. 이런 때에는 무가 십상이다. Những lúc thế này thì ăn củ cải là nhất.

464. 사실 하느님이 무를 마련해 낸 것은 참으로 은혜로운 일이다. Thật sự việc ông Trời tạo ra củ cải là một ân huệ lớn lao.

465. 맥맥할 때 한 개를 씹고 보면 꿀꺽 하고, 쿡 치는 그 맛이 좋고, 남의 무밭에 들어가 하나를 쑥 뽑으니 가락 무. Khi lòng dạ bí bách mà nhai một miếng rồi nuốt ực vào, cái vị cay nồng xộc lên thật là khoái, anh lẻn vào ruộng củ cải nhà người ta nhổ phắt một cái, được ngay một củ cải dài.

466. 이―키, 이거 오늘 운수 대통이로군. Ái chà, xem ra hôm nay vận may lớn rồi đây.

467. 내던지고 그 다음 놈을 뽑아 들고 개울로 내려온다. Anh vứt củ đó đi, nhổ thêm một củ khác rồi đi xuống phía con suối.

468. 물에 쓱쓰윽 닦아서는 꽁지는 이로 베어 던지고 어썩 깨물어 붙인다. Anh rửa sạch củ cải trong nước, dùng răng cắn đứt phần đuôi vứt đi rồi nhai ngấu nghiến.

469. 개울 둔덕에 포플러는 호젓하게도 매출히 컸다. Trên bờ suối, những cây dương liễu mọc cao vút một cách đơn độc.

470. 자갈돌은 그 밑에 옹기종기 모였다. Những viên đá cuội nằm tụm năm tụm ba ngay dưới gốc cây.

471. 가생이로 잔디가 소보록하다. Cỏ dại mọc lưa thưa ven bờ.

472. 응칠이는 나가자빠져 마을을 건너다보며 눈을 멀뚱멀뚱 굴리고 누웠다. Eung-chil nằm vật ra, đảo mắt nhìn trân trân về phía ngôi làng đối diện.

473. 산이 뺑뺑 둘리어 숨이 콕 막힐 듯한 그 마을. Ngôi làng ấy bị núi bao quanh tứ phía, ngột ngạt đến mức tưởng như nghẹt thở.

474. 아리랑 아리랑 아라리요 / 아리랑 띄어라 노다 가세 Arirang, Arirang, Arariyo / Hãy cùng chèo lái con thuyền Arirang đi chơi nào.

475. 증기차는 가자고 왼고동 트는데 / 정든 님 품 안고 낙누낙누 Tiếng còi tàu hỏa rú lên giục giã khởi hành / Nhưng ta vẫn quyến luyến trong vòng tay người thương.

476. 아리랑 아리랑 아라리요 / 아리랑 띄어라 노다 가세 Arirang, Arirang, Arariyo / Hãy cùng chèo lái con thuyền Arirang đi chơi nào.

477. 낼 갈지 모래 갈지 내 모르는데 / 옥씨기 강낭이는 심어 뭐 하리 Chẳng biết ngày mai hay ngày kia sẽ phải ra đi / Gieo hạt ngô, hạt bắp để làm chi đây.

478. 아리랑 아리랑 아라리요 / 아리랑 띄어라……. Arirang, Arirang, Arariyo / Hãy cùng chèo lái con thuyền Arirang…

479. 그는 콧노래로 이렇게 흥얼거리다 갑작스레 강릉이 그리웠다. Đang nghêu ngao hát thầm như thế, anh chợt thấy nhớ vùng Gangneung da diết.

480. 펄펄 뛰는 생선이 좋고, 아침 햇살이 빗기어 힘차게 출렁거리는 그 물결이 좋고. Anh nhớ những con cá tươi rói nhảy tanh tách, nhớ những con sóng cuộn trào mạnh mẽ dưới ánh nắng ban mai rực rỡ.

481. 이까짓 둠 구석에서 쪼들리는 데 대다니. Thật chẳng thể so sánh được với cái xó xỉnh túng quẫn này.

482. 그래도 즈이딴엔 무어 농사 좀 지었답시고 악을 복복 쓰며 잘도 떠들어 댄다. Thế mà lũ người ở đây vẫn cứ vênh vang, gào thét rùm beng như thể mình đã làm nên chuyện đại sự với mấy vụ mùa ít ỏi.

483. 하지만 그런 중에도 어디인가 형언치 못할 쓸쓸함이 떠돌지 않는 것도 아니다. Tuy nhiên, trong cái không khí ấy, không phải là không có một nỗi hiu quạnh khó tả đang lẩn khuất đâu đó.

484. 삼십여 년 전 술을 빚어 놓고 쇠를 울리고 흥에 질리어 어깨춤을 덩실거리고 이러던 가을과는 저 딴쪽이다. Nó khác hẳn với những mùa thu của ba mươi năm về trước, cái thời người ta ủ rượu, gõ nhịp và say sưa nhảy múa trong niềm hân hoan.

