DỊCH SONG NGỮ TIỂU THUYẾT
무진기행 – 김승옥
HÀNH TRÌNH ĐẾN MUJIN – KIM SEUNG-OK
(Tài liệu sử dụng công nghệ biên dịch, chỉ có giá trị tham khảo, mọi hướng dẫn học tập cần có sự liên kết cùng với giảng viên của trường Hàn ngữ Việt Hàn Kanata tại www.kanata.edu.vn)
TTS Đàng Thị Thúy Nga – CSTT Kanata Thủ Đức
버스가 산모퉁이를 돌아갈 때 나는 <무진 Mujin 10km>라는 이정비(127모)를 보았다.
→ Khi chiếc xe buýt rẽ qua khúc quanh của sườn núi, tôi nhìn thấy một tấm biển chỉ đường ghi dòng chữ “Mujin 10km”.
그 것은 옛날과 똑같은 모습으로 길가의 잡초 속에서 튀어나와 있었다.
→ Tấm biển ấy vẫn giữ nguyên dáng vẻ như ngày trước, nhô lên giữa đám cỏ dại bên lề đường.
내 뒷좌석에 앉아 있는 사람들 사 이에서 다시 시작된 대화를 나는 돌었다.
→ Tôi nghe thấy cuộc trò chuyện đang được tiếp tục giữa những người ngồi ở hàng ghế phía sau mình.
“앞으로 십킬로 남았군요.”
→ “Phía trước còn khoảng mười ki-lô-mét nữa.”
“예, 한 삼십분 후에 도착할 겁니다.”
→ “Vâng, có lẽ khoảng ba mươi phút nữa thì sẽ đến nơi.”
그들은 농사 관계의 시찰원들인 듯했다.
→ Họ dường như là những thanh tra (người đi thị sát) liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp.
아니 그렇지 않은 지도 모른다.
→ Nhưng cũng có thể không phải như vậy.
그러나 하여튼 그 들은 색 무늬 있는 반소매 셔츠를 입고 있었고 데드롱직(1)의 바지를 입었고 지나쳐오는 마을과 들과 산에서 아마 농사 관계의 전문가들이 아니면 할 수 없는 관찰을 했고 그것을 전문적인 용이로 얘기하고 있었다.
→ Dẫu sao thì họ mặc những chiếc áo sơ mi ngắn tay có hoa văn và quần vải dày, đồng thời khi đi ngang qua các làng mạc, cánh đồng và núi đồi, họ đã đưa ra những nhận xét mà có lẽ chỉ những chuyên gia trong lĩnh vực nông nghiệp mới có thể thực hiện, rồi bàn luận về chúng bằng những thuật ngữ mang tính chuyên môn.
광주()EW)에서 기차를 내려서 버스로 갈아탄 이래, 나는 그들이 시골사람들답지 않게 앉은 목소리로 점을 면서 얘기하는 것을 반수면(HWE)상 태 속에서 듣고 있었다.
→ Kể từ khi xuống tàu hỏa ở Gwangju và chuyển sang đi xe buýt, tôi đã nghe họ trò chuyện bằng giọng trầm, điềm đạm – không giống cách nói chuyện của người nông thôn – trong trạng thái nửa tỉnh nửa ngủ.
버스 안의 좌석들은 많이 비어 있었다.
→ Bên trong xe buýt còn khá nhiều ghế trống
그 시찰원들의 대화에 의하 면 농번기이기 때문에 사람들이 여행을 할 틈이 없어서라는 것이었다.
→ Theo lời trò chuyện của những người thị sát ấy, bởi đang là mùa nông vụ bận rộn nên người ta không có thời gian để đi lại hay du lịch.
“무진엔 명산물이…뭐 별로 없지요?” 그들은 대화를 계속하고 있었다.
→ “Ở Mujin… hình như cũng không có đặc sản gì đáng kể, phải không?”
Họ vẫn tiếp tục cuộc trò chuyện của mình.
“별께 없지요. 그러면서도 그렇게 많은 사람들이 살고 있다는 건 좀 이상스럽거든요.”
→ “Đúng vậy, hầu như chẳng có gì đặc biệt. Thế mà lại có nhiều người sinh sống ở đó như vậy, quả thật cũng hơi kỳ lạ.”
“바다가 가까이 있으니 구로 발전할 수도 있었을 텐데요?” “가 보시면 아시겠지만 그런 조건이 되어 있는 것도 아닙니다.
→ “Nhưng nếu ông đến đó rồi sẽ hiểu, thực ra nơi ấy cũng không có những điều kiện thuận lợi như vậy.”
수심(:)이 안은데다가 그런 양은 바다를 몇 배리나 밤으로 나가야만 비로소 수평선이 보이는 진짜 바다다운 바다가 나오는 곳이니까요.”
→ Bởi vì nước biển ở đó khá nông, hơn nữa phải ra khơi xa vài hải lý mới có thể nhìn thấy đường chân trời và mới thực sự gặp được một vùng biển đúng nghĩa.
“그럼 역시 농촌이군요.”
→ “Vậy thì rốt cuộc vẫn là một vùng nông thôn nhỉ.”
“그렇지만 이렇다 할 평야가 있는 것도 아닙니다.”
→ “Nhưng cũng không hẳn là nơi có những đồng bằng rộng lớn đáng kể.”
그림 그 오류만이 되는 인구가 어떻게 돌 살아가나요?”
→ “Vậy thì với số dân đông như vậy, họ sống bằng cách nào?”
→ “Chính vì thế mới có cái gọi là ‘sống tạm qua ngày’ đó thôi.”
그러니까 그럭저럭 이란 말이 있는 게 아닙니까?” 그들은 점잖게 소리내어 웃었다.
→ “Chính vì thế mới có cái gọi là ‘sống tạm qua ngày’ đó thôi.” Họ khẽ bật cười một cách điềm đạm.
“원, 아무리 그렇지만 한 고장에 명산물 하나쯤은 있어야지.” 웃음 끝에 한 사람이 말하고 있었다.
→ “Dẫu sao đi nữa, một vùng đất ít ra cũng phải có lấy một đặc sản chứ.” Một người nói như vậy sau tràng cười..
무진에 명산물이 없는 게 아니다.
→ Không phải Mujin không có đặc sản.
나는 그것이 무엇인지 알고 있다. 그것은 안개다.
→ Tôi biết đó là thứ gì. Đó chính là sương mù.
아침에 잠자리에서 일어나서 밖으로 나오면, 밤사이에 진주해 온 석군들처럼 안개가 무진을 삥 러 싸고 있는 것이었다.
→ Mỗi buổi sáng, khi thức dậy và bước ra ngoài, tôi thấy sương mù đã kéo đến trong đêm và bao phủ Mujin tứ phía, giống như những đội quân xâm lấn âm thầm tiến vào trong đêm.
무진을 둘러싸고 있던 산들도 안개에 의하여 보이지 않는 먼 곳으 로 유배당해 버리고 없었다.
→ Những dãy núi vốn bao quanh Mujin cũng bị sương mù che khuất, như thể đã bị đày đi đến một nơi xa xăm không còn nhìn thấy nữa.
안개는 마치 이승에 한(W)이 있어서 매일 밤 찾아오는 여귀(k 법)가 뿜어내놓은 입김과 같았다.
→ Làn sương mù ấy giống như hơi thở mà một nữ quỷ mang nỗi oán hận nơi trần thế phả ra mỗi đêm khi trở về.
해가 떠오르고, 바람이 바다 쪽에서 방향을 바꾸어 불어오 기 전에는 사람들의 힘으로써는 그것을 헤쳐 버릴 수가 없었다.
→ Trước khi mặt trời mọc và làn gió đổi hướng thổi từ phía biển vào, con người hoàn toàn không thể dùng sức mình để xua tan được làn sương mù ấy.
손으로 잡을 수 없으면서도 그것은 뚜렷이 존재했고 사람들을 둘러쌌고 먼 곳에 있는 것으 로부터 사람들을 떼어놓았다.
→ Tuy không thể nắm bắt bằng tay, nhưng nó vẫn tồn tại một cách rõ ràng, bao bọc con người và tách họ ra khỏi những gì ở xa xôi.
안개, 무진의 안개, 무진의 아침에 사람들이 만나는 안개, 사람 들로 하여금 해를, 바람을 간절히 부르게 하는 무진의 안개, 그것이 무진의 명산물이 아닐 수 있을까! 버스의 덜커덩거림이 좀 해졌다.
→ Sương mù, làn sương mù của Mujin, làn sương mà con người bắt gặp vào mỗi buổi sáng ở Mujin, thứ khiến họ tha thiết mong chờ ánh mặt trời và làn gió—chẳng phải chính nó mới là đặc sản của Mujin hay sao!
버스의 덜커덩거림이 좀 해졌다.
→ Tiếng xóc nảy của chiếc xe buýt trở nên dữ dội hơn.
버스의 널커덩거림이 더하고 덜하는 것을 나 는 턱으로 느끼고 있었다.
→ Tôi cảm nhận rõ sự tăng giảm của những cú xóc ấy qua chính cằm của mình.
나는 몸에서 힘을 빼고 있었으므로 버스가 자같이 깔린 시골길을 달려오고 있는 동안 내 턱은 버스가 낑충거리는데 따라서 함께 덜그럭거리고 있었다.
→ Vì tôi buông lỏng toàn thân, nên khi chiếc xe buýt chạy trên con đường làng rải sỏi, cằm tôi cũng rung lên theo từng nhịp xóc của xe.
턱이 덜그럭거릴 정도로 몸에서 힘을 빼고 버스를 타고 있으면, 긴장해서 버스를 타고 있을 때 보다 피로가 더욱 심해진다는 것을 알고 있었지만
→ Tôi biết rằng, nếu buông lỏng cơ thể đến mức cằm rung lên như vậy khi ngồi xe, thì sự mệt mỏi sẽ còn nặng nề hơn so với khi giữ mình trong trạng thái căng thẳng,
그러나 열려진 차창으로 들어와서 나의 밖으로 드러난 살갗을 사정없이 간지럽히고 불어가는 유월의 바람이 나를 반수면상태로 끌 어넣었기 때문에 나는 힘을 주고 있을 수가 없었다.
→ nhưng làn gió tháng Sáu thổi vào qua khung cửa sổ mở, không ngừng mơn trớn làn da lộ ra bên ngoài của tôi, đã kéo tôi vào trạng thái nửa tỉnh nửa ngủ, khiến tôi không thể nào giữ được sự căng cứng của cơ thể.
바람은 무수히 작은 입자(Mf)로 되어 있고 그 입자들은 할 수 있는 한, 욕심껏 수면제를 품고 있는 것처럼 내게는 생각되었다.
→ Làn gió dường như được cấu thành từ vô số hạt nhỏ li ti, và đối với tôi, những hạt ấy như đang chứa đựng, một cách tham lam hết mức có thể, một thứ thuốc ngủ.
그 바람 속에는, 신선한 햇볕과 아직 사람들의 땀에 밴 살갗을 스쳐보지 않았다는 천진스러운 저온(AE), 그리고 지금 버스가 달리고 있는 길을 에워싸며 버스를 향하여 달려오고 있는 산줄기의 저핀에 바다가 있다는 것을 알리는 소금 기, 그런 것들이 이상스레 한데 어울리면서 녹아 있었다.
→ Trong làn gió ấy hòa quyện một cách kỳ lạ: ánh nắng tươi mới, cái lạnh trong trẻo như chưa từng chạm qua làn da thấm mồ hôi của con người, cùng với vị mặn báo hiệu sự hiện diện của biển phía sau những dãy núi đang vươn mình ôm lấy con đường nơi chiếc xe buýt đang lao tới—tất cả dường như tan vào nhau.
햇볕의 신선한 밝음과 살갗에 탄력 을 주는 정도의 공기의 저온, 그리고 해풍(해피)에 섞여 있는 정도의 소금기, 이 세 가지만 합성해서 수면제를 만들어 낼 수 있다면 그것은 이 지상(19.1:)에 있는 모든 약방의 진열장 안에 있는 어띠한 약보다도 가장 상쾌한 약이 될 것이고 그리고 나는 이 세계에서 가장 돈 잘 버는 제약회사의 전무님이 될 것이다.
→ Nếu có thể kết hợp ba yếu tố này—sự tươi sáng trong lành của ánh nắng, cái lạnh của không khí đủ để làm căng da, và vị mặn hòa trong gió biển—để tạo ra một thứ thuốc ngủ, thì đó hẳn sẽ là loại thuốc sảng khoái nhất trong tất cả các loại thuốc được bày bán tại mọi hiệu thuốc trên cõi đời này; và khi ấy, có lẽ tôi sẽ trở thành một giám đốc điều hành của công ty dược phẩm kiếm tiền giỏi nhất thế giới.
왜냐하면 사람들은 누구나 조용히 잠들고 싶어하 고 조용히 잠든다는 것은 상쾌한 일이기 때문이다.
→ Bởi lẽ, ai cũng mong muốn được chìm vào giấc ngủ một cách yên bình, và việc ngủ yên như thế vốn là một điều dễ chịu.
그런 생각을 하지 나는 쓴웃음이 나 왔다.
→ Nghĩ đến đó, tôi bất giác nở một nụ cười chua chát.
동시에 무진이 가까웠다는 것이 더욱 실감되었다.
→ Đồng thời, tôi càng cảm nhận rõ hơn rằng Mujin đã ở rất gần.
무진에 오기만 하면 내가 하는 생각 이란 항상 그렇게 엉뚱한 공상들이었고 뒤죽박죽이었던 것이다.
→ Mỗi khi đến Mujin, những suy nghĩ của tôi luôn trở nên kỳ quặc, viển vông và rối ren như thế.
다른 어느 곳에서도 하지 않았던 엉뚱한 생각을, 나는 무진에서는 아무런 부끄럼없이, 거침 없이 해내곤 했었던 것이다.
→ Ở Mujin, tôi thường không chút e ngại hay xấu hổ mà buông mình vào những ý nghĩ viển vông—những ý nghĩ mà ở bất cứ nơi nào khác tôi chưa từng nghĩ tới.
아니 무진에서는 내가 무엇을 생각하고 어쩌고 하는 게 아니라 어떤 생각들이 나의 밖에서 제멋대로 이루어진 뒤 나의 머릿속으로 밀고 들어오는 듯했었 다.
→ Không, ở Mujin, không phải là tôi chủ động suy nghĩ điều gì, mà dường như những ý nghĩ ấy tự hình thành ở bên ngoài tôi, rồi tự do xông vào trong tâm trí tôi.
“당신 안색이 아주 나빠져서 큰일났어요. 어머님의 산소에 다녀온 다는 핑계를 대고 무진 에 며칠 동안 계시다가 오세요.
→ “Sắc mặt anh trông rất tệ, thật đáng lo. Anh hãy lấy cớ đi thăm mộ mẹ rồi ở lại Mujin vài ngày.”
주주총회에서의 일은 아버지하고 저하고 다 꾸며 놓을께요.
→ “Chuyện ở đại hội cổ đông thì ba và em sẽ lo liệu ổn thỏa.”
당신 은 오랜만에 신선한 공기를 쐬고 그리고 돌아와보면 대회생 제약회사의 전무님이 되어 있을 게 아니에요?”
→ “Anh chỉ cần hít thở không khí trong lành một thời gian, rồi khi quay về, chẳng phải anh sẽ trở thành giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Daeseong đó sao?”
라고 며칠 전날밤, 아내가 나의 파자마깃을 손가락으로 만지작거리며 나에게 진심에서 나온 권유를 했을 때도,
→ Vào đêm vài ngày trước, khi vợ tôi vừa nghịch nhẹ cổ áo pijama của tôi bằng đầu ngón tay, vừa đưa ra lời khuyên chân thành như vậy,
가기 싫은 심부름을 억지로 갈 때 아이들이 불평을 하듯이 내가 및 마디 입안엣 소리로 투덜댄 것도,
→ thì tôi cũng đã lẩm bẩm vài lời than phiền trong miệng, giống như một đứa trẻ miễn cưỡng đi làm việc vặt mà mình không muốn,
무진에서는 항상 자신을 상실하지 않을 수 없었던 과거의 경험 에 의한 조건반사였었다.
→ tất cả những điều đó đều chỉ là một phản xạ có điều kiện, bắt nguồn từ những trải nghiệm trong quá khứ nơi mà mỗi khi đến Mujin, tôi không thể không đánh mất chính mình.
내가 좀 나이가 든 뒤로 무진에 간 것은 몇 차례 되지 않았지만 그 몇 차례 되지 않은 무 진행이 그러나 그때마다 내게는 서울에서의 실패로부터 도망해야 할 때거나 하여튼 무언가 새울발이 필요 할 때였었다.
→ Từ khi đã có tuổi hơn, số lần tôi đến Mujin không nhiều; thế nhưng, mỗi lần hiếm hoi ấy đều là khi tôi cần phải trốn chạy khỏi những thất bại ở Seoul, hoặc nói cách khác, là khi tôi cần một sự khởi đầu mới.
새출발이 필요할 때 무진으로 간나는 그것은 우연이 결코 아니 었고 그렇다고 무진에 가면 내게 새로운 용기라든가 새로운 계획이 술술 나오기 때문도 아 니었었다.
→ Việc tôi tìm đến Mujin mỗi khi cần một khởi đầu mới tuyệt nhiên không phải là ngẫu nhiên nhưng cũng không phải vì ở đó tôi có thể dễ dàng có được những dũng khí hay kế hoạch mới.
오히려 무진에서의 나는 항상 처박혀 있는 상태였었다.
→ Trái lại, ở Mujin, tôi luôn ở trong trạng thái thu mình, vùi lấp.
더러운 옷차림과 누우런 얼굴로 나는 항상 골방 안에서 뒹굴었다.
→ Trong bộ dạng quần áo nhếch nhác và gương mặt vàng vọt, tôi thường lăn lóc trong căn phòng nhỏ chật hẹp.
내가 깨어 있을 때는 수없이 많은 시간의 대열이 멍하니 서 있는 나를 비웃으며 흘러가고 있었고, 내가 잠들어 있을 때는 긴 긴 악몽들이 거 꾸러져 있는 나에게 흑독한 채씩질을 하였었다.
→ Khi tôi còn thức, dòng chảy vô tận của thời gian dường như trôi qua, chế giễu tôi—kẻ đứng lặng một cách vô hồn.
나의 무진에 대한 연상의 대부분은 나를 돌봐 주고 있는 노인들에 대하여 신경질을 부리던 것과 골방 안에서의 공상과 불면(7곳)을 쫓아 보려고 행하던 수음(58)과 곧잘 편도선을 붓게 하던 독한 담배꽁초와 우편배달부를 기다리던 초조함 따위거나 그것들에 관련된 어떤 행위들이었었다.
→ Phần lớn những liên tưởng của tôi về Mujin là những ký ức như: sự cáu kỉnh của tôi đối với những người già đang chăm sóc mình; những cơn mộng tưởng trong căn phòng nhỏ; hành vi tự thỏa nhằm xua đi chứng mất ngủ; những đầu thuốc lá nặng khiến cổ họng tôi thường xuyên sưng tấy; nỗi sốt ruột khi chờ người đưa thư—cùng những hành vi khác liên quan đến tất cả những điều ấy.
물론 그것들만 연상되었던 것은 아니다.
→ Dĩ nhiên, những điều ấy không phải là tất cả những gì tôi liên tưởng.
서울의 어느 거리에서고 나의 청각 이 문득 외부로 향하면 무자비하게 쏟아져 들어오는 소음에 비틀거릴 때거나,
→ Khi ở một con phố nào đó của Seoul, thính giác của tôi bất chợt hướng ra bên ngoài và bị chao đảo bởi những âm thanh ập đến một cách tàn nhẫn,
밤늦게 신당동(#보기) 집앞의 포장된 골목을 자동차로 올라갈 때,
→ hay khi vào đêm khuya, tôi lái xe đi lên con hẻm đã được trải nhựa trước nhà ở Sindang-dong,
나는 물이 가득한 강물이 흐르고, 진 디로 덮인 방죽이 시오리 밖의 바닷가까지 뻗어 나가 있고, 작은 숲이 있고, 다리가 많고, 골목이 많고, 흙담이 많고, 높은 포플러가 에워싼 운동장을 가진 학교들이 있고, 바닷가에서 주워 온 까만 자갈이 깔린 뜰을 가진 사무소들이 있고, 대로 만든 와상(EALK)이 밤거리에 나 앉아 있는 시골을 생각했고 그것은 무진이었다.
→ tôi lại nghĩ về một miền quê nơi có dòng sông đầy nước chảy qua; những con đê phủ cỏ kéo dài tới tận bờ biển xa; những khu rừng nhỏ; nhiều cây cầu, nhiều con hẻm, nhiều bức tường đất; những ngôi trường có sân vận động được bao quanh bởi hàng cây dương cao; những công sở có sân lát đầy sỏi đen nhặt từ bờ biển; và những chiếc giường tre bày ra trên phố vào ban đêm—và nơi ấy chính là Mujin.
문득 한적(B)이 그리울 때도 나는 무진을 생각했었다.
→ Những lúc bất chợt khao khát sự tĩnh lặng, tôi cũng lại nghĩ đến Mujin.
그러나 그럴 때의 무진은 내가 관념 속에서 그리고 있는 어느 아늑한 장소일 뿐이지 거기엔 사람들이 살고 있지 않았다.
→ Nhưng Mujin khi ấy chỉ là một không gian ấm áp do tôi vẽ nên trong ý niệm, nơi không hề có bóng dáng con người sinh sống.
무진이라고 하면 그것에의 연상은 아무래도 어 둡던 나의 청년(급속)이었다.
→ Và mỗi khi nhắc đến Mujin, điều gợi lên trong tôi, suy cho cùng, vẫn là quãng thanh xuân u tối của chính mình.
그렇다고 무진에의 연상이 꼬리처럼 항상 나를 따라다녔다는 것은 아니다.
→ Tuy vậy, cũng không phải là những liên tưởng về Mujin luôn bám theo tôi như một cái bóng.차라리 나의 어 둡던 세월이 일단 지나가 버린 지금은 나는 거의 항상 무진을 잊고 있었던 편이다.
→ Trái lại, giờ đây khi quãng thời gian u tối ấy đã trôi qua, tôi gần như luôn sống trong trạng thái quên lãng Mujin.
어젯저 닉 서울역에서 기차를 탈 때에도, 물론 전송 나온 아내와 회사 직원 몇 사람에게 일러들 말 이 너무 많아서 거기에 정신이 쏠려 있던 탓도 있었겠지만, 하여튼 나는 무진에 대한 그 어 두운 기억들이 그다지 실감나게 되살아 오지는 않았다.
→ Ngay cả tối hôm qua, khi lên tàu ở ga Seoul—dĩ nhiên cũng vì tôi còn mải bận tâm đến vô số điều cần dặn dò với vợ và vài nhân viên công ty ra tiễn—dù sao đi nữa, những ký ức u tối về Mujin cũng không hiện về một cách rõ rệt.
그런데 오늘 이른 아침, 광주에서 기 차를 내려서 역구내(방PJ)를 빠져 나올 때 내가 본 한 미친 여자가 그 어두운 기억들을 홱 잡아 끌어당겨서 내 앞에 던져 주었다.
→ Thế nhưng sáng sớm hôm nay, khi xuống tàu ở Gwangju và bước ra khỏi khuôn viên nhà ga, một người phụ nữ điên mà tôi bắt gặp đã bất ngờ kéo giật những ký ức u tối ấy trở lại và ném chúng ngay trước mắt tôi.
그 미친 여자는 나일론의 치마 저고리를 맵시 있 게 입고 있었고 팔에는 시절에 맞추어 고른 듯한 핸드백도 걸치고 있었다.
→ Người phụ nữ điên ấy mặc một bộ váy áo bằng ni-lông khá gọn gàng, trên tay còn đeo một chiếc túi xách dường như được chọn lựa hợp thời.
얼굴도 예쁜 편 이고 화장이 화려했다.
→ Khuôn mặt bà ta cũng khá ưa nhìn, lớp trang điểm thì rực rỡ.
그 여자가 미친 사람이라는 것을 알 수 있는 것은 쉬임없이 굴리고 있는 눈동자와 그 여자를 에워싸고 서서 선 하품을 하며 그 여자를 놀려대고 있는 구두닦이 아이들 때문이었다.
→ Điều khiến người ta nhận ra bà ta là một kẻ mất trí chính là đôi mắt không ngừng đảo liên hồi, cùng với đám trẻ đánh giày đứng vây quanh, vừa ngáp ngắn ngáp dài một cách vô nghĩa vừa trêu chọc bà ta.
“공부를 많이 해서 돌아 버렸대.”
→ “Nghe nói vì học quá nhiều nên phát điên đấy.”
“아냐, 남자한테서 채여서야.”
→ “Không phải, là do bị đàn ông phụ bạc nên mới vậy.”
“저 여자 미국말도 참 잘한다. 물어 볼까?”
→ “Người phụ nữ kia còn nói tiếng Anh rất giỏi nữa. Hay là thử hỏi xem?”
아이들은 그런 얘기를 높은 목소리로 하고 있었다.
→ Bọn trẻ nói những lời như vậy với giọng lớn.
좀 나이가 든 여드름쟁이 구두닦이 하 나는 그 여자의 젖가슴을 손가락으로 집적거렸고 그럴 때마다 그 여자는 여전히 무표정한 얼굴로 비명만 지르고 있었다.
→ Một cậu bé đánh giày lớn tuổi hơn, với gương mặt đầy mụn, đã dùng ngón tay chạm vào ngực người phụ nữ ấy; và mỗi lần như vậy, người phụ nữ vẫn chỉ hét lên, khuôn mặt không hề biểu lộ cảm xúc.
그 여자의 비명이, 옛날 내가 무진의 골방 속에서 쓴 일기의 한 구절을 문득 생각 나게 한 것이었다.
→ Tiếng thét của người phụ nữ ấy bất chợt khiến tôi nhớ lại một đoạn trong cuốn nhật ký mà tôi đã viết từ thuở trước, trong căn phòng nhỏ ở Mujin.
그때는 어머니가 살아 계실 때였다.
→ Khi ấy, mẹ tôi vẫn còn sống.
6.25사년으로 대학의 강의가 중단되었기 때문에 서울을 떠나는 마지막 기차를 놓친 나는 서울에서 무진까지의 천여 리(TB)길을 발가락이 몇 번이고 부르터 지도록 걸어서 내려왔고,
→ Do chiến tranh Triều Tiên khiến việc giảng dạy ở đại học bị gián đoạn, tôi đã lỡ chuyến tàu cuối cùng rời Seoul, nên phải đi bộ suốt quãng đường hơn nghìn dặm từ Seoul về Mujin, đến mức các ngón chân phồng rộp nhiều lần.
어머니에 의해서 골방에 처박혀졌고 의용군의 정발 도 그후의 국군의 징병도 모두 기피해 버리고 있었었다.
→ Tôi bị mẹ ép ở lì trong căn phòng nhỏ, đồng thời trốn tránh cả việc bị trưng dụng vào lực lượng nghĩa quân lẫn nghĩa vụ quân sự của quân đội quốc gia sau đó.
내가 졸업한 무진의 중학교의 상급 반 학생들이 무명지(IE유))에 붕대를 감고 <이 몸이 죽어서 나라가 선다면·····.〉을 부르며 읍 광장에 서 있는 추력들로 행진해가 서 그 추력들에 올라타고 일선으로 떠날 때도 나는 골방 속에 쭈그리고 앉아서 그들의 행진이 집앞을 지나가는 소리를 듣고만 있었다.
→ Ngay cả khi những học sinh lớp trên của trường trung học ở Mujin—nơi tôi từng tốt nghiệp—quấn băng trắng trên cánh tay, vừa hát “Nếu thân này chết đi để đất nước được sống…”, vừa tiến ra quảng trường thị trấn, leo lên những chiếc xe tải và lên đường ra tiền tuyến, thì tôi vẫn chỉ co ro trong căn phòng nhỏ, lặng lẽ nghe tiếng đoàn người đi qua trước nhà.
전선이 북쪽으로 올라가고 대학이 강의를 시작했다는 소식이 들려 왔을 때도 나는 무진의 골방 속 에 숨어 있었다.
→ Ngay cả khi nghe tin chiến tuyến đã dời lên phía Bắc và các trường đại học bắt đầu giảng dạy trở lại, tôi vẫn ẩn mình trong căn phòng nhỏ ở Mujin.
모두가 나의 홀어머님 때문이었다.
→ Tất cả đều là vì người mẹ góa của tôi.
모두가 전쟁터로 몰려갈 때 나는 내 어 머니에게 몰려서 골방 속에 숨어서 수음을 하고 있었다.
→ Khi mọi người bị cuốn ra chiến trường, tôi lại bị mẹ dồn ép mà ẩn mình trong căn phòng nhỏ, sống trong những hành vi tự thỏa.
이웃집 젊은이의 전사 통지가 오면 어머니는 내가 무사한 것을 기뻐했고,
→ Mỗi khi có giấy báo tử của một thanh niên hàng xóm, mẹ tôi lại mừng vì tôi vẫn bình an.
이따금 일선의 친구에게서 군사우편이 오기라도 하면 나 몰래 그것을 찢어 버리곤 하였었다.
→ Thỉnh thoảng, nếu có thư quân sự gửi từ bạn bè nơi tiền tuyến, bà lại lén xé đi mà không cho tôi biết.
내가 골방보다는 전선을 택하고 싶어해 하는 것을 알고 있었기 때문이다.
→ Bởi bà biết rằng tôi muốn chọn ra tiền tuyến hơn là bị giam mình trong căn phòng nhỏ ấy. 그 무렵에 쓴 나의 일기장들은 그후에 태워 버려서 지금은 없지만, 모두가 스스로를 모밀하고 오욕(15k)을 웃으며 견디는 내용들이었다.
→ Những cuốn nhật ký tôi viết vào thời đó sau này đã bị đốt đi nên không còn nữa, nhưng nội dung của chúng đều là sự tự khinh miệt bản thân và chịu đựng nỗi nhục nhã trong cay đắng.
“어머니, 혹시 제가 지금 미친다면 대강 다음과 같은 원인들 때문일테니 그 점에 유의하셔서 저를 치료해 보십시오.”
→ “Mẹ ơi, nếu như bây giờ con phát điên, thì đại khái cũng là vì những nguyên nhân sau đây, xin mẹ lưu ý mà tìm cách chữa trị cho con…”
이러한 일기를 쓰던 때를, 이론 아침 역구내에서 본 미친 여자가 내 앞으로 끌어 당겨주었던 것이다.
→ Chính người phụ nữ điên mà tôi gặp vào sáng sớm trong khuôn viên nhà ga đã kéo những ký ức về quãng thời gian viết những dòng nhật ký ấy trở lại trước mắt tôi.
무진이 가까웠다는 것을 나는 그 미친 여자를 통하여 느꼈고 그리고 방 금 지나친 먼지를 둘러쓰고 잡초 속에서 튀어나와 있는 이정비를 통하여 실감했다.
→ Tôi cảm nhận được rằng Mujin đã ở rất gần thông qua hình ảnh người phụ nữ điên ấy, và càng nhận thức rõ điều đó khi nhìn thấy tấm biển chỉ đường vừa lướt qua—bị phủ đầy bụi, nhô lên giữa đám cỏ dại.
“이번에 자네가 전무가 되는 건 틀림없는거구, 그러니 자네 한 일주일 동안 시골에 내려가 서 긴장을 풀고 푹 쉬었다가 오게. 전무님이 되면 책임이 더 무거워질 테니 말야.”
→ “Lần này việc cậu trở thành giám đốc điều hành là điều chắc chắn, vì vậy hãy về quê khoảng một tuần để thư giãn và nghỉ ngơi cho thoải mái. Khi đã trở thành giám đốc, trách nhiệm sẽ nặng nề hơn nhiều.”
아내와 장인 영감은 자신들은 알지 못하는 사이에 팩 영리한 권유를 내게 한 셈이었다.
→ Vợ tôi và nhạc phụ, dù không hề nhận ra, đã vô tình đưa ra cho tôi một lời khuyên hết sức khôn ngoan.
내가 긴장 을 풀어버릴 수 있는, 아니 풀어 버릴 수밖에 없는 곳을 무진으로 정해준 것은 대단히 영리 한 짓이었다.
→ Việc họ chọn Mujin làm nơi để tôi có thể—hay đúng hơn là buộc phải—thả lỏng bản thân quả là một quyết định rất sáng suốt.
버스는 무진 음내로 들어서고 있었다.
→ Chiếc xe buýt đang tiến vào thị trấn Mujin.
기와 지붕들도 양철 지붕들도 초가 지붕 들도 유월 하순의 강렬한 햇볕을 받고 모두 은빛으로 번쩍이고 있었다.
→ Những mái ngói, mái tôn, và cả mái tranh đều phản chiếu ánh nắng gay gắt cuối tháng Sáu, lấp lánh ánh bạc.
철공소에서 들리는 쇠망치 두드리는 소리가 잠깐 버스로 달려들었다가 물러났다.
→ Tiếng búa sắt vang lên từ lò rèn thoáng chốc ùa vào xe rồi lại lùi xa.
어디선지 분뇨(35x)냄새가 새 어 들어왔고 병원 앞을 지날 때는 크레졸 냄새가 났고, 어느 상점의 스피커에서는 느려 빠 진 유행가가 흘러나왔다.
→ Từ đâu đó, mùi phân bốc vào; khi đi ngang qua bệnh viện thì thoảng mùi crezol; còn từ loa của một cửa hàng nào đó vang ra một khúc nhạc thịnh hành chậm rãi.
거리는 텅 비어 있었고 사람들은 처마 끝의 그늘에 쭈그리고 앉아 있었다.
→ Đường phố vắng tanh, người dân co mình ngồi dưới bóng râm nơi mái hiên.
어린아이들은 빨가벗고 기우뚱거리며 그늘 속을 걸어다니고 있었다.
→ Những đứa trẻ trần truồng lảo đảo bước đi trong bóng râm.
음의 포장된 광 장도 거의 텅 비어 있었다.
→ Quảng trường lát đá của thị trấn cũng gần như trống rỗng.
햇볕만이 눈부시게 그 광장 위에서 꿇고 있었고
→ Chỉ có ánh nắng chói chang đang đổ xuống quảng trường ấy,
그 눈부신 햇볕 속에서, 정적 속에서 개 두 마리가 혀를 빼물고 교미를 하고 있었다.
→ và trong ánh nắng chói lòa, giữa không gian tĩnh lặng, hai con chó đang giao phối, thè lưỡi ra.
저녁 식사를 하기 조금 전에 나는 낮잠에서 깨어나서 신문 지국(배차R)들이 몰려 있는 거리로 갔다.
→ Trước bữa tối không lâu, tôi thức dậy sau giấc ngủ trưa và đi đến con phố nơi các điểm phát hành báo tập trung.
이모님댁에서는 신문을 구독하고 있지 않았다.
→ Nhà dì tôi không đặt mua báo.
그렇지만 신문은, 도회인이 누 구나 그렇듯이 이제 내 생활의 일부로서 내 하루의 시작과 끝을 맡아보고 있었던 것이다.
→ Tuy vậy, cũng như bao người sống nơi đô thị, báo chí đã trở thành một phần trong đời sống của tôi, đảm nhiệm việc mở đầu và khép lại mỗi ngày.
내가 찾아간 신문 지국에 나는 이모님댁의 주소와 약도를 그려 주고 나왔다.
→ Tại điểm phát hành báo mà tôi ghé đến, tôi đã để lại địa chỉ và vẽ sơ đồ đường đi đến nhà dì, rồi rời đi.
밖으로 나올 때 나는 내 등뒤에서 지국 안에 있던 사람들이 그들끼리 무어라고 수군거리는 소리를 들었 다.
→ Khi bước ra ngoài, tôi nghe thấy phía sau lưng mình những người trong điểm báo thì thầm bàn tán với nhau điều gì đó.
아마 나를 알고 있는 사람들이었던 모양이다.
→ Có lẽ họ là những người đã nhận ra tôi.
“…그래애? 거만하게 생겼는데…”
→ “…Vậy sao? Trông có vẻ kiêu ngạo nhỉ…”
“출세했다지?”
→ “ Nghe nói đã thành đạt rồi mà”
“…옛날……폐병..”
→ “…Hồi trước… từng bị bệnh phổi…”
그런 속삭임속에서, 나는 밖으로 나오면서 은근히 한마디를 기다리고 있었다.
→ Giữa những lời thì thầm ấy, khi bước ra ngoài, tôi vẫn ngấm ngầm chờ đợi một câu nói.
그러나 결국 “안녕히 가십시오”는 나오지 않고 말았다.
→ Nhưng rốt cuộc, câu “Xin đi bình an” vẫn không được thốt ra.
그것이 서울과의 차이점이었다.
→ Đó chính là điểm khác biệt so với Seoul.
그들은 이제 점 점 수군거림의 소용들이 속으로 끌려 들어가고 있으리라.
→ Có lẽ giờ đây họ đang dần bị cuốn vào vòng xoáy của những lời xì xào ấy.
자기 자신조차 잊어버리면서, 나중 에 그 소용돌이 밖으로 내던져졌을 때 자기들이 느낄 공허감도 모른다는 듯이 수군거리고 또 수군거리고 있으리라.
→ Họ cứ thì thầm hết lần này đến lần khác, như thể không hề hay biết rằng rồi sẽ có lúc chính họ bị ném ra khỏi vòng xoáy ấy, và khi ấy sẽ phải đối diện với cảm giác trống rỗng—đến mức quên cả bản thân mình.