485. 가을이 오면 기쁨에 넘쳐야 될 시골이 점점 살기만 띠어 옴은 웬일인고. Chẳng hiểu sao cái làng quê vốn phải tràn ngập niềm vui mỗi khi thu về, giờ đây lại ngày càng sặc mùi sát khí.

486. 이렇게 보면 재작년 가을 어느 밤 산중에서 낫으로 사람을 찍어 죽인 강도가 문득 머리에 떠오른다. Nghĩ đến đây, anh chợt nhớ đến tên cướp đã dùng liềm sát hại người khác trong rừng vào một đêm mùa thu năm kia.

487. 장을 보고 오는 농군을 농군이 죽였다. Kẻ sát nhân cũng là nông dân, đã giết chết một người nông dân khác đang trên đường đi chợ về.

488. 그것도 많이나 되었으면 모르되 빼앗은 것이 한껏 동전 네 닢에 수수 일곱 되, 게다가 흔적이 탄로날까 하여 낫으로 그 얼굴의 껍질을 벗기고 조깃대강이 이기듯 끔찍하게 남기고 조긴 망나니다. Nếu cướp được nhiều thì đã đành, đằng này thứ hắn lấy được chỉ vỏn vẹn bốn

đồng xu và bảy đấu cao lương, vậy mà vì sợ lộ dấu vết, tên đồ tể ấy đã dùng liềm lột da mặt nạn nhân, để lại một cái xác nát bét kinh hoàng như đầu cá đù bị giã nhỏ.

489. 흉악한 자식. Đúng là đồ hung ác.

490. 그 알량한 돈 사 전에, 나 같으면 가여워 덧돈을 주고라도 왔으리라. Chỉ vì mấy đồng xu lẻ ấy, nếu là tôi, tôi đã thấy thương mà cho thêm tiền rồi mới đi.

491. 이번 놈은 그 따위 깍다귀나 아닐는지 할 때 찬 김과 아울러 치미는 소름에 머리끝이 다 쭈뼛하였다. Khi nghĩ rằng tên trộm lần này không biết có phải là hạng côn đồ như thế không, một luồng khí lạnh cùng nỗi rùng mình ập đến khiến tóc gáy anh dựng đứng cả lên.

492. 그간 아우의 농사를 대신 돌봐 주기에 이럭저럭 날이 늦었다. Mải giúp đứa em lo việc đồng áng mà trời đã tối muộn từ lúc nào chẳng hay.

493. 오늘 밤에는 이놈을 다리를 꺾어 놓고 내일쯤은 봐서 설렁설렁 뜨는 것이 옳은 일이겠다. Đêm nay nhất định phải bẻ gãy chân thằng này, rồi ngày mai xem tình hình thế nào mà lững thững rời đi là vừa.

494. 이 산을 넘을까 저 산을 넘을까 주저거리며 속으로 점을 치다가 슬그머니 코를 골아 올린다. Anh cứ băn khoăn tự hỏi nên vượt ngọn núi này hay ngọn núi kia, rồi cứ thế lịm đi và bắt đầu ngáy khò khò.

495. 밤이 내리니 만물은 고요히 잠이 든다. Đêm xuống, vạn vật chìm vào giấc ngủ tĩnh lặng.

496. 검푸른 하늘에 산봉우리는 울퉁불퉁 물결을 치고 흐릿한 눈으로 별은 떴다.

Trên bầu trời xanh thẫm, những đỉnh núi nhấp nhô như sóng lượn, và những ngôi sao hiện ra với ánh nhìn mờ đục.

497. 그러다 구름떼가 몰려닥치면 깜깜한 절벽이 된다. Rồi khi những đám mây kéo đến, mọi thứ lại trở thành một vực thẳm đen kịt.

498. 또한 마을 한복판에는 거친 바람이 오락가락 쓸쓸히 궁글고 이따금 코를 찌르는 후련한 산사 내음새. Giữa lòng làng, những cơn gió thô ráp thổi qua thổi lại đầy hiu quạnh, thỉnh thoảng lại có mùi hương thanh khiết từ ngôi chùa trên núi xộc vào mũi.

499. 북쪽 산밑 미루나무에 싸여 주막이 있는데 유달리 불이 반짝인다. Dưới chân núi phía Bắc, ẩn mình trong rặng dương liễu là một quán trọ, nơi có ánh lửa lấp lánh lạ thường.

500. 노세, 노세, 젊어서 놀아. Chơi đi, chơi đi, trẻ không chơi già hối hận.

 

📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:

– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749

– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730

– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749

– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049

– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP. Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264

– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931

– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418

– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lệ, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165

– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418

– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823

Đánh giá post này
Từ điển
Từ điển
Facebook
Zalo