바다가 있는 쪽에서 바람이 불어오고 있었다.
→ Làn gió thổi đến từ phía có biển.
몇 시간 전에 버스에서 내릴 때보다 거리는 많이 번잡해졌다.
→ So với lúc tôi vừa xuống xe vài giờ trước, đường phố đã trở nên đông đúc hơn nhiều.
학생들이 학교에서 돌아오고 있었다.
→ Học sinh đang tan trường trở về.
그들은 책가방이 주체스러운 모양인 지 그것을 뱅뱅 돌리기도 하며 어깨 너머로 넘겨 들기도 하며 두손으로 꺼안기도 하며 혀끝 에 침으로써 방울을 만들어서 그것을 입바람으로 훅 불어날리곤 했다.
→ Có lẽ vì không biết xử trí thế nào với chiếc cặp sách của mình, họ khi thì xoay nó vòng vòng, khi thì vắt qua vai, khi thì ôm chặt bằng hai tay; thậm chí còn tạo những bong bóng nhỏ bằng nước bọt trên đầu lưỡi rồi thổi bay đi.
학교 선생들과 사무 소의 직원들도 달그락거리는 빈 도시락을 들고 죽 늘어져서 지나가고 있었다. → Các thầy giáo và nhân viên công sở cũng lững thững đi ngang qua, tay cầm những chiếc hộp cơm trống rỗng kêu lạch cạch.
그러자 나는 이 모든 것이 장난처럼 생각되었다.
→ Và rồi, tất cả những cảnh tượng ấy bỗng hiện lên trong tôi như một trò đùa.
학교에 다닌다는 것, 학생들을 가르친다는 것, 사무소에 출근했다가 퇴근한다는 이 모든 것 이 실없는 장난이라는 생각이 든 것이다.
→ Tôi chợt nghĩ rằng việc đi học, việc dạy học sinh, hay việc đến cơ quan rồi tan sở—tất cả những điều ấy đều chỉ là những trò vô nghĩa.
사람들이 거기에 매달려서 낑낑댄다는 것이 우습 게 생각되었다.
→ Việc con người bám víu vào đó và vật lộn vì chúng khiến tôi cảm thấy thật nực cười.
이모댁으로 돌아와서 저녁을 먹고 있을 때, 나는 방문을 받았다.
→ Khi trở về nhà dì và đang dùng bữa tối, tôi có khách đến thăm.
박(차)이라고 하는 무진중 학교의 내 몇 해 후배였다.
→ Đó là một người đàn em tên Park, học dưới tôi vài khóa ở trường trung học Mujin.
한 때 독서광(콤AE)이었던 나를 그 후배는 무척 존경하는 눈치였다.
→ Cậu ta dường như rất kính trọng tôi người từng là một kẻ say mê đọc sách.
그 는 학생 시대에 이른바 문학소년이었던 것이다.
→ Thời còn là học sinh, cậu ta được xem như một “thiếu niên văn chương”.
미국의 작가인 핏제랄드를 좋아한 다고 하는 그 후 배는 그러나 핏제랄드의 팬답지 않게 아주 암전하고 배사에 엄숙하였고 그 리고 가난하였다.
→ Người đàn em ấy nói rằng mình yêu thích nhà văn Mỹ F. Scott Fitzgerald, nhưng lại không giống một người hâm mộ Fitzgerald—cậu ta rất trầm lặng, nghiêm túc trong dáng vẻ, và sống trong cảnh nghèo túng.
“신문 지국에 있는 제 친구에게서 내려오셨다는 얘길 들었읍니다. 웬일이십니까?” 그는 정 말 반가워해 주었다.
→ “Tôi nghe từ một người bạn làm ở điểm phát hành báo rằng anh đã về đây. Có việc gì vậy ạ?” Cậu ta tỏ ra thật sự vui mừng khi gặp tôi.
“무진엔 왜 내가 못 올 덴가?” 그렇게 대답하며 나는 내 말투가 마음에 거슬렸다.
→ “Sao lại có chuyện tôi không thể đến Mujin chứ?” – tôi đáp lại như vậy, nhưng chính giọng điệu của mình lại khiến tôi khó chịu.
“너무 오랫동안 오시지 않았으니까 그러는거죠. 제가 군대에서 막 제대했을 때 오시고 이 번 이 처음이시니까 벌써.”
→ “Vì anh đã lâu lắm rồi không về đây mà. Lần trước anh về là lúc tôi vừa mới xuất ngũ, còn lần này là lần đầu kể từ đó, nên đã…”
“벌써 한 4년 되는군.”
→ “Vậy là đã khoảng 4 năm rồi nhỉ.”
4년 전 나는, 내가 경리(페)의 일을 보고 있던 제약회사가 좀더 큰 다른 회사와 합병되는 바람에 일자리를 잃고 무진으로 내려왔던 것이다.→ Bốn năm trước, công ty dược nơi tôi làm kế toán bị sáp nhập với một công ty lớn hơn, và tôi đã mất việc, rồi trở về Mujin.
아니 단지 일자리를 잃었다는 이유만으로 서울을 떠났던 것은 아니다.
→ Không phải chỉ vì mất việc mà tôi rời Seoul.
동거하고 있던 희(E)만 그대로 내 곁에 있어 주었던들 실의 (뜻 문)의 무진행은 없었으리라.
→ Nếu người con gái tên Hee – người từng sống chung với tôi – vẫn ở bên cạnh tôi, thì có lẽ đã không có chuyến trở về Mujin trong nỗi tuyệt vọng ấy.
“결혼하셨다더군요?” 박이 물었다.
→ “Tôi nghe nói anh đã kết hôn rồi phải không?” Park hỏi.
“直号,不过?”
“전 아직. 참, 좋은 데로 장가드셨다고들 하더군요.”
→ “Tôi thì vẫn chưa. À, tôi nghe nói anh cưới được một nơi rất tốt.”
“그래? 자넨 왜 여태 결혼하지 않고 있다 나? 자네 금년에 어떻게 되지?”
→ “Vậy à? Thế sao cậu đến giờ vẫn chưa kết hôn? Năm nay cậu bao nhiêu tuổi rồi?”
“스물아홉입니다.”
→ “Tôi 29 tuổi.”
“스물아홉이라. 아홉 수가 원래 사납다고 하데만, 금년엔 어떻게 해보지 그래?”
→ “29 à… Người ta nói năm tuổi có số 9 thường không may mắn, nhưng năm nay cậu thử tính chuyện gì đó đi chứ?”
“글쎄요.” 박은 소년처럼 머리를 긁었다.
→ “Cũng không biết nữa…” Park gãi đầu như một cậu thiếu niên.
4년 전이니까 그해의 내 나이가 스물아홉이었고, 희가 내 곁 에서 달아나 버릴 무렵에 지금 아내의 전남편이 죽었던 것이다.
→ Bốn năm trước, khi tôi cũng 29 tuổi, đúng vào lúc Hee rời bỏ tôi, thì người chồng trước của vợ tôi hiện tại đã qua đời.
“무슨 나쁜 일이 있었던 건 아니겠죠?” 옛날의 내 무진행의 내용을 다소 알고 있는 박은 그렇게 물었다.
→ “Không phải đã có chuyện gì không hay xảy ra chứ?” Park – người biết đôi chút về chuyến trở về Mujin trước đây của tôi hỏi vậy.
“응, 아마 승진이 될 모양인데 며칠 휴가를 얻었지.”
→ “Ừ, có lẽ tôi sắp được thăng chức, nên xin nghỉ phép vài ngày.”
“잘 되셨군요. 해방 후의 무진중학 출 신 중에선 형님이 제일 출세 하셨다고들 하고 있어요.”
→ “Tốt quá rồi. Sau giải phóng, trong số những người học ở trung học Mujin, ai cũng nói anh là người thành đạt nhất.”
“내가?” 나는 웃었다.
→ “Tôi sao?” – tôi bật cười.
“예, 형님하고 형님 동기(티W)중에서 조형(해모)하고요.”
→ “Vâng, cùng với anh Jo – bạn cùng khóa với anh.”
“조라니 나하고 친하게 지내던 애 말인가?”
→ “Jo à? Là cậu bạn từng thân với tôi đó sao?”
“예, 그 형이 재 작년엔가 고등고시에 패스해서 지금 여기 세무서장으로 있거든요.”
→ “Vâng, anh ấy đã đỗ kỳ thi cao cấp cách đây hai năm và hiện đang là trưởng cơ quan thuế ở đây.”
“아, 그 래?” “모르셨어요?”
→ “À, vậy à?” “Anh không biết sao?”
“서로 소식이 별로 없었지.
→ “Bọn tôi cũng không liên lạc gì nhiều.”
그애가 옛날엔 여기 세무서에서 직원으로 있었지, 아마?””에”
→ “Hình như trước đây cậu ta từng làm nhân viên ở cơ quan thuế này đúng không?”“Vâng.”
“그거 잘됐군. 오늘 저녁엔 그 친구에게나 가볼까?” 친구 조는 키가 작았고 살결이 검은 편이었다.
→ “Thế thì tốt quá. Tối nay tôi thử đến thăm cậu ấy xem sao.”
그래서 키가 크고 살견이 창백한 나에게 열 등감을 느낀다는 얘기를 내게 곧잘 했었다. <옛날에 손금이 나쁘다고 판단 받은 소년이 있 었다. 그 소년은 자기의 손톱으로 손바닥에 좋은 손금을 파가며 열심히 일했다. 드디어 그 소년은 성공해서 잘살았다.> 조는 이런 얘기에 가장 감격하는 친구였다.
(Đoạn hồi tưởng về Jo)
→ Người bạn Jo ấy thấp, da ngăm, nên thường nói với tôi – người cao và da tái – rằng cậu ta cảm thấy tự ti. Cậu ta rất xúc động trước những câu chuyện kiểu như:
“Một cậu bé bị xem là có đường chỉ tay xấu, đã tự dùng móng tay khắc lại đường chỉ tay tốt hơn và chăm chỉ sống. Cuối cùng cậu ta đã thành công.”
“참, 자넨 요즘 뭘하고 있나?”
→ “À mà, dạo này cậu làm gì?”
내가 박에게 물었다. 박은 얼굴을 붉히고 잠시 머뭇거리다가 모교에서 교편을 잡고 있다고, 그것이 무슨 잘못이라도 되는 것처럼 우물거리며 대답했다.
(Đoạn trả lời của Park)
→ Khi tôi hỏi, Park đỏ mặt, do dự một lúc rồi trả lời ấp úng như thể đó là điều đáng xấu hổ: cậu đang dạy học tại chính ngôi trường cũ.
“좋지 않아? 책 읽을 여유가 있으니까 얼마나 좋은가. 난 잡지 한 권 읽을 여유가 없네.
→ “Thế không tốt sao? Có thời gian đọc sách, thật tuyệt còn gì. Còn tôi thì chẳng có nổi thời gian đọc lấy một cuốn tạp chí.”
“얼 가르치고 있나?”
→ “Cậu đang dạy môn gì vậy?”
후배는 내 말에 용기를 얻었는지 아까보다는 조금 밝은 목소리로 대답했다.
→ Có lẽ nhờ lời nói của tôi mà lấy được dũng khí, cậu hậu bối trả lời bằng giọng sáng sủa hơn lúc nãy một chút.
“국어를 가르치고 있습니다.”
→ “Em đang dạy môn Ngữ văn.”
“잘했어. 학교측에서 보면 자네 같은 선생을 구하기도 힘들꺼야.”
→ “Tốt lắm. Từ phía nhà trường mà nhìn thì kiếm được giáo viên như cậu cũng không dễ đâu.”
“그렇지도 않아요. 사범대 학 출신들 때문에 교원 자격 고시 합격증 가지고 견디기가 힘들어요.”
→ “Cũng không hẳn vậy đâu ạ. Vì những người tốt nghiệp trường sư phạm nên chỉ với chứng chỉ đậu kỳ thi giáo viên thì khó mà trụ nổi.”
“그게 또 그런가?”
→ “Vậy à?”
박은 아무말 없이 씁쓸한 미소만 지어 보였다.
→ Park không nói gì, chỉ nở một nụ cười chua chát.
저녁 식사 후 우리는 술 한잔씩을 마시고 나서 세무 서장이 된 조의 집을 향하여 갔다.
→ Sau bữa tối, mỗi người uống một ly rượu rồi chúng tôi hướng đến nhà của Jo, người đã trở thành trưởng chi cục thuế.
거리는 어두컴컴했다.
→ Con đường tối mịt mù.
다리를 건널 때 나는 냇가의 나무들이 어슴푸리하게 물 속에 비춰 있는 것을 보았다.
→ Khi băng qua cây cầu, tôi nhìn thấy những hàng cây bên suối mờ ảo phản chiếu xuống mặt nước.
옛날 언젠가, 역시 이 다리를 밤중에 건너면서 나는 이 시켜멓게 웅크리고 있다 는 나무들을 저주했었다.
→ Ngày xưa, có lần cũng đi qua cây cầu này vào ban đêm, tôi đã từng nguyền rủa những cái cây đang co ro đen sì kia.
금방 소리를 지르며 달려들 듯한 모습으로 나무들은 서 있었던 것이다.
→ Những cái cây đứng đó với dáng vẻ như thể sắp hét lên rồi lao đến ngay lập tức.
세상에 나무가 없다면 얼마나 좋을까 하고 생각하기도 했었다.
→ Tôi thậm chí đã từng nghĩ rằng, nếu trên đời không có cây thì biết bao nhiêu là tốt.
“모든게 여전하군.” 내가 말했다.
→ “Mọi thứ vẫn như xưa nhỉ.” tôi nói.
“그럴까요?”
→ “Thật vậy sao ạ?”
후배가 웅얼거리듯이 말했다.
→ Cậu hậu bối lẩm bẩm như vậy.
조의 응접실에는 손님들이 네 사람 있었다.
→ Trong phòng khách nhà Jo có bốn vị khách.
나의 손을 아프도록 쥐고 흔들고 있는 조의 얼굴이 옛날보다 윤택해지고 살결도 많이 하애진 것을 나는 보고 있었다.
→ Tôi nhìn thấy gương mặt của Jo—người đang nắm chặt và lắc tay tôi đến đau—đã trở nên đầy đặn hơn trước và làn da cũng trắng hơn nhiều.
“어서 자리로 앉아라. 이거 원 누추해서.·•·•· 빨리 마누랄 얻어야 겠는데•··…”
→ “Mau vào ngồi đi. Nhà cửa thì tạm bợ quá… chắc phải nhanh chóng lấy vợ thôi…”
그러나 방은 결코 누추하지 않았다.
→ Nhưng căn phòng hoàn toàn không hề tồi tàn chút nào.
“아니 아직 결혼 안했나?” 내가 물었다.
→ “Sao, cậu vẫn chưa kết hôn à?” tôi hỏi.
“법률책 좀 붙들고 앉아 있었더니 그렇게 왜 버렸어. 어서 앉아.”
→ “Cứ ôm mấy cuốn sách luật mà ngồi mãi nên mới thành ra vậy đấy. Thôi, ngồi xuống đi.”나는 먼저 온 손님들에게 소개되었다.
→ Tôi được giới thiệu với những vị khách đến trước.
세 사람은 남자로서 세무서 직원들이었고 한 사람은 여자로서 나와 함께 온 박과 무언가 얘기를 주고받고 있었다.
→ Ba người là nam, đều là nhân viên sở thuế; còn một người là nữ, đang trao đổi gì đó với Park—người đi cùng tôi.
“어어, 밀담들은 그만 하시고, 하 선생, 인사해요.
→ “Này này, thôi đừng thì thầm nữa, cô Ha, chào hỏi đi.”
내 중학 동창인 윤희중이라는 친구입니다.
→ “Đây là bạn cùng học trung học của tôi, tên là Yoon Hee-jung.”
서울에 있는 큰 제약회사의 간사님이시고
→ “Hiện là thư ký tại một công ty dược lớn ở Seoul,”
이쪽은 우리 모교에 와 계시는 이 선생이고, 하인숙씨라고, 작년에 서울에서 음악대학을 나오신 분이지.”
→ “Còn đây là cô giáo Lee, đang dạy tại trường cũ của chúng tôi, tên là Ha In-suk, tốt nghiệp đại học âm nhạc ở Seoul năm ngoái.”
“아, 그러세요. 같은 학교에 계시는군요.”
→ “À, vậy sao. Hai người đang làm ở cùng một trường nhỉ.”
나는 박과 그 여선생을 번갈아 가리키며 여선생에게 말했다.
→ Tôi vừa lần lượt chỉ vào Park và cô giáo ấy, vừa nói với cô.
“네.”
→ “Vâng.”
여선생은 방긋 웃으며 대답했고 내 후배는 고개를 숙여 버렸다.
→ Cô giáo mỉm cười tươi trả lời, còn cậu hậu bối của tôi thì cúi đầu xuống.
“고향이 무진이신가요?”
→ “Quê cô ở Mujin à?”
“아녜요. 발령이 이곳으로 났기 땜에 저 혼자 와 있는 거예요.”
→ “Không ạ. Vì được điều động về đây nên tôi một mình đến đây thôi.”
그 여자는 개성있는 얼굴을 가지고 있었다.
→ Người phụ nữ ấy có một gương mặt rất có cá tính.
윤곽은 갸름했고 눈이 컸고 얼굴 색은 노리끼리했다.
→ Đường nét thanh mảnh, mắt to, làn da hơi ngả vàng.
전체로 보아서 병약한 느낌을 주고 있었지만 그러나 좀 높은 콧날과 두꺼운 입술이 병약하다는 인상을 버리도록 요구하고 있었다.
→ Tổng thể tạo cảm giác yếu ớt, nhưng sống mũi hơi cao và đôi môi dày lại như phủ nhận ấn tượng mong manh đó.
그리고 카랑카랑한 목소리가 코와 입이 주는 인상을 더욱 강하게 하고 있었다.
→ Và giọng nói lanh lảnh, rõ ràng của cô càng làm nổi bật ấn tượng từ chiếc mũi và đôi môi ấy.
“전공이 무엇이었던가요?”
→ “Chuyên ngành của cô là gì vậy?”
“성악 공부 좀 했어요.”
→ “Tôi có học một chút về thanh nhạc.”
“그렇지만 하선생님은 피아노도 아주 잘 치십니다.”
→ “Nhưng cô Ha cũng chơi piano rất giỏi.”
박이 곁에서 조심스런 목소리로 끼어 들었다.
→ Park xen vào từ bên cạnh bằng giọng dè dặt.
조도 거들었다.
→ Jo cũng phụ họa thêm.
“노래를 아주 잘하시지. 소프라노가 굉장하시거든.”
→ “Cô ấy hát rất hay. Giọng soprano thì thật sự xuất sắc.”
“아, 소프라노를 하시는 가요?” 내가 물었다.
→ “À, cô theo soprano à?” tôi hỏi.
“네, 졸업 연주회 땐 <나비부인> 중에서 <어떤 개인 날>을 불렀어요.”
→ “Vâng, trong buổi biểu diễn tốt nghiệp, tôi đã hát bài ‘Một ngày nắng đẹp’ trong vở ‘Madame Butterfly’.”
그 여자는 졸업 연주회를 그리워하고 있는 듯한 음성으로 말했다.
→ Cô ấy nói bằng giọng như đang nhớ nhung buổi biểu diễn tốt nghiệp.
방바닥에는 비단의 방석이 놓여 있고 그 위에는 화투짝이 흩어져 있었다.
→ Trên sàn phòng đặt những chiếc đệm lụa, và trên đó những lá bài hwatu nằm rải rác.
무진이다.
→ Đúng là Mujin.
곧 입술을 태울 듯이 불타 들어가는 담배 꽁초를 입에 물고 눈으로 들어오는 그 담배 연기 때문에 눈물을 찔끔거리며 눈을 가늘게 뜨고,
→ Ngậm đầu thuốc lá cháy đỏ như sắp làm bỏng môi, vì khói thuốc bay vào mắt nên rơm rớm nước mắt, phải nheo mắt lại,
이미 정오가 가까운 시각에야 잠자리에서 일어나서 그날의 허황한 운수를 점쳐 보던 화투짝이었다.
→ rồi đến tận gần trưa mới thức dậy, dùng những lá bài hwatu ấy để bói vận may hão huyền của ngày hôm đó.
혹은, 자신을 팽개치듯이 기어들던 언젠가의 놀음판,
→ Hoặc là trong một canh bạc nào đó, nơi tôi như buông thả chính mình mà lao vào,
그 놀음판에서 나의 뜨거워져가는 머리와 떨리는 손가락만을 제외하곤 내 몸을 전연 느끼지 못하게 만들던 그 화투짝이었다.
→ trong ván bài ấy, ngoài cái đầu nóng lên và những ngón tay run rẩy, tôi hoàn toàn không còn cảm nhận được cơ thể mình—chính là những lá bài đó.
“화투가 있군, 화투가.”
→ “Có cả bài hwatu này, bài hwatu.”
나는 한 장을 집어서 소리가 나게 내려치고 다시 그것을 집어서 내려치고 또 집어서 내려치고 하며 중얼거렸다.
→ Tôi nhặt một lá lên, đập xuống kêu “bốp”, rồi lại nhặt lên đập xuống, lặp đi lặp lại như vậy và lẩm bẩm.
“우리 돈내기 한판 하실 까요?” 세무서 직원 중의 하나가 내게 말했다.
→ “Chúng ta làm một ván cá cược chứ?” một nhân viên sở thuế nói với tôi.
나는 싫었다.
→ Tôi không thích.
“다음 기회에 하지요.”
→ “Để dịp khác vậy.”
세무서 직원들은 싱글싱글 웃었다.
→ Những nhân viên sở thuế cười khúc khích.
조가 안으로 들어갔다가 나왔다.
→ Jo đi vào trong rồi lại bước ra.
잠시 후에 술상이 나왔다.
→ Một lát sau, bàn rượu được dọn ra.
“여기엔 얼마쯤 있게 되나?”
→ “Cậu định ở đây bao lâu?”
“일주일 가량.”
→ “Khoảng một tuần.”
“청첩장 한 장 없이 결혼해버리는 법이 어디 있어?”
→ “Làm gì có chuyện kết hôn mà không gửi lấy một tấm thiệp mời chứ?”
하기야 청첩장을 보냈더라도 그땐 내가 세무서에서 주관할 일 때문에 바빴을 때니까 별수도 없었겠지만 말이다.”
→ “Mà dù có gửi thiệp thì lúc đó tôi cũng đang bận việc ở sở thuế, chắc cũng chẳng làm gì được.”
“난 그랬지만 청첩장 보내야 한다.”
→ “Dù sao thì cũng phải gửi thiệp mời chứ.”
“염려 마라. 금년 안으로는 받아 볼 수 있게 될 거다.”
→ “Yên tâm đi. Trong năm nay cậu sẽ nhận được thôi.”
우리는 별로 거품이 일지 않는 맥주를 마셨다.
→ Chúng tôi uống loại bia hầu như không có bọt.
“제약회사라면 그게 약 만드는 데 아닙니까?”
→ “Công ty dược thì là nơi sản xuất thuốc phải không?”
“그렇죠.”
→ “Đúng vậy.”
“평생 병걸릴 염려는 없겠습니다. 그려.”
→ “Thế thì chắc cả đời chẳng lo bị bệnh rồi nhỉ.”
굉장히 우스운 익살을 부렸다는 듯이 직원들은 방바닥을 치며 오랫동안 웃었다.
→ Như thể vừa nói một câu đùa cực kỳ buồn cười, mấy nhân viên vừa đập sàn vừa cười rất lâu.
“참 박군, 학생들한테서 인기가 대단하더구먼, ••• 기껏 오분쯤 걸어오면 될 거리에 살면서 나한테 왜 놀러 오지 않았나?”
→ “À mà này Park, nghe nói cậu được học sinh rất yêu thích đấy. Nhà chỉ cách có khoảng 5 phút đi bộ, sao không ghé qua chơi với tôi?”
“늘 생각은 하고 있었습니다만···.”
→ “Em vẫn luôn nghĩ đến chuyện đó, nhưng mà…”
“지금 앉아 계시는 하선생님한테서 자네 얘긴 늘 듣고 있었지.”
→ “Tôi vẫn luôn nghe cô Ha—người đang ngồi đây—kể về cậu đấy.”
“자, 하선생, 맥주는 술도 아니니까 한잔 들어봐요. 평소엔 그렇지도 않던데 오늘 저녁엔 왜 이렇게 얌전을 피우실까?”
→ “Nào, cô Ha, bia thì cũng chẳng phải là rượu gì nặng đâu, thử một ly đi. Bình thường đâu có thế này, sao tối nay lại giữ ý quá vậy?”
“네 네, 거기 놓으세요. 제가 마시겠어요.”
→ “Vâng vâng, cứ để đó đi ạ. Tôi sẽ uống.”
“맥주는 좀 마셔 봤지요?”
→ “Cô cũng từng uống bia rồi chứ?”
“대학 다닐 때 친구들과 어울려서 방문을 안으로 잠가 놓고 소주도 마셔본 걸요.”
→ “Hồi học đại học, tôi từng cùng bạn bè khóa cửa phòng lại rồi uống cả soju nữa.”
“이거 술꾼인 줄은 몰랐는데.”
→ “Ồ, không ngờ lại là người biết uống rượu đấy.”
“마시고 싶어서 마신 게 아니라 시험삼아서 맛 좀 본 거예요.”
→ “Không phải vì muốn uống đâu, chỉ là thử xem mùi vị thế nào thôi.”
“그래서 맛이 어떻습디까?”
→ “Vậy thấy vị thế nào?”
“모르겠어요. 술잔을 입에 대자마자 쿨쿨 자버렸으니까요.”
→ “Tôi không biết nữa. Vừa đưa ly lên miệng là ngủ luôn rồi.”
사람들이 웃었다.
→ Mọi người bật cười.
박만이 억지로 웃는 듯한 웃음이었다.
→ Chỉ riêng Park là cười gượng gạo.
“내가 항상 생각하는 바지만, 하선생님의 좋은 점은 바로 저기에 있거든. 될 수 있으면 얘기를 재미있게 하려고 한다는 점, 바로 그거야.”
→ “Tôi vẫn luôn nghĩ rằng, điểm tốt của cô Ha chính là ở đó. Cố gắng làm cho câu chuyện trở nên thú vị—chính là điều đó.”
“일부러 재미있게 하려고 하는 게 아니에요. 대학 다닐 때의 말버릇이에요.”
→ “Không phải tôi cố ý nói cho vui đâu. Đó chỉ là thói quen nói từ thời đại học thôi.”
“아하, 그러고 보면 하선생의 나쁜 점은 바로 저기 있어. <내가 대학 다닐 때>라는 말을 빼놓곤 얘기가 안 됩니까?”
→ “À ha, nghĩ lại thì điểm xấu của cô Ha cũng nằm ở đó đấy. Không nói câu ‘hồi tôi còn học đại học’ thì không kể chuyện được sao?”
“나처럼 대학에 문전에도 가보지 못한 사람은 서러워서 살겠어요?”
→ “Những người như tôi, đến cổng trường đại học còn chưa từng bước tới, nghe mà tủi thân chết mất thôi!”
“죄송합니다.”
→ “Xin lỗi ạ.”
“그럼 내게 사과하는 뜻에서 노래 한 곡 들려주시겠어요?”
→ “Vậy để xin lỗi tôi, cô hát cho tôi một bài được không?”
“그거 좋습니다.”
→ “Ý hay đấy.”
“좋지요.”
→ “Được thôi.”
“한번 들어봅시다.”
→ “Hãy nghe thử một lần đi.”
사람들이 박수를 쳤다. 여선생은 머뭇거렸다.
→ Mọi người vỗ tay. Cô giáo do dự.
“서울 손님도 오고 했으니까···…. 그 지난번에 부르던 거 참 좋습디다.” 조는 재촉했다.
→ “Có cả khách từ Seoul đến nữa mà… Bài lần trước cô hát hay lắm.” Jo giục giã.
“그럼 부릅니다.”
→ “Vậy tôi xin hát.”
여선생은 거의 무표정한 얼굴로 입을 조금만 달싹거리며 노래를 부르기 시작했다.
→ Cô giáo gần như không biểu lộ cảm xúc, chỉ khẽ mấp máy môi và bắt đầu hát.
세무서 직원들이 손가락으로 술상을 두드리기 시작했다.
→ Những nhân viên sở thuế bắt đầu dùng ngón tay gõ nhịp lên bàn rượu.
여선생은 <목포의 눈물>을 부르고 있었다.
→ Cô giáo đang hát bài “Nước mắt Mokpo.”
<어떤 개인 날>과 <목포의 눈물> 사이에는 얼마만큼의 유사성이 있을까?
→ Giữa “Một ngày nắng đẹp” và “Nước mắt Mokpo” thì có bao nhiêu điểm tương đồng chứ?
무엇이 저 아리아들로써 길들여진 성대에서 유행가를 나오게 하고 있을까?
→ Điều gì đã khiến từ một dây thanh vốn được rèn luyện bằng những aria ấy lại phát ra một bài nhạc thị trường?
그 여자가 부르는 <목포의 눈물>에는 작부들이 부르는 그것에서 들을 수 있는 것과 같은 꺾임이 없었고,
→ Trong “Nước mắt Mokpo” mà cô ấy hát không có những luyến láy kiểu thường thấy ở những cô ca nữ quán rượu,
대체로 유행가를 살려주는 목소리의 갈라짐이 없었고,
→ cũng không có cái độ khàn vỡ của giọng—thứ thường làm cho nhạc thị trường trở nên sống động,
흔히 유행가가 내용으로 하는 청승맞음이 없었다.
→ và cũng không có cái vẻ sầu thảm ủy mị vốn là nội dung quen thuộc của loại nhạc này.
그 여자의 <목포의 눈물>은 이미 유행가가 아니었다.
→ Bài “Nước mắt Mokpo” của cô ấy lúc này đã không còn là một ca khúc thị trường nữa.그렇다고 <나비부인> 중의 아리아는 더욱 아니었다.
→ Nhưng nó cũng không phải là aria trong “Madame Butterfly.”
그것은 이전에는 없었던 어떤 새로운 양식의 노래였다.
→ Đó là một kiểu hát hoàn toàn mới, chưa từng tồn tại trước đây.
그 양식은 유행가가 내용으로 하는 청승맞음과는 다른 좀더 무자비한 청승맞음을 포함하고 있었고,
→ Kiểu hát ấy chứa đựng một nỗi sầu thảm khác với nhạc thị trường—một nỗi sầu tàn nhẫn hơn,
<어떤 개인 날>의 그 선율보다도 훨씬 높은 옥타브의 선율을 포함하고 있었고,
→ đồng thời bao gồm những quãng âm cao hơn hẳn so với giai điệu của “Một ngày nắng đẹp,”
그 양식에는 머리를 풀어헤친 광녀의 냉소가 스며 있었고,
→ trong đó còn thấm đẫm sự mỉa mai của một người đàn bà điên với mái tóc xõa tung,
무엇보다도 시체가 썩어 가는 듯한 무진의 그 냄새가 스며 있었다.
→ và trên hết, nó mang theo cái mùi của Mujin—cái mùi như xác chết đang mục rữa.
그 여자의 노래가 끝나자 나는 의식적으로 바보 같은 웃음을 띄우고 박수를 쳤고
→ Khi bài hát của cô ấy kết thúc, tôi cố ý nở một nụ cười ngớ ngẩn và vỗ tay,
그리고 육감으로써랄까, 나는 후배인 박이 이 자리에서 떠나고 싶어하는 것을 알았다.
→ và bằng trực giác, tôi nhận ra rằng cậu hậu bối Park muốn rời khỏi nơi này.
나의 시선이 박에게로 갔을 때, 나의 시선을 박은 기다렸다는 듯이 자리에서 일어났다.
→ Khi ánh mắt tôi hướng về phía Park, như thể đã chờ đợi điều đó, cậu ấy liền đứng dậy.
누군지가 그에게 앉아 있기를 권했으나 박은 해사한 웃음을 지으며 거절했다.
→ Có người khuyên cậu ấy ngồi lại, nhưng Park mỉm cười nhẹ nhàng và từ chối.
“먼저 실례합니다. 님은 내일 또 뵙지요.”
→ “Xin phép tôi về trước. Ngày mai tôi sẽ gặp lại anh.”
조는 대문까지 따라나왔고 나는 한길까지 박을 바래다주려고 나갔다.
→ Jo tiễn chúng tôi ra đến cổng, còn tôi thì đi cùng Park ra tận đường lớn để tiễn cậu ấy.
밤이 깊지 않았는데도 거리는 적막했다.
→ Dù đêm chưa khuya lắm nhưng con đường vẫn vắng lặng.
어디선지 개 짖는 소리가 들려왔고 쥐 몇 마리가 한길 위에서 무엇을 먹고 있다가 우리의 그림자에 놀라 흩어져버렸다.
→ Từ đâu đó vang lên tiếng chó sủa, vài con chuột đang ăn gì đó trên đường lớn thấy bóng chúng tôi thì giật mình chạy tán loạn.
“형님, 보세요. 안개가 내리는군요.”
→ “Anh xem kìa, sương đang xuống.”
과연 한길의 저 끝이, 불빛이 드문드문 박혀 있는 번화가의 검은 풍경들이 점점 풀어져 가고 있었다.
→ Quả nhiên, ở cuối con đường, những cảnh đêm đen của khu phố với ánh đèn lác đác đang dần tan ra.
“자네, 하선생을 좋아하고 있는 모양이군.” 내가 물었다.
→ “Có vẻ như cậu thích cô Ha nhỉ?” tôi hỏi.
박은 다시 해사한 웃음을 띠었다.
→ Park lại nở nụ cười tươi.
“그 여선생과 조군과 무슨 관계가 있는 모양이지?”
→ “Có vẻ cô giáo đó có quan hệ gì đó với Jo phải không?”
“모르겠습니다. 아마 조형이 결혼 대상자 중의 하나로 생각하고 있는 거 같아요.”
→ “Em không rõ. Có lẽ anh Jo đang xem cô ấy là một trong những đối tượng kết hôn.”
“자네가 그 여선생을 좋아한다면 좀 더 적극적으로 나가야 해. 잘 해봐.”
→ “Nếu cậu thích cô ấy thì nên chủ động hơn đi. Cố lên.”
“뭐 별로···.”
→ “Cũng… không hẳn…”
박은 소년처럼 말을 더듬거렸다.
→ Park lắp bắp như một cậu thiếu niên.
“그 속물들 틈에 앉아서 유행가를 부르고 있는 게 좀 딱해 보였을 뿐이지요. 그래서 나와버린 거죠.”
→ “Chỉ là em thấy cô ấy ngồi giữa đám người tầm thường đó mà hát nhạc thị trường thì hơi đáng thương thôi. Nên em ra ngoài.”
박은 분노를 누르고 있는 듯이 나직나직 말했다.
→ Park nói nhỏ, như đang cố kìm nén cơn tức giận.
“크래식을 부를 장소가 있고 유행가를 부를 장소가 따로 있다는 것뿐이겠지, 뭐 딱할 것까지야 있나?”
→ “Chỉ là nhạc cổ điển có chỗ của nó, nhạc thị trường cũng có chỗ của nó thôi, đâu đến mức phải thấy đáng thương.”
나는 거짓말로써 그를 위로했다.
→ Tôi đã dùng một lời nói dối để an ủi cậu ấy.
박은 가고 나는 다시 속물들 틈에 끼었다.
→ Park rời đi, còn tôi lại quay về giữa đám người tầm thường.
무진에서는 누구나 그렇게 생각하는 것이다. 타인은 모두 속물들이라고.
→ Ở Mujin, ai cũng nghĩ như vậy: rằng những người khác đều là kẻ tầm thường.
나 역시 그렇게 생각하는 것이다, 타인이 하는 모든 행위는 무위와 똑같은 무게밖에 가지고 있지 않은 장난이라고.
→ Bản thân tôi cũng nghĩ như thế: mọi hành động của người khác chẳng qua chỉ là trò đùa vô nghĩa, nhẹ bẫng như hư vô.
밤이 퍽 깊어서 우리는 자리에서 일어났다.
→ Đêm đã rất khuya, chúng tôi đứng dậy rời chỗ.
조는 내가 자기 집에서 자고 가기를 권했다.
→ Jo mời tôi ngủ lại nhà anh ta.
그러나 다음날 아침에 잠자리에서 일어나서 그 집을 나올 때까지의 부자유스러움을 생각하고 나는 기어코 밖으로 나섰다.
→ Nhưng nghĩ đến cảm giác gò bó từ lúc thức dậy đến khi rời khỏi nhà vào sáng hôm sau, tôi vẫn quyết định ra ngoài.
직원들도 도중에서 흩어져 가고 결국엔 나와 여자만이 남았다.
→ Các nhân viên cũng dần tản ra trên đường, cuối cùng chỉ còn lại tôi và người phụ nữ ấy.우리는 다리를 건너고 있었다.
→ Chúng tôi đang băng qua cây cầu.
검은 풍경 속에서 냇물은 하얀 모습으로 뻗어 있었고
→ Trong khung cảnh tối đen, dòng suối trải dài như một dải trắng,
그 하얀 표면 위로 안개가 소리 없이 퍼지고 있었다. (hiệu chỉnh câu bị lỗi OCR)
→ và trên bề mặt trắng ấy, làn sương đang lặng lẽ lan ra.
여자가 말했다.
→ Người phụ nữ lên tiếng.
“그래요? 다행입니다.” 내가 말했다.
→ “Vậy à? Thật may.” tôi nói.
“왜 다행이라고 말씀하시는 줄 짐작하겠어요.” 여자가 말했다.
→ “Tôi đoán được vì sao anh lại nói là may mắn.” người phụ nữ nói.
“어느 정도까지 짐작하셨어요?” 내가 물었다.
→ “Cô đoán được đến mức nào?” tôi hỏi.
“사실은 멋이 없는 고장이니까요. 제 대답이 맞았어요?”
→ “Vì thật ra đây là một nơi chẳng có gì hấp dẫn cả. Tôi nói đúng không?”
“거의.”
→ “Gần đúng.”
우리는 다리를 다 건넜다.
→ Chúng tôi đã qua hết cây cầu.
거리에서 우리는 헤어져야 했다.
→ Đến đường lớn, chúng tôi phải chia tay.
그 여자는 냇물을 따라서 뻗어 나간 길로 가야 했고 나는 곧장 난 길로 가야 했다.
→ Cô ấy phải đi theo con đường chạy dọc theo con suối, còn tôi thì đi thẳng con đường phía trước.
“아, 그리로 가세요. 그럼…..” 내가 말했다.
→ “À, cô đi đường đó nhé. Vậy thì…” tôi nói.
“조금만 바래다주세요. 이 길은 너무 조용해서 무서워요.”
→ “Anh tiễn tôi một đoạn được không? Con đường này yên tĩnh quá nên tôi sợ.”=
여자가 조금 떨리는 목소리로 말했다.
→ Người phụ nữ nói bằng giọng hơi run.
나는 다시 여자와 나란히 서서 걸었다.
→ Tôi lại đi sánh vai cùng cô ấy.
나는 갑자기 이 여자와 친해진 것 같았다.
→ Tôi bỗng cảm thấy như mình đã trở nên thân thiết với người phụ nữ này.
다리가 끝나는 바로 거기에서부터, 그 여자가 정말 무서워서 떠는 듯한 목소리로 내게 바래다주기를 청했던 바로 그때부터 나는 그 여자가 내 생애 속에 끼어든 것을 느꼈다.
→ Ngay từ lúc ở cuối cây cầu—khi cô ấy, với giọng run rẩy như thực sự sợ hãi, nhờ tôi tiễn một đoạn—tôi đã cảm thấy rằng cô ấy đã bước vào cuộc đời tôi.
내 모든 친구들처럼, 이제는 모른다고 할 수 없는,
→ Giống như tất cả những người bạn của tôi—những người mà giờ đây tôi không thể nói là không quen biết,
때로는 내가 그들을 훼손하기도 했지만 그러나 더 많이 그들이 나를 훼손시켰던 내 모든 친구들처럼.
→ đôi khi tôi làm tổn thương họ, nhưng nhiều hơn là họ đã làm tổn thương tôi—cũng giống như tất cả những người bạn đó.
“처음에 뵈었을 때, 뭐랄까요, 서울 냄새가 난다고 할까요, 꽤 오래 전부터 알던 사람처럼 느껴졌어요. 참 이상하죠?”
→ “Ngay từ lần đầu gặp anh, không biết nói sao nữa… có cảm giác như mang ‘mùi Seoul’, như thể đã quen biết từ lâu rồi. Kỳ lạ thật, phải không?”
갑자기 여자가 말했다.
→ Người phụ nữ đột nhiên nói.
“유행가.” 내가 말했다.
→ “Nhạc thị trường.” tôi nói.
“네?”
→ “Gì cơ ạ?”
“아니 유행가는 왜 부르십니까? 성악 공부한 사람들은 될 수 있는대로 유행가를 멀리하지 않았던가요?”
→ “Sao cô lại hát nhạc thị trường? Những người học thanh nhạc chẳng phải thường cố tránh loại nhạc đó sao?”
“그 사람들은 항상 유행가만 부르라고 하거든요.”
→ “Mọi người lúc nào cũng bảo tôi chỉ nên hát nhạc thị trường thôi.”
대답하고 나서 여자는 부끄러운 듯이 나지막하게 소리내어 웃었다.
→ Nói xong, người phụ nữ cười khẽ, có vẻ hơi ngượng ngùng.
“유행가를 부르지 않으려면 거기에 가지 않는 게 좋다고 얘기하면 내정간섭이 될까요?”
→ “Nếu tôi nói rằng, muốn không phải hát nhạc thị trường thì tốt nhất đừng đến những chỗ đó, thì có bị coi là can thiệp quá sâu không?”
“정말 앞으론 가지 않을 작정이에요. 정말 보잘것없는 사람들이에요.”
→ “Thật ra từ giờ tôi định sẽ không đến đó nữa. Họ thật sự là những con người tầm thường.”
“그럼 왜 여태까진 거기에 놀러 다녔습니까?”
→ “Vậy sao đến giờ cô vẫn lui tới đó?”
“심심해서요.”
→ “Vì buồn chán thôi.”
여자는 힘없이 말했다. 심심하다, 그래 그게 가장 정확한 표현이다.
→ Người phụ nữ nói một cách yếu ớt. Buồn chán—đúng, đó là cách diễn đạt chính xác nhất.
“아까 박군은 하선생님께서 유행가를 부르고 계시는 게 보기에 딱하다고 하면서 나가 버렸지요.”
→ “Lúc nãy Park nói rằng nhìn cô hát nhạc thị trường thấy đáng thương nên đã bỏ ra ngoài.”
나는 어둠 속에서 여자의 얼굴을 살폈다.
→ Tôi nhìn kỹ gương mặt cô trong bóng tối.
“박선생님은 정말 꽁생원이에요.”
→ “Thầy Park đúng là một người quá kiểu cách (ngây ngô, cứng nhắc).”
여자는 유쾌한 듯이 높은 소리로 웃었다.
→ Người phụ nữ cười lớn, có vẻ rất vui.
“신랑감이죠.” 내가 말했다.
→ “Mẫu người làm chồng đấy.” tôi nói.
“네, 너무 선량해요.”
→ “Vâng, anh ấy hiền quá.”
“박군이 하선생님을 사랑하고 있다는 생각을 해본 적은 없었던가요?”
→ “Cô chưa từng nghĩ rằng Park có thể đang yêu cô sao?”
“아이, <하선생님 하선생님> 하지 마세요. 오빠라고 해도 세 큰 오빠뻘이나 되실 텐데요.”
→ “Ôi, đừng cứ gọi ‘cô Ha, cô Ha’ nữa. Nếu gọi là anh thì chắc cũng cỡ anh trai lớn của tôi rồi ấy chứ.”
“그럼 뭐라고 부릅니까?”
→ “Vậy tôi nên gọi cô là gì?”
“그냥 제 이름을 불러주세요. 인숙이라고요.”
→ “Cứ gọi tên tôi thôi. Là Insuk.”
“인숙이, 인숙이.”
→ “Insuk… Insuk…”
나는 낮은 소리로 중얼거려보았다.
→ Tôi khẽ lẩm bẩm bằng giọng thấp.
“그게 좋군요.” 나는 말했다.
→ “Nghe vậy hay đấy.” tôi nói.
“인숙인 왜 내 질문을 피하지요?”
→ “Sao Insuk lại né tránh câu hỏi của tôi?”
“무슨 질문을 하셨던가요?”
→ “Anh đã hỏi câu gì vậy nhỉ?”
여자는 웃으면서 말했다.
→ Người phụ nữ vừa cười vừa nói.
우리는 논길을 지나가고 있었다.
→ Chúng tôi đang đi qua con đường giữa cánh đồng lúa.
언젠가 여름밤, 멀고 가까운 논에서 들려오는 개구리들의 울음소리를, 마치 수많은 비단 조개 껍질을 한꺼번에 맞비빌 때 나는 듯한 소리를 듣고 있을 때
→ Vào một đêm hè nào đó, khi lắng nghe tiếng ếch kêu từ những cánh đồng xa gần—âm thanh như thể vô số vỏ sò lụa đang cọ xát cùng lúc
나는 그 개구리 울음소리들이 나의 감각 속에서 반짝이고 있는, 수없이 많은 별들로 바뀌어져 있는 것을 느끼곤 했었다.
→ tôi đã từng cảm thấy những tiếng ếch ấy trong cảm giác của mình biến thành vô số vì sao đang lấp lánh.
청각의 이미지가 시각의 이미지로 바뀌어지는 이상한 현상이 나의 감각 속에서 일어나곤 했었던 것이다.
→ Đó là hiện tượng kỳ lạ khi hình ảnh của thính giác chuyển hóa thành hình ảnh của thị giác trong cảm nhận của tôi.
개구리 울음소리가 반짝이는 별들이라고 느낀 나의 감각은 왜 그렇게 뒤죽박죽이었을까.
→ Tại sao cảm giác của tôi lại rối loạn đến mức coi tiếng ếch kêu là những vì sao lấp lánh như vậy?
그렇지만 밤하늘에서 쏟아질 듯이 반짝이고 있는 별들을 보고 개구리의 울음소리가 귀에 들려 오는 듯했었던 것은 아니다.
→ Nhưng không phải là khi nhìn những vì sao như sắp trút xuống từ bầu trời đêm, tôi lại nghe thấy tiếng ếch kêu.
별들을 보고 있으면 나는 나의 어느 별과 그리고 그 별과 또 다른 별들 사이의 안타까운 거리가,
→ Khi nhìn những vì sao, khoảng cách xa xăm giữa một ngôi sao nào đó của tôi với những ngôi sao khác,
과학 책에서 배운 바로써가 아니라, 마치 나의 눈이 점점 정확해져 가고 있는 듯이, 나의 시력에 뚜렷하게 보여 오는 것이었다.
→ không phải theo cách tôi học từ sách khoa học, mà như thể mắt tôi ngày càng tinh hơn, hiện lên rõ ràng trong tầm nhìn của tôi.
나는 그 도달할 길 없는 거리를 보는데 몰두하여 멍하니 서 있다가 그 순간 속에서 그대로 가슴이 터져버리는 것 같았었다.
→ Tôi mải mê nhìn vào khoảng cách không thể chạm tới ấy, đứng sững lại, và cảm giác như lồng ngực mình muốn vỡ tung trong khoảnh khắc đó.
왜 그렇게 못 견디어 했을까.
→ Tại sao tôi lại không chịu đựng nổi như vậy?
별이 무수히 반짝이는 밤하늘을 보고 있던 옛날 나는 왜 그렇게 분해서 못 견디어 했을까.
→ Tại sao ngày xưa, khi nhìn bầu trời đêm đầy sao lấp lánh, tôi lại bức bối đến mức không chịu nổi như thế?
“무얼 생각하고 계세요?” 여자가 물어 왔다.
→ “Anh đang nghĩ gì vậy?” người phụ nữ hỏi.
“개구리 울음소리.”
→ “Tiếng ếch kêu.”
대답하며 나는 밤하늘을 올려 봤다.
→ Trả lời xong, tôi ngẩng lên nhìn bầu trời đêm.
내리고 있는 안개에 가려서 별들이 흐릿하게 떠보였다.
→ Những vì sao hiện lên mờ nhạt, bị che khuất bởi làn sương đang buông xuống.
“어머, 개구리 울음소리. 정말예요. 제겐 여태까지 개구리 울음소리가 들리지 않았어요.”
→ “Ôi, tiếng ếch kêu à? Thật sao. Từ nãy đến giờ tôi chưa hề nghe thấy tiếng ếch.”
“무진의 개구리는 밤 열두 시 이후에만 우는 줄로 알고 있었는데요.”
→ “Tôi cứ nghĩ ếch ở Mujin chỉ kêu sau 12 giờ đêm thôi chứ.”
“열두 시 이후에요?”
→ “Sau 12 giờ đêm à?”
“네, 밤 열두 시가 넘으면, 제가 방을 얻어 있는 주인댁의 라디오 소리도 꺼지고 들리는 거라곤 개구리 울음소리뿐이거든요.”
→ “Vâng, khi qua nửa đêm thì tiếng radio của nhà chủ nơi tôi trọ cũng tắt, và thứ duy nhất nghe được chỉ còn là tiếng ếch kêu thôi.”
“밤 열두 시가 넘도록 잠을 자지 않고 무얼 하시죠?”
→ “Qua nửa đêm mà cô vẫn chưa ngủ thì làm gì vậy?”
“그냥 가끔 그렇게 잠이 오지 않아요.”
→ “Chỉ là đôi khi tôi không ngủ được thôi.”
그냥 그렇게 잠이 오지 않는다, 아마 그건 사실이리라.
→ Chỉ đơn giản là không ngủ được như vậy—có lẽ điều đó là thật.
“사모님 예쁘게 생기셨어요?” 여자가 갑자기 물었다.
→ “Vợ anh có xinh không?” người phụ nữ đột nhiên hỏi.
“제 아내 말씀인가요?”
→ “Ý cô là vợ tôi à?”
“예쁘죠.”
→ “Đẹp chứ.”
나는 웃으면서 대답했다.
→ Tôi vừa cười vừa trả lời.
“행복하시죠? 돈이 많고 예쁜 부인이 있고 귀여운 아이들이 있고 그러면···.”
→ “Anh hạnh phúc lắm nhỉ? Có tiền, có vợ đẹp, lại có những đứa con dễ thương nữa…”
“아이들은 아직 없으니까 쬐끔 덜 행복하겠군요.”
→ “Vì vẫn chưa có con nên chắc là kém hạnh phúc một chút.”
“어머, 결혼을 언제 하셨는데 아직 아이들이 없어요?”
→ “Ôi, anh kết hôn khi nào mà vẫn chưa có con vậy?”
“이제 삼 년 좀 넘었습니다.”
→ “Cũng hơn ba năm rồi.”
“특별한 용무도 없이 여행하시면서 왜 혼자 다니세요?”
→ “Đi du lịch mà không có việc gì đặc biệt, sao anh lại đi một mình vậy?”
이 여자는 왜 이런 질문을 할까?
→ Tại sao người phụ nữ này lại hỏi những câu như vậy nhỉ?
나는 조용히 웃어 버렸다.
→ Tôi chỉ lặng lẽ mỉm cười.
여자는 아까보다 좀 더 명랑한 목소리로 말했다.
→ Người phụ nữ nói bằng giọng tươi sáng hơn lúc nãy.
“앞으로 오빠라고 부를 테니까 절 서울로 데려가 주시겠어요?”
→ “Từ giờ em sẽ gọi anh là ‘oppa’, anh đưa em lên Seoul được không?”
“서울에 가고 싶으신가요?”
→ “Cô muốn đến Seoul à?”
“네.”
→ “Vâng.”
“무진이 싫은가요?”
→ “Cô ghét Mujin sao?”
“미칠 것 같아요. 금방 미칠 것 같아요. 서울엔 제 대학 동창들도 많고····· 아이, 서울로 가고 싶어 죽겠어요.”
→ “Em phát điên mất thôi. Thật sự sắp phát điên rồi. Ở Seoul có nhiều bạn đại học của em nữa… Ôi, em muốn đến Seoul đến chết mất.”
여자는 잠깐 내 팔을 잡았다가 얼른 놓았다.
→ Cô ấy khẽ nắm lấy tay tôi một lúc rồi vội vàng buông ra.
나는 갑자기 흥분되었다.
→ Tôi đột nhiên trở nên kích động.
나는 이마를 찡그렸다. 찡그리고 또 찡그렸다.
→ Tôi nhíu mày. Nhíu lại, rồi lại nhíu thêm.
그러자 흥분이 가셨다.
→ Rồi sự kích động ấy dần lắng xuống.
“그렇지만 이젠 어딜 가도 대학 시절과는 다를걸요. 인숙은 여자니까 아마 가정으로 숨어 버리기 전에는 어느 곳에 가든지 미칠 것 같을 걸요.”
→ “Nhưng bây giờ đi đâu thì cũng sẽ khác thời đại học thôi. Insuk là phụ nữ mà, có lẽ trước khi trốn vào cuộc sống gia đình thì dù ở đâu cũng sẽ cảm thấy như phát điên thôi.”
“그런 생각도 해봤어요. 그렇지만 지금 같아선 가정을 갖는다고 해도 미칠 것 같은 생각이 들어요.”
→ “Em cũng từng nghĩ như vậy. Nhưng lúc này, em cảm thấy dù có lập gia đình thì cũng vẫn như phát điên thôi.”
“정말 맘에 드는 남자가 아니면요.”
→ “Trừ khi đó là người đàn ông em thực sự thích.”
“정말 맘에 드는 남자가 있다고 해도 여기서는 살기가 싫어요.”
→ “Ngay cả khi có người như vậy, em cũng không muốn sống ở đây.”
“전 그 남자에게 여기서 도망하자고 조를 거예요.”
→ “Em sẽ nài nỉ người đàn ông đó bỏ trốn khỏi nơi này.”
“그렇지만 내 경험으로는 서울에서의 생활이 반드시 좋지도 않더군요. 책임, 책임뿐입니다.”
→ “Nhưng theo kinh nghiệm của tôi thì cuộc sống ở Seoul cũng không hẳn là tốt. Chỉ toàn là trách nhiệm, trách nhiệm mà thôi.”
“그렇지만 여긴 책임도 무책임도 없는 곳인 걸요.”
→ “Nhưng ở đây thì lại là nơi không có cả trách nhiệm lẫn vô trách nhiệm.”
“하여튼 서울에 가고 싶어요. 절 데려가 주시겠어요?”
→ “Dù sao thì em vẫn muốn đến Seoul. Anh đưa em đi được không?”
“생각해 봅시다.”
→ “Để tôi suy nghĩ đã.”
“꼭이에요, 네?”
→ “Nhất định nhé, được không?”
나는 그저 웃기만 했다.
→ Tôi chỉ cười mà không nói gì.
우리는 그 여자의 집 앞에까지 왔다.
→ Chúng tôi đã đến trước nhà của cô ấy.
“선생님, 내일은 무얼 하실 계획이세요?” 여자가 물었다.
→ “Thầy, ngày mai anh định làm gì?” cô ấy hỏi.
“글쎄요. 아침엔 어머님 산소엘 다녀와야 하겠고, 그러고 나면 할 일이 없군요. 바닷가에나 가볼까 하는데요. 거긴 한때 내가 방을 얻어 있던 집이 있으니까 인사도 할겸.”
→ “Ừm… buổi sáng tôi phải đi thăm mộ mẹ, xong rồi thì cũng chẳng có việc gì. Tôi định ra biển, vì ở đó có một ngôi nhà trước đây tôi từng trọ, tiện ghé thăm luôn.”
“선생님, 내일 거긴 오후에 가세요.”
→ “Thầy, ngày mai anh hãy đến đó vào buổi chiều nhé.”
“왜요?”
→ “Tại sao?”
“저도 같이 가고 싶어요. 내일은 토요일이니까 오전 수업뿐이에요.”
→ “Em cũng muốn đi cùng. Mai là thứ Bảy nên em chỉ có lớp buổi sáng thôi.”
“그럽시다.”
→ “Vậy thì thế đi.”
우리는 내일 만날 시간과 장소를 약속하고 헤어졌다.
→ Chúng tôi hẹn giờ và địa điểm gặp nhau vào ngày mai rồi chia tay.
나는 이상한 우울에 빠져서 터벅터벅 밤길을 걸어 이모 댁으로 돌아왔다.
→ Tôi chìm vào một nỗi buồn kỳ lạ, lững thững bước đi trong đêm và trở về nhà dì.
내가 이불 속으로 들어갔을 때 금방 사이렌이 불었다. 그것은 갑작스럽게 요란한 소리였다.
→ Khi tôi vừa chui vào chăn, tiếng còi báo động bỗng vang lên. Đó là một âm thanh đột ngột và chói tai.
그 소리는 길었다.
→ Âm thanh đó kéo dài.
모든 사물이 모든 사고가 그 사이렌에 흡수되어 갔다.
→ Mọi vật, mọi suy nghĩ đều bị hút vào tiếng còi ấy.
마침내 이 세상에선 아무것도 없어져 버렸다. 사이렌만이 세상에 남아 있었다.
→ Cuối cùng, thế giới như không còn gì nữa. Chỉ còn lại tiếng còi tồn tại.
그 소리도 마침내 느껴지지 않을 만큼 오랫동안 계속할 것 같았다.
→ Âm thanh ấy dường như kéo dài đến mức cuối cùng cũng không còn cảm nhận được nữa.
그때 소리가 갑자기 힘을 잃으면서 꺾였고 길게 신음하며 사라져 갔다.
→ Rồi đột nhiên âm thanh ấy mất đi sức lực, gãy xuống, kéo dài như một tiếng rên và tan biến.
내 사고만이 다시 살아났다.
→ Chỉ có suy nghĩ của tôi là sống lại.
나는 얼마 전까지 그 여자와 주고받던 얘기들을 다시 생각해 보려 했다.
→ Tôi cố gắng nhớ lại những cuộc trò chuyện vừa diễn ra với người phụ nữ ấy.
많은 것을 얘기한 것 같은데 그러나 귓속에는 우리의 대화가 몇 개 남아 있지 않았다.
→ Dường như chúng tôi đã nói rất nhiều, nhưng trong tai tôi chỉ còn lại vài mẩu đối thoại.
좀 더 시간이 지난 후, 그 대화들이 내 귓속에서 내 머릿속으로 자리를 옮길 때는
→ Sau một thời gian nữa, khi những lời ấy chuyển từ tai tôi vào trong đầu,
그리고 머릿속에서 심장 속으로 옮겨갈 때는 또 몇 개가 더 없어져 버릴 것인가.
→ rồi từ đầu xuống đến trái tim, không biết sẽ còn mất đi thêm bao nhiêu nữa.
아니 결국엔 모두 없어져 버릴지도 모른다.
→ Có lẽ cuối cùng tất cả sẽ biến mất.
천천히 생각해 보자.
→ Hãy từ từ suy nghĩ lại.
그 여자는 서울에 가고 싶다고 했다.
→ Cô ấy nói rằng muốn đến Seoul.
그 말을 그 여자는 안타까운 음성으로 얘기했다.
→ Cô ấy nói điều đó bằng một giọng đầy tiếc nuối, khắc khoải.
나는 문득 그 여자를 껴안고 싶은 충동에 사로잡혔다.
→ Tôi bỗng bị thôi thúc bởi ý muốn ôm lấy cô ấy.
그리고… 아니, 내 심장에 남을 수 있는 것은 그것뿐이었다.
→ Và rồi… không, thứ duy nhất có thể còn lại trong trái tim tôi chỉ là điều đó.
그러나 그것도 일단 무진을 떠나기만 하면 내 심장 위에서 지워져 버리리라.
→ Nhưng chỉ cần rời khỏi Mujin, điều đó rồi cũng sẽ bị xóa khỏi trái tim tôi.
나는 잠이 오지 않았다. 낮잠 때문이기도 하였다.
→ Tôi không ngủ được. Một phần cũng vì đã ngủ trưa.
나는 어둠 속에서 담배를 피웠다.
→ Tôi hút thuốc trong bóng tối.
나는 우울한 유령들처럼 나를 내려다보고 있는 벽에 걸린 하얀 옷들을 흘겨보고 있었다.
→ Tôi liếc nhìn những bộ quần áo trắng treo trên tường, như những bóng ma u uất đang nhìn xuống tôi.
나는 담뱃재를 머리맡의 적당한 곳에 떨었다.
→ Tôi gạt tàn thuốc xuống một chỗ nào đó bên đầu giường.
내일 아침 걸레로 닦아 내면 될 어느 곳에.
→ Một chỗ mà sáng mai chỉ cần lau đi là được.
<열두시 이후에 우는> 개구리 울음소리가 희미하게 들려 오고 있었다.
→ Tiếng ếch “chỉ kêu sau nửa đêm” vang lên mơ hồ.
어디선가 한 시를 알리는 시계 소리가 나직이 들려 왔다.
→ Từ đâu đó vang lên tiếng đồng hồ báo một giờ, khe khẽ.
어디선가 두 시를 알리는 시계 소리가 들려 왔다.
→ Rồi tiếng đồng hồ báo hai giờ.
어디선가 세 시를 알리는 시계 소리가 들려 왔다.
→ Rồi ba giờ.
어디선가 네 시를 알리는 시계 소리가 들려 왔다.
→ Rồi bốn giờ.
잠시 후에 통금 해제의 사이렌이 불었다.
→ Một lúc sau, tiếng còi báo hết giờ giới nghiêm vang lên.
시계와 사이렌 중 어느 것 하나가 정확하지 못했다.
→ Giữa đồng hồ và tiếng còi, có thứ nào đó không chính xác.
사이렌은 갑작스럽고 요란한 소리였다.
→ Tiếng còi đột ngột và ầm ĩ.
그 소리는 길었다.
→ Âm thanh ấy kéo dài.
모든 사물이 모든 사고가 그 사이렌에 흡수되어 갔다.
→ Mọi vật, mọi suy nghĩ đều bị hút vào tiếng còi đó.
마침내 이 세상에선 아무것도 없어져 버렸다. 사이렌만이 세상에 남아 있었다.
→ Cuối cùng, thế giới như không còn gì nữa. Chỉ còn tiếng còi tồn tại.
그 소리도 마침내 느껴지지 않을 만큼 오랫동안 계속할 것 같았다.
→ Âm thanh ấy kéo dài đến mức tưởng như không còn cảm nhận được nữa.
그때 소리가 갑자기 힘을 잃으면서 꺾였고 길게 신음하며 사라져 갔다.
→ Rồi đột nhiên nó mất sức, gãy xuống, rên dài và tan biến.
어디선가 부부들은 교합하리라.
→ Ở đâu đó, những cặp vợ chồng đang giao hoan.
아니다. 부부가 아니라 창부와 그 여자의 손님이리라.
→ Không, không phải vợ chồng, mà là gái điếm và khách của cô ta.
나는 왜 그런 엉뚱한 생각을 하고 있는지 알 수 없었다.
→ Tôi không hiểu vì sao mình lại có những suy nghĩ vẩn vơ như vậy.
잠시 후에 나는 슬며시 잠이 들었다.
→ Một lúc sau, tôi lặng lẽ chìm vào giấc ngủ.
그날 아침엔 이슬비가 내리고 있었다.
→ Sáng hôm đó, mưa bụi lất phất rơi.
식전에 나는 우산을 받쳐들고 읍 근처의 산에 있는 어머니의 산소로 갔다.
→ Trước bữa ăn, tôi cầm ô đi đến mộ mẹ trên ngọn núi gần thị trấn.
나는 바지를 무릎 위까지 걷어올리고 비를 맞으며 묘를 향하여 엎드려 절했다.
→ Tôi xắn quần lên đến đầu gối, dầm mưa rồi quỳ rạp xuống lạy trước mộ.
비가 나를 굉장한 효자로 만들어 주었다.
→ Cơn mưa khiến tôi trở thành một người con hiếu thảo một cách đặc biệt.
나는 한 손으로 묘 위의 긴 풀을 뜯었다.
→ Tôi dùng một tay nhổ những cọng cỏ dài trên mộ.
풀을 뜯으면서 나는, 나를 전무님으로 만들기 위하여 전무 선출에 관계된 사람들을 찾아다니며 그 호탕한 웃음을 웃고 있을 장인 영감을 상상했다.
→ Trong lúc nhổ cỏ, tôi tưởng tượng đến cha vợ—người đang đi gặp những người liên quan đến việc bổ nhiệm chức giám đốc điều hành cho tôi—và đang nở nụ cười xã giao đầy phóng khoáng ấy.
그러나 나는 묘 속으로 들어가고 싶었다.
→ Nhưng tôi lại muốn chui vào trong ngôi mộ ấy.
돌아가는 길은, 좀 멀기는 하지만 잔디가 곱게 깔린 방죽 길을 걷기로 했다.
→ Trên đường quay về, dù có xa hơn một chút, tôi quyết định đi theo con đường đê được phủ cỏ xanh mịn.
이슬비가 바람에 뿌옇게 날리고 있었다.
→ Mưa bụi bay lãng đãng trong gió.
비를 따라서 풍경이 흔들렸다.
→ Theo làn mưa, cảnh vật như rung động.
나는 우산을 접어 버렸다.
→ Tôi gấp ô lại.
방죽 위를 걸어가다가 나는, 방죽의 경사 밑 물가의 풀밭에, 읍에서 먼 촌으로부터 등교하기 위하여 온 학생들이 모여서 웅성거리고 있는 것을 보았다.
→ Khi đang đi trên đê, tôi thấy dưới chân dốc, bên bãi cỏ ven nước, có một nhóm học sinh từ những vùng quê xa tụ tập lại, đang xôn xao.
나이 많은 사람들이 몇 사람 끼여 있었고
→ Có lẫn vài người lớn tuổi trong đó,
비옷을 입은 순경 한 사람이 방죽의 비탈 위에 쭈그리고 앉아서 담배를 피우며 먼 곳을 바라보고 있었고
→ một cảnh sát mặc áo mưa ngồi xổm trên sườn đê, hút thuốc và nhìn về phía xa,
노파 한 사람이 혀를 차며 웅성거리고 있는 학생들의 틈을 빠져나와서 갔다.
→ và một bà lão tặc lưỡi, len qua đám học sinh đang xôn xao rồi bước đi.
나는 방죽의 비탈을 내려갔다.
→ Tôi đi xuống sườn đê.
순경 곁을 지나면서 나는 물었다.
→ Khi đi ngang qua viên cảnh sát, tôi hỏi.
“무슨 일입니까?”
→ “Có chuyện gì vậy?”
“자살 시체입니다.”
→ “Là xác tự tử.”
순경은 흥미 없는 말투로 말했다.
→ Viên cảnh sát nói bằng giọng thờ ơ, không chút quan tâm.
“누군데요?”
→ “Là ai vậy?”
“읍에 있는 술집 여자입니다. 초여름이 되면 반드시 몇 명씩 죽지요.”
→ “Là một người phụ nữ ở quán rượu trong thị trấn. Cứ đầu mùa hè là lại có vài người chết như vậy.”
“네에.”
→ “Vâng…”
“저 계집애는 아주 독살스러운 년이어서 안 죽을 줄 알았더니, 저것도 별수 없는 사람이었던 모양입니다.”
→ “Con đàn bà đó vốn rất ghê gớm, tôi tưởng nó không chết đâu, vậy mà cuối cùng cũng chỉ là con người như bao kẻ khác thôi.”
“네에.”
→ “Vâng…”
나는 물가로 내려가서 학생들 틈에 끼었다.
→ Tôi đi xuống mép nước và chen vào giữa đám học sinh.
시체의 얼굴은 냇물을 향하고 있었으므로 내게는 보이지 않았다.
→ Gương mặt của xác chết quay về phía dòng suối nên tôi không nhìn thấy.
머리는 파마였고 팔과 다리가 하얗고 굵었다.
→ Mái tóc được uốn xoăn, tay chân trắng và to.
붉은 색의 얇은 스웨터를 입고 있었고 하얀 스커트를 입고 있었다.
→ Cô ta mặc một chiếc áo len mỏng màu đỏ và một chiếc váy trắng.
지난밤의 새벽은 추웠던 모양이다.
→ Có lẽ rạng sáng hôm qua trời lạnh.
아니면 그 옷이 그 여자의 맘에 든 옷이었던가 보다.
→ Hoặc có lẽ đó là bộ đồ mà cô ta thích.
푸른 꽃무늬 있는 하얀 고무신을 머리에 베고 있었다.
→ Đôi giày cao su trắng có hoa văn màu xanh được đặt dưới đầu như chiếc gối.
무엇인가를 싼 하얀 손수건이 그 여자의 축 늘어진 손에서 좀 떨어진 곳에 굴러 있었다.
→ Một chiếc khăn tay trắng bọc thứ gì đó nằm lăn cách bàn tay buông thõng của người phụ nữ một đoạn.
하얀 손수건은 비를 맞고 있었고 바람이 불어도 조금도 나부끼지 않았다.
→ Chiếc khăn tay trắng đang hứng mưa, dù gió thổi cũng không hề lay động.
시체의 얼굴을 보기 위해서 많은 학생들이 냇물 속에 발을 담그고 이쪽을 향하여 서 있었다.
→ Để nhìn thấy gương mặt của xác chết, nhiều học sinh đã đứng quay về phía này, chân ngâm trong dòng nước.
그들의 푸른 색 유니폼이 물에 거꾸로 비쳐 있었다.
→ Đồng phục màu xanh của họ phản chiếu ngược xuống mặt nước.
푸른색의 깃발들이 시체를 옹위하고 있었다.
→ Những “lá cờ màu xanh” ấy vây quanh xác chết.
나는 그 여자를 향하여 이상스레 정욕이 끓어오름을 느꼈다.
→ Tôi cảm thấy một dục vọng kỳ lạ dâng lên hướng về người phụ nữ ấy.
나는 급히 그 자리를 떠났다.
→ Tôi vội vã rời khỏi chỗ đó.
“무슨 약을 먹었는지 모르지만 지금이라도 어쩌면····..” 순경에게 내가 말했다.
→ “Không biết cô ta đã uống thuốc gì, nhưng biết đâu bây giờ vẫn còn có thể…” tôi nói với viên cảnh sát.
“저런 여자들이 먹는 건 청산가립니다. 수면제 몇 알 먹고 떠들썩한 연극 같은 건 안하지요. 그것만은 고마운 일이지만.”
→ “Những người đàn bà như vậy thường dùng xyanua. Họ không làm mấy trò ồn ào như uống vài viên thuốc ngủ rồi gây náo loạn đâu. Ít ra thì điều đó còn đáng cảm ơn.”
나는 무진으로 오는 버스 안에서 수면제를 만들어 팔겠다는 공상을 한 것이 생각났다.
→ Tôi chợt nhớ lại việc mình từng tưởng tượng trên chuyến xe đến Mujin rằng sẽ chế tạo và bán thuốc ngủ.
햇볕의 신선한 밝음과 살갗에 탄력을 주는 정도의 공기의 저온, 그리고 해풍에 섞여 있다는 정도의 소금기, 이 세 가지를 합성하여 수면제를 만들 수 있다면······
→ Nếu có thể tổng hợp ba thứ này để tạo thành thuốc ngủ—ánh nắng tươi sáng trong trẻo, cái lạnh của không khí vừa đủ làm da săn lại, và vị mặn thoang thoảng trong gió biển…
그러나 사실 그 수면제는 이미 만들어져 있었던 게 아닐까.
→ Nhưng có lẽ thứ “thuốc ngủ” đó thực ra đã tồn tại rồi.
나는 문득, 내가 간밤에 잠을 이루지 못하고 뒤척거리고 있었던 게 이 여자의 임종을 지켜 주기 위해서가 아니었을까 하는 생각이 들었다.
→ Bỗng nhiên tôi nghĩ rằng việc mình trằn trọc không ngủ được suốt đêm qua, có phải là để canh chừng giây phút cuối cùng của người phụ nữ này hay không.
통금 해제의 사이렌이 불고 이 여자는 약을 먹고 그제야 나는 슬며시 잠이 들었던 것만 같다.
→ Khi tiếng còi hết giờ giới nghiêm vang lên, người phụ nữ ấy đã uống thuốc, và lúc đó tôi mới lặng lẽ chìm vào giấc ngủ.
갑자기 나는 이 여자가 나의 일부처럼 느껴졌다.
→ Đột nhiên tôi cảm thấy người phụ nữ này như là một phần của mình.
아프긴 하지만 아끼지 않으면 안 될 내 몸의 일부처럼 느껴졌다.
→ Như một phần cơ thể của tôi—dù đau đớn nhưng không thể không trân trọng.
나는 접어든 우산에 묻은 물을 휙휙 뿌리면서 집으로 돌아왔다.
→ Tôi vừa phủi nước trên chiếc ô gấp vừa quay về nhà.
집에는 세무서장인 조가 보낸 쪽지가 기다리고 있었다.
→ Ở nhà, có một mảnh giấy nhắn do Jo—cục trưởng thuế—gửi đang chờ tôi.
<할 일 없으면 세무서에 좀 들러 주게.>
→ “Nếu không có việc gì thì ghé qua sở thuế một chút nhé.”
아침밥을 먹고 나는 세무서로 갔다.
→ Sau khi ăn sáng, tôi đến sở thuế.
이슬비는 그쳤으나 하늘은 흐렸다.
→ Mưa bụi đã tạnh nhưng bầu trời vẫn u ám.
나는 조의 의도를 알 것 같았다.
→ Tôi dường như hiểu được ý định của Jo.
서장실에 앉아 있는 자기의 모습을 보여주고 싶은 거다.
→ Hắn muốn cho tôi thấy hình ảnh mình ngồi trong phòng trưởng sở.
아니 내가 비꼬아서 생각하고 있는지 모른다.
→ Không, có lẽ tôi đang suy nghĩ theo kiểu mỉa mai cũng nên.
나는 고쳐 생각하기로 했다.
→ Tôi quyết định nghĩ lại.
그는 세무서장으로 만족하고 있을까?
→ Liệu anh ta có hài lòng với vị trí cục trưởng thuế không?
아마 만족하고 있을 게다.
→ Có lẽ là hài lòng.
그는 무진에 어울리는 사람이다.
→ Anh ta là người phù hợp với Mujin.
아니, 나는 다시 고쳐 생각하기로 했다.
→ Không, tôi lại quyết định suy nghĩ lại lần nữa.
어떤 사람을 잘 안다는 것— 잘 아는 체한다는 것이 그 어떤 사람의 입장에서 보면 무척 불행한 일이다.
→ Việc cho rằng mình hiểu rõ một người—hay tỏ ra là hiểu rõ—nếu nhìn từ phía người đó, thì đó là một điều vô cùng bất hạnh.
우리가 비난할 수 있고 적어도 평가하려고 드는 것은 우리가 알고 있는 사람에 한하는 것이기 때문이다.
→ Bởi vì chúng ta chỉ có thể phê phán, hay ít nhất là đánh giá, những người mà chúng ta nghĩ rằng mình hiểu.
조는 러닝셔츠 바람으로, 바지는 무릎 위까지 걷어붙이고 부채를 부치고 있었다.
→ Jo mặc độc chiếc áo lót, quần xắn lên tới đầu gối, đang phe phẩy quạt.
나는 그가 초라해 보였고 그러나 그가 흰 커버를 씌운 회전의자 위에 앉아 있는 것을 자랑스러워하는 듯한 몸짓을 해보일 때는 그가 가엾게 생각되었다.
→ Tôi thấy cậu ta trông thật tồi tàn; nhưng khi cậu ta tỏ ra tự hào vì được ngồi trên chiếc ghế xoay bọc vải trắng, tôi lại cảm thấy thương hại.
“바쁘지 않나?” 내가 물었다.
→ “Cậu không bận sao?” tôi hỏi.
“나야 뭐 하는 일이 있어야지. 높은 자리라는 건 책임진다는 말만 중얼거리고 있으면 되는 모양이지.”
→ “Tôi thì có việc gì đâu. Ở vị trí cao, dường như chỉ cần lẩm bẩm về ‘trách nhiệm’ là đủ.”
그러나 그는 결코 한가하지 않았다.
→ Nhưng thực ra cậu ta hoàn toàn không hề rảnh rỗi.
여러 사람들이 드나들면서 서류에 조의 도장을 받아 갔고 더 많은 서류들이 그의 미결함에 쌓여졌다.
→ Nhiều người ra vào, mang theo giấy tờ để xin đóng dấu của Jo, và ngày càng nhiều hồ sơ chất đống trong khay chưa giải quyết của cậu ta.
“월말에다가 토요일이 되어서 좀 바쁘다.”
→ “Cuối tháng lại đúng vào thứ Bảy nên hơi bận một chút.”
그는 말했다. 그러나 그의 얼굴은 그 바쁜 것을 자랑스럽게 여기고 있었다.
→ Cậu ta nói vậy, nhưng gương mặt lại lộ rõ vẻ tự hào về sự bận rộn ấy.
바쁘다. 자랑스러워 할 틈도 없이 바쁘다. 그것은 서울에서의 나였다.
→ Bận rộn—bận đến mức không có thời gian để tự hào về nó. Đó chính là tôi của những ngày ở Seoul.
그만큼 여기는 생활한다는 것에 서투를 수 있다고나 할까?
→ Có lẽ phải nói rằng, ở nơi này, con người ta còn vụng về trong chính việc sống.
바쁘다는 것도 서두르게 바빴다.
→ Ngay cả sự bận rộn cũng mang dáng vẻ vội vã, lúng túng.
그리고 그때 나는, 사람이 자기가 하는 일에 서투르다는 것은, 그것이 무슨 일이든지 설령 도둑질이라고 할지라도 서투르다는 것은 보기에 딱하고 보는 사람을 신경질 나게 한다고 생각하였다.
→ Và khi ấy, tôi nghĩ rằng việc một người vụng về trong chính công việc của mình—dù đó là việc gì, thậm chí là trộm cắp—cũng khiến người khác nhìn vào thấy khó chịu và bực bội.
미끈하게 일을 처리해 버린다는 건 우선 우리를 안심시켜 준다.
→ Ngược lại, việc xử lý công việc một cách trôi chảy, gọn gàng trước hết mang lại cho chúng ta cảm giác yên tâm.
“참, 엊저녁, 하선생이란 여자는 네 색시감이냐?” 내가 물었다.
→ “À, tối qua, người phụ nữ tên là cô giáo Ha đó, có phải là đối tượng kết hôn của cậu không?” tôi hỏi.
“색시감?”
→ “Đối tượng kết hôn à?”
그는 높은 소리로 웃었다.
→ Cậu ta bật cười lớn.
“내 색시감이 그 정도로밖에 안 보이냐?” 그가 말했다.
→ “Cậu nghĩ đối tượng kết hôn của tôi chỉ đến mức đó thôi sao?” cậu ta nói.
“그 정도가 뭐 어때서?”
→ “Đến mức đó thì có gì không tốt?”
“야, 이 약아빠진 놈아, 넌 백 좋고 돈 많은 과부를 물어 놓고 기껏 내가 어디서 굴러 온 줄도 모르는 말라빠진 음악 선생이나 차지하고 있으면 맘이 시원하겠다는 거냐?”
→ “Này, đồ ranh mãnh, cậu thì nắm được một góa phụ vừa xinh đẹp lại giàu có, còn lại mong tôi phải hài lòng với một cô giáo âm nhạc gầy gò, không biết từ đâu trôi dạt tới hay sao?”
말하고 나서 그는 유쾌해 죽겠다는 듯이 웃어대었다.
→ Nói xong, cậu ta cười phá lên như thể vô cùng khoái chí.
“너만큼만 사는 정도라면 여자가 거지라도 괜찮지 않아?” 내가 말했다.
→ “Nếu sống được như cậu thì dù người phụ nữ đó là kẻ ăn xin cũng chẳng sao, đúng không?” tôi nói.
“그래도 그게 아니다. 내 편에 나를 끌어 줄 사람이 없으면 처가 편에서라도 누가 있어야 하는 거야.”
→ “Nhưng không phải vậy. Nếu bên phía tôi không có ai nâng đỡ, thì ít nhất bên phía nhà vợ cũng phải có người chống lưng.”
그가 대답했다. 그의 말투로는 우리는 공모자였다.
→ Cậu ta đáp. Với giọng điệu ấy, dường như chúng tôi là những kẻ đồng mưu.
“야, 세상 우습더라. 내가 고시에 패스하자마자 중매쟁이들이 막 들어오는데… 그런데 그게 모두 형편없는 것들이거든. 도대체 여자들이 성 하나를 밑천으로 해서 시집 가보겠다는 그 배짱들이 괘씸하단 말야.”
→ “Này, đời đúng là buồn cười. Ngay khi tôi đỗ kỳ thi cao cấp, mai mối kéo đến ồ ạt… Nhưng toàn là những mối tồi tệ. Thật không thể chấp nhận nổi cái gan của mấy cô gái muốn lấy chồng chỉ dựa vào mỗi thân xác của mình.”
“그럼 그 여선생도 그런 여자 중의 하나인가?”
→ “Vậy cô giáo đó cũng là một trong những người như thế sao?”
“아주 대표적인 여자지. 어떻게나 쫓아다니는지 귀찮아 죽겠다.”
→ “Phải nói là điển hình luôn. Cô ta bám theo tôi đến mức phiền chết đi được.”
“퍽 똑똑한 여자일 것 같던데.”
→ “Trông cô ấy có vẻ rất thông minh mà.”
“똑똑하기야 하지. 그렇지만 뒷조사를 해보았더니 집안이 너무 허술해. 그 여자가 여기서 죽는다고 해도 고향에서 그 여자를 데리러 올 사람 하나 변변한 게 없거든.”
→ “Thông minh thì có thông minh. Nhưng tôi điều tra rồi thì thấy gia cảnh quá sơ sài. Dù cô ta có chết ở đây, cũng chẳng có ai từ quê lên đón về cho tử tế.”
나는 그 여자를 어서 만나 보고 싶었다.
→ Tôi bỗng muốn gặp người phụ nữ ấy càng sớm càng tốt.
나는 그 여자가 지금 어디서 죽어 가고 있는 것처럼 생각되었다.
→ Trong tôi dấy lên cảm giác như thể người phụ nữ ấy đang dần chết đi ở một nơi nào đó.
어서 가서 만나 보고 싶었다.
→ Tôi chỉ muốn nhanh chóng đến gặp cô ấy.
“속도 모르는 박군은 그 여자를 좋아한대.” 그가 말하면서 빙긋 웃었다.
→ “Cậu Park ngây ngô chẳng biết gì lại thích cô ta đấy.” cậu ta nói, khẽ mỉm cười.
“박군이?”
→ “Park á?”
나는 놀라는 체했다.
→ Tôi làm ra vẻ ngạc nhiên.
“그 여자에게 편지를 보내어 호소를 하는데 그 여자가 모두 내게 보여주거든. 박군은 내게 연애 편지를 쓰는 셈이지.”
→ “Cậu ta gửi thư bày tỏ với cô ấy, nhưng cô ấy đều đưa hết cho tôi xem. Thành ra Park chẳng khác nào đang viết thư tình cho chính tôi vậy.”
나는 그 여자를 만나 보고 싶은 생각이 싹 가셨다.
→ Ý muốn gặp người phụ nữ ấy trong tôi bỗng chốc tan biến.
그러나 잠시 후엔 그 여자를 어서 만나 보고 싶다는 생각이 되살아났다.
→ Nhưng chỉ một lát sau, mong muốn được gặp cô ấy lại trỗi dậy.
“지난봄엔 그 여잘 데리고 절엔 한번 갔었지. 어떻게 해보려고 했는데 요 영리한 게 결혼하기 전까지는 절대로 안 된다는 거야.”
→ “Mùa xuân năm ngoái, tôi đã đưa cô ta lên chùa một lần. Định làm gì đó, nhưng cô nàng khôn ngoan ấy nhất quyết nói rằng trước khi kết hôn thì tuyệt đối không được.”
“그래서?”
→ “Rồi sao?”
“무안만 당하고 말았지.”
→ “Cuối cùng chỉ chuốc lấy bẽ mặt mà thôi.”
나는 그 여자에게 감사했다.
→ Tôi bỗng cảm thấy biết ơn người phụ nữ ấy.
시간이 됐을 때 나는 그 여자와 만나기로 한, 읍내에서 좀 떨어진 바다로 뻗어 나가고 있다는 방죽으로 갔다.
→ Đến giờ hẹn, tôi đi đến con đê kéo dài ra phía biển, cách thị trấn một quãng, nơi tôi đã hẹn gặp người phụ nữ ấy.
노란 파라솔 하나가 멀리 보였다. 그것이 그 여자였다.
→ Từ xa, tôi nhìn thấy một chiếc dù màu vàng. Đó chính là cô ấy.
우리는 구름이 낀 하늘 밑을 나란히 걸어갔다.
→ Chúng tôi sánh bước bên nhau dưới bầu trời đầy mây.
“저 오늘 박선생님께 선생님에 관해서 여러 가지 물어 봤어요.”
→ “Hôm nay tôi đã hỏi thầy Park khá nhiều điều về anh.”
“그래요?”
→ “Vậy sao?”
“무얼 제일 중요하게 물어 보았을 것 같아요?”
→ “Anh đoán xem tôi đã hỏi điều gì là quan trọng nhất?”
나는 전연 짐작할 수가 없었다.
→ Tôi hoàn toàn không thể đoán được.
그 여자는 잠시 동안 키득키득 웃었다. 그리고 말했다.
→ Cô ấy khúc khích cười một lúc rồi nói.
“선생님의 혈액형을 물어 봤어요.”
→ “Tôi đã hỏi về nhóm máu của anh.”
“내 혈액형을요?”
→ “Nhóm máu của tôi sao?”
“전 혈액형에 대해서 이상한 믿음을 가지고 있어요. 사람들이 꼭 자기의 혈액형이 나타내 주는—그, sách sinh học có viết đấy—đúng như tính cách mà nó thể hiện thì tốt biết bao.”
“그럼 세상엔 손가락으로 꼽을 정도의 성격밖에 없을 게 아니에요?”
→ “Vậy thì trên đời chỉ còn vài kiểu tính cách đếm trên đầu ngón tay thôi sao?”
“그게 어디 믿음입니까? 희망이지.”
→ “Đó đâu phải là niềm tin, mà là hy vọng thôi.”
“전 제가 바라는 것은 그대로 믿어 버리는 성격이에요.”
→ “Tôi là kiểu người cứ tin luôn vào điều mình mong muốn.”
“그건 무슨 혈액형입니까?”
→ “Thế đó là nhóm máu gì vậy?”
“바보라는 이름의 혈액형이에요.”
→ “Là nhóm máu mang tên ‘kẻ ngốc’.”
우리는 후덥지근한 공기 속에서 괴롭게 웃었다.
→ Chúng tôi cười một cách gượng gạo trong bầu không khí oi bức.
나는 그 여자의 프로필을 훔쳐보았다.
→ Tôi lén nhìn nghiêng khuôn mặt cô ấy.
그 여자는 이제 웃음을 그치고 입을 꼭 다물고 그 커다란 눈으로 앞을 똑바로 응시하고 있었고 코끝에 땀이 맺혀 있었다.
→ Cô ấy đã ngừng cười, mím chặt môi, nhìn thẳng phía trước bằng đôi mắt to, và nơi đầu mũi lấm tấm mồ hôi.
그 여자는 어린아이처럼 나를 따라오고 있었다.
→ Cô ấy đi theo tôi như một đứa trẻ.
나는 나의 한 손으로 그 여자의 한 손을 잡았다.
→ Tôi dùng một tay nắm lấy tay cô ấy.
그 여자는 놀라는 듯했다.
→ Cô ấy dường như giật mình.
나는 얼른 손을 놓았다.
→ Tôi vội buông tay ra.
잠시 후에 나는 다시 손을 잡았다.
→ Một lúc sau, tôi lại nắm tay cô ấy lần nữa.
그 여자는 이번엔 놀라지 않았다.
→ Lần này, cô ấy không còn giật mình nữa.
우리가 잡고 있는 손바닥과 손바닥의 틈으로 희미한 바람이 새어나가고 있었다.
→ Giữa hai lòng bàn tay đang nắm lấy nhau, một làn gió nhẹ len lỏi qua.
“무작정 서울에만 가면 어떻게 할 작정이오?” 내가 물었다.
→ “Nếu cứ đến Seoul một cách vô định như vậy, cô định sẽ làm gì?” tôi hỏi.
“이렇게 좋은 오빠가 있는데 어떻게 해주겠지요!” 여자는 나를 쳐다보며 방긋 웃었다.
→ “Có một người anh tốt như anh ở đây, chắc chắn sẽ giúp em thôi mà!” cô nhìn tôi và mỉm cười tươi.
“신랑감이야 수두룩하긴 하지만…… 서울보다는 고향에 가 있는 게 낫지 않을까요?”
→ “Tuy cũng có không ít đối tượng kết hôn, nhưng có lẽ ở quê vẫn tốt hơn là lên Seoul, phải không?”
“고향보다는 여기가 나아요.”
→ “So với quê hương, em thấy ở đây vẫn tốt hơn.”
“그럼 여기 그대로 있는 게·····.”
→ “Vậy thì cứ ở lại đây như thế này có lẽ…”
“아이, 선생님. 절 데리고 가시잖을 작정이시군요.” 여자는 울상을 지으며 내 손을 뿌리쳤다.
→ “Ôi, thầy à… thầy định sẽ đưa em đi cùng chứ gì.” cô gái nói với vẻ mặt sắp khóc rồi hất tay tôi ra.
사실 나는 내 자신을 알 수 없었다.
→ Thực ra, tôi cũng không hiểu nổi chính bản thân mình.
사실 나는 감상이나 연민으로써 세상을 향하고서는 나이도 지난 것이다.
→ Thực ra, tôi đã qua cái tuổi để nhìn đời bằng sự cảm thương hay lòng trắc ẩn.
사실 나는, 몇 시간 전에 조가 얘기했듯이 <백이 좋고 돈 많은 과부>을 만난 짓을 반드시 바랐던 것은 아니지만 결과적으로는 잘 되었다고 생각하고 있는 사람인 것이다.
→ Thực ra, như Jo đã nói vài giờ trước, tôi không hẳn đã mong muốn gặp một “góa phụ vừa có thế lực lại giàu có”, nhưng xét cho cùng, tôi vẫn là kẻ cho rằng kết cục ấy là một điều tốt.
아침의 백사장을 거니는 산보에서 느끼는 시간의 지루함과
→ Sự tẻ nhạt của thời gian mà tôi cảm nhận được khi dạo bước trên bãi cát trắng vào buổi sáng,
낮잠에서 깨어나서 식은땀이 줄줄 흐르는 이마를 손바닥으로 닦으며 느끼는 허전함과
→ sự trống rỗng khi tỉnh dậy sau giấc ngủ trưa, dùng lòng bàn tay lau đi những giọt mồ hôi lạnh chảy dài trên trán,
깊은 밤에 악몽으로부터 깨어나서 쿵쿵 소리를 내며 급하게 뛰고 있는 심장을 한 손으로 누르며 밤바다의 그 애처로운 울음소리에 귀를 기울이고 있을 때의 안타까움,
→ và nỗi xót xa khi tỉnh dậy giữa đêm khuya từ cơn ác mộng, dùng một tay ghì lấy trái tim đang đập dồn dập, lắng nghe tiếng kêu thê lương của biển đêm,
그런 것들이 굴껍데기처럼 다닥다닥 붙어서 떨어질 줄 모르는 나의 생활을 나는 <쓸쓸하다>라는, 지금 생각하면 허깨비 같은 단어 하나로 대신시켰던 것이다.
→ tất cả những điều ấy bám chặt vào cuộc sống của tôi như những mảnh vỏ sò không thể gỡ ra, thế nhưng tôi lại thay thế tất cả chỉ bằng một từ “cô đơn” — một từ mà giờ nghĩ lại, chỉ như ảo ảnh.
바다는 상상도 되지 않는 먼지 낀 도시에서, 바쁜 일과 중에, 무표정한 우편배달부가 던져 주고 간 나의 편지 속에서 <쓸쓸하다>라는 말을 보았을 때 그 편지를 받은 사람이 과연 무엇을 느끼거나 상상할 수 있었을까?
→ Ở một thành phố phủ đầy bụi bặm, nơi không thể hình dung nổi về biển, giữa nhịp sống bận rộn, khi ai đó nhận được bức thư tôi gửi với từ “cô đơn” do người đưa thư vô cảm ném lại, liệu họ có thể cảm nhận hay tưởng tượng được điều gì không?
그 바닷가에서 그 편지를 내가 띄우고 도시에서 내가 그 편지를 받았다고 가정할 경우에도 내가 그 바닷가에서 그 단어에 걸맞는…
→ Ngay cả khi giả sử tôi là người gửi bức thư ấy từ bờ biển và cũng chính là người nhận nó ở thành phố, thì liệu tôi có thể thực sự hiểu được ý nghĩa của từ ấy, như nó vốn có ở nơi bờ biển hay không…
나는 내게서 달아나 버렸던 여자에 대한 것과는 다른 사랑을 지금의 내 아내에 대하여 갖고 있었다.
→ Tôi dành cho người vợ hiện tại của mình một tình yêu khác với tình yêu mà tôi từng dành cho người phụ nữ đã rời bỏ tôi.
그러면서도 나는 구름이 끼어 있는 하늘 밑의 바다로 뻗은 방죽 위를 걸어가면서, 다시 내 곁에 선 여자의 손을 잡았다.
→ Thế nhưng, khi bước đi trên con đê vươn ra biển dưới bầu trời đầy mây, tôi lại một lần nữa nắm lấy tay người phụ nữ đang đứng bên cạnh mình.
나는 지금 우리가 찾아가고 있는 집에 대하여 여자에게 설명해 주었다.
→ Tôi bắt đầu giải thích cho cô ấy về ngôi nhà mà chúng tôi đang hướng đến.
어느 해, 나는 그 집에서 방 한 칸을 얻어들고 더러워진 나의 폐를 씻어 내고 있었다.
→ Có một năm, tôi đã thuê một căn phòng trong ngôi nhà ấy và ở đó để “gột rửa” tâm hồn đã hoen ố của mình.
어머니도 세상을 떠나간 뒤였다.
→ Đó cũng là sau khi mẹ tôi qua đời.
이 바닷가에서 보낸 일 년.
→ Một năm tôi sống bên bờ biển này.
그때 내가 쓴 모든 편지들 속에서 사람들은 <쓸쓸하다>라는 단어를 쉽게 발견할 수 있었다.
→ Trong tất cả những bức thư tôi viết khi ấy, người ta dễ dàng bắt gặp từ “cô đơn”.
그 단어는 다소 천박하고 이제는 사람의 가슴에 호소해 오는 능력도 거의 상실해 버린 시어 같은 것이지만 그러나 그 무렵의 내게는 그 말밖에 써야 할 말이 없는 것처럼 생각되었었다.
→ Từ ngữ ấy tuy có phần tầm thường, thậm chí đã gần như mất đi khả năng lay động lòng người như một thứ ngôn từ sáo rỗng, nhưng vào thời điểm đó, với tôi, dường như không còn từ nào khác để diễn đạt ngoài chính từ ấy.
어 보던 모든 것에 만족할 만큼 도시의 내가 바닷가의 나의 심경에 공명할 수 있었을 것인가?
→ Liệu con người tôi nơi đô thị có thể đồng cảm với tâm trạng của tôi nơi bờ biển đến mức có thể thỏa mãn với tất cả những gì đã trải qua hay không?
아니 그것이 필요하기나 했었을까?
→ Hay liệu điều đó có thực sự cần thiết hay không?
그러나 정확하게 말하자면, 그 무렵 편지를 쓰기 위해서 책상 앞으로 다가가고 있던 나도, 지금에 와서 내가 하고 있는 바와 같은 가정과 질문을 어렴풋이나마 하고 있었고 그 대답을 <아니다>로 생각하고 있었던 듯하다.
→ Nhưng nói một cách chính xác, vào thời điểm ấy, khi tôi tiến đến bàn để viết thư, tôi cũng đã mơ hồ tự đặt ra những giả định và câu hỏi giống như hiện tại, và dường như đã ngầm cho rằng câu trả lời là “không”.
그러면서도 그는 그 속에 <쓸쓸하다>라는 단어가 씌어진 편지를 썼고 때로는 바다가 암청색으로 서툴게 그려진 엽서를 사방으로 띄웠다.
→ Thế nhưng, dù vậy, tôi vẫn viết những bức thư có chứa từ “cô đơn”, và đôi khi còn gửi đi khắp nơi những tấm bưu thiếp với hình ảnh biển được vẽ một cách vụng về bằng sắc xanh thẫm.
“세상에서 제일 먼저 편지를 쓴 사람은 어떤 사람이었을까요?” 내가 말했다.
→ “Người đầu tiên trên thế giới viết thư là người như thế nào nhỉ?” tôi nói.
“아이, 편지, 정말 편지를 받는 것처럼 기쁜 일은 없어요. 정말 누구일까요? 아마 선생님처럼 외로운 사람이었겠죠?”
→ “Ôi, thư từ… thật sự không có niềm vui nào bằng việc nhận được một bức thư. Không biết là ai nhỉ? Có lẽ là một người cô đơn như thầy chăng?”
여자의 손이 내 손 안에서 꼼지락거렸다.
→ Bàn tay cô ấy khẽ cựa quậy trong tay tôi.
나는 그 손이 그렇게 말하고 있는 듯한 느낌이 들었다.
→ Tôi có cảm giác như chính bàn tay ấy đang nói lên điều đó.
“그리고 인숙이처럼.” 내가 말했다.
→ “Và giống như Insuk vậy.” tôi nói.
“네.”
→ “Vâng.”
우리는 서로 고개를 돌려 마주보며 웃음 지었다.
→ Chúng tôi quay đầu nhìn nhau và mỉm cười.
우리는 우리가 찾아가는 집에 도착했다.
→ Chúng tôi đến ngôi nhà mà mình tìm đến.
세월이 그 집과 그 집 사람들만은 피해서 지나갔던 모양이다.
→ Dường như thời gian đã lặng lẽ tránh né ngôi nhà ấy và những con người sống trong đó.
주인들은 나를 옛날의 나로 대해 주었고 그러자 나는 옛날의 내가 되었다.
→ Chủ nhà đối xử với tôi như con người của ngày xưa, và rồi tôi cũng trở lại thành con người của ngày ấy.
나는 가지고 온 선물을 내놓았고 그 집 주인 부부는 내가 들어 있던 방을 우리에게 제공해주었다.
→ Tôi bày ra những món quà đã mang theo, và vợ chồng chủ nhà đã dành cho chúng tôi căn phòng mà trước đây tôi từng ở.
나는 그 방에서 여자의 조바심을, 마치 칼을 들고 달려드는 사람으로부터, 누군가 자기의 손에서 칼을 빼앗아 주지 않으면 상대편을 찌르고 말 듯한 절망을 느끼는 사람으로부터 칼을 빼앗듯이, 그 여자의 조바심을 빼앗아 주었다.
→ Trong căn phòng ấy, tôi đã tước đi sự nôn nóng của cô gái, giống như giật lấy con dao từ tay một kẻ đang lao tới, như thể nếu không bị ngăn lại thì sẽ đâm người khác trong cơn tuyệt vọng.
그 여자는 처녀는 아니었다.
→ Cô ấy không còn là một cô gái trinh trắng.
우리는 다시 방문을 열고 물결이 다소 거센 바다를 내다보며 오랫동안 말없이 누워 있었다.
→ Chúng tôi lại mở cửa, nằm im lặng thật lâu, nhìn ra biển với những con sóng đang dâng lên mạnh mẽ.
“서울에 가고 싶어요. 단지 그거뿐이에요.”한참 후에 여자가 말했다.
→ “Em muốn đến Seoul. Chỉ có vậy thôi.” Một lúc lâu sau, cô ấy mới nói.
나는 손가락으로 여자의 볼 위에 의미 없는 도화를 그리고 있었다.
→ Tôi dùng ngón tay vẽ những nét vô nghĩa lên má cô ấy.
“세상엔 착한 사람이 있을까?”
→ “Trên đời này có người tốt thật sự không nhỉ?”
나는 방으로 불어오는 해풍 때문에 불이 꺼져 버린 담배에 다시 불을 붙이며 말했다.
→ Tôi vừa châm lại điếu thuốc bị tắt do gió biển lùa vào phòng, vừa nói.
“절 나무라시는 거죠? 착하게 보아주려는 마음이 없으면 아무도 착하지 않을 거예요.”
→ “Anh đang trách em phải không? Nếu không có tấm lòng muốn nhìn người khác theo hướng tốt đẹp, thì sẽ chẳng ai là người tốt cả.”
나는 우리가 불교도라고 생각했다.
→ Tôi chợt nghĩ rằng chúng tôi giống như những tín đồ Phật giáo.
“선생님은 착한 분이세요?”
→ “Thầy có phải là người tốt không?”
“인숙이가 믿어주는 한.”
→ “Chỉ cần Insuk tin là vậy.”
나는 다시 한번 우리가 불교도라고 생각했다.
→ Tôi lại một lần nữa nghĩ rằng chúng tôi giống như những tín đồ Phật giáo.
여자는 누운 채 내게 조금 더 다가왔다.
→ Cô ấy nằm đó và khẽ tiến lại gần tôi hơn.
“바닷가로 나가요, 네? 노래 불러드릴게요.” 여자가 말했다. 그러나 우리는 일어나지 않았다.
→ “Ra bãi biển nhé? Em sẽ hát cho anh nghe.” cô gái nói. Nhưng chúng tôi vẫn không đứng dậy.
“바닷가로 나가요, 네? 방이 너무 더워요.”
→ “Ra bãi biển đi nhé? Trong phòng nóng quá.”
우리는 일어나서 밖으로 나왔다.
→ Chúng tôi đứng dậy và bước ra ngoài.
우리는 백사장을 걸어서 인가가 보이지 않는 바닷가의 바위 위에 앉았다.
→ Chúng tôi đi dọc bãi cát trắng rồi ngồi xuống trên một tảng đá nơi bờ biển không còn thấy bóng người.
파도가 거품을 숨겨 가지고 와서 우리가 앉아 있는 바위 밑에 그것을 뿜어 놓았다.
→ Sóng biển mang theo bọt nước, rồi vỡ tung dưới tảng đá nơi chúng tôi đang ngồi.
“선생님.”
→ “Thầy…”
여자가 나를 불렀다.
→ Cô gái gọi tôi.
나는 여자 쪽으로 고개를 돌렸다.
→ Tôi quay đầu về phía cô ấy.
“자기 자신이 싫어지는 것을 경험하신 적이 있으세요?” 여자가 꾸민 명랑한 목소리로 물었다.
→ “Anh đã bao giờ cảm thấy ghét chính bản thân mình chưa?” cô gái hỏi với giọng tươi vui như được cố tình tạo ra.
나는 기억을 헤쳐 보았다.
→ Tôi lục lại ký ức của mình.
나는 고개를 끄덕이며 말했다.
→ Tôi gật đầu rồi nói.
“언젠가 나와 함께 자던 친구가 다음날 아침에 내가 코를 골면서 자더라는 것을 알려주었을 때였지. 그땐 정말이지 살 맛이 나지 않았어.”
→ “Có lần, một người bạn ngủ cùng tôi nói rằng sáng hôm sau tôi đã ngáy khi ngủ. Lúc đó thật sự tôi cảm thấy chẳng còn thiết sống nữa.”
나는 여자를 웃기기 위해서 그렇게 말했다.
→ Tôi nói vậy để khiến cô ấy bật cười.
그러나 여자는 웃지 않고 조용히 고개만 끄덕거렸다.
→ Nhưng cô ấy không cười, chỉ lặng lẽ gật đầu.
한참 후에 여자가 말했다.
→ Một lúc lâu sau, cô ấy nói.
“선생님, 저 서울에 가고 싶지 않아요.”
→ “Thầy à, em không muốn đến Seoul nữa.”
나는 여자의 손을 달라고 하여 잡았다. 나는 그 손을 힘을 주어 쥐면서 말했다.
→ Tôi xin nắm tay cô ấy. Tôi siết chặt bàn tay ấy rồi nói.
“우리 서로 거짓말은 하지 말기로 해.”
→ “Chúng ta đừng nói dối nhau nữa nhé.”
“거짓말이 아니에요.” 여자는 방긋 웃으면서 말했다.
→ “Em không nói dối đâu.” cô gái mỉm cười nói.
“<어떤 개인 날> 불러드릴게요.”
→ “Em sẽ hát cho anh nghe bài ‘Một ngày trời quang’.”
“그렇지만 오늘은 흐린걸.”
→ “Nhưng hôm nay trời lại âm u mà.”
나는 <어떤 개인 날>의 그 이별을 생각하며 말했다.
→ Tôi nói, trong khi nghĩ đến cuộc chia ly trong bài “Một ngày trời quang”.
흐린 날엔 사람들은 헤어지지 말기로 하자.
→ Vào những ngày u ám, con người ta đừng nên chia tay nhau.
손을 내밀고 그 손을 잡는 사람이 있으면 그 사람을 가까이, 가까이, 좀 더 가까이 끌어당겨 주기로 하자.
→ Nếu có ai đưa tay ra và nắm lấy tay mình, thì hãy kéo người đó lại gần hơn, gần hơn nữa, thật gần bên mình.
나는 그 여자에게 <사랑한다>고 말하고 싶었다.
→ Tôi muốn nói với cô ấy rằng “tôi yêu em”.
그러나 <사랑한다>라는 그 국어의 어색함이 그렇게 말하고 싶은 나의 충동을 쫓아 버렸다.
→ Nhưng sự gượng gạo của chính từ “yêu” ấy đã xua tan đi thôi thúc muốn nói ra điều đó trong tôi.
우리가 바닷가에서 읍내로 돌아온 것은 저녁의 어둠이 밀려든 뒤였다.
→ Chúng tôi trở lại thị trấn từ bờ biển khi màn đêm buổi tối đã tràn xuống.
읍내에 들어오기 조금 전에 우리는 방죽 위에서 키스를 했다.
→ Trước khi vào thị trấn, chúng tôi đã hôn nhau trên con đê.
“전 선생님께서 여기 계시는 일주일 동안만 멋있는 연애를 할 계획이니까 그렇게 알고 계세요.”
→ “Em chỉ định có một mối tình thật đẹp với thầy trong đúng một tuần thầy ở đây thôi, nên thầy cứ hiểu như vậy nhé.”
헤어지면서 여자가 말했다.
→ Cô ấy nói như vậy khi chúng tôi chia tay.
“그렇지만 내 힘이 더 세니까 별수 없이 내게 끌려서 서울까지 가게 될걸.” 내가 말했다.
→ “Nhưng vì tôi mạnh hơn, nên cuối cùng cô cũng sẽ bị tôi kéo theo mà lên tận Seoul thôi.” tôi nói.
집으로 돌아와서 나는 후배인 박이 낮에 다녀간 것을 알았다.
→ Khi trở về nhà, tôi biết rằng Park – người đàn em – đã ghé qua lúc ban ngày.
그는 내가 <무진에 계시는 동안 심심하시지 않을까 하여 읽으시라>고 책 세 권을 두고 갔다.
→ Cậu ta để lại ba cuốn sách, nói rằng: “Trong thời gian anh ở Mujin, sợ anh buồn chán nên để anh đọc.”
그가 저녁에 다시 오겠다고 하더라는 얘기를 이모가 내게 했다.
→ Dì tôi nói rằng cậu ta bảo sẽ quay lại vào buổi tối.
나는 피로를 핑계로 아무도 만나기 싫다는 뜻을 이모에게 알려 두었다.
→ Tôi lấy cớ mệt mỏi và nói với dì rằng mình không muốn gặp ai cả.
이모는 내가 바닷가에서 아직 돌아오지 않았다고 대답하겠다고 말했다.
→ Dì nói rằng sẽ trả lời rằng tôi vẫn chưa từ bãi biển trở về.
나는 아무것도 생각하고 싶지 않았다. 아무것도.
→ Tôi không muốn nghĩ gì cả. Không một điều gì.
나는 이모에게 소주를 사오게 하여 취해서 잠이 들 때까지 마셨다.
→ Tôi nhờ dì mua rượu soju, rồi uống cho đến khi say và thiếp đi.
새벽녘에 잠깐 잠이 깨었다.
→ Gần sáng, tôi chợt tỉnh giấc trong chốc lát.
나는 이유를 집어낼 수 없이 가슴이 두근거렸는데 그것은 불안이었다.
→ Tim tôi đập dồn dập mà không rõ nguyên do—đó là một nỗi bất an.
“인숙이…” 하고 나는 중얼거려 보았다.
→ “Insuk…” tôi lẩm bẩm.
그리고 곧 다시 잠이 들어 버렸다.
→ Rồi ngay sau đó lại chìm vào giấc ngủ.
나는 이모가 나를 흔들어 깨워서 눈을 떴다.
→ Tôi mở mắt khi bị dì lay tỉnh.
늦은 아침이었다.
→ Đã là một buổi sáng muộn.
이모는 전보 한 통을 내게 건네주었다.
→ Dì đưa cho tôi một bức điện tín.
엎드려 누운 채 나는 전보를 펴보았다.
→ Vẫn nằm sấp, tôi mở bức điện ra xem.
“27일 회의 참석 필요, 급상경바람 영”
→ “Ngày 27 cần tham dự cuộc họp, hãy gấp rút lên Seoul. – Young”
“27일”은 모레였고 “영”은 아내였다.
→ “Ngày 27” là ngày kia, còn “Young” chính là vợ tôi.
나는 아프도록 쑤시는 이마를 베개에 대었다.
→ Tôi áp trán đau nhức xuống gối.
나는 숨을 거칠게 쉬고 있었다.
→ Tôi đang thở gấp.
나는 내 호흡을 진정시키려고 했다.
→ Tôi cố gắng điều hòa lại nhịp thở của mình.
아내의 전보가 무진에 와서 내가 한 모든 행동과 사고를 내게 점점 명료하게 드러내 보여주었다.
→ Bức điện của vợ dần làm rõ trong tôi tất cả những hành động và suy nghĩ mà tôi đã có kể từ khi đến Mujin.
모든 것이 선입관 때문이었다.
→ Tất cả đều là do những định kiến ban đầu.
결국 아내의 전보는 그렇게 얘기하고 있었다.
→ Rốt cuộc, bức điện của vợ dường như đang nói với tôi điều đó.
나는 아니라고 고개를 저었다.
→ Tôi lắc đầu, phủ nhận điều ấy.
모든 것이, 흔히 여행자에게 주어지는 그 자유 때문이라고 아내의 전보는 말하고 있었다.
→ Bức điện của vợ như đang nói rằng tất cả chỉ là do thứ tự do thường được ban cho những kẻ lữ hành.
나는 아니라고 고개를 저었다.
→ Tôi lắc đầu, phủ nhận điều đó.
모든 것이 세월에 의하여 내 마음속에서 잊혀질 수 있다고 전보는 말하고 있었다.
→ Bức điện ấy dường như còn nói rằng, rồi theo thời gian, tất cả sẽ bị lãng quên trong lòng tôi.
그러나 상처가 남는다고, 나는 고개를 저었다.
→ Nhưng tôi lắc đầu, nghĩ rằng vết thương rồi sẽ còn lại.
오랫동안 우리는 다투었다.
→ Trong một thời gian dài, tôi và bức điện ấy như giằng co với nhau.
그래서 전보와 나는 타협안을 만들었다.
→ Và rồi, tôi và bức điện đã đi đến một sự thỏa hiệp.
한번만, 마지막으로 한번만 이 무진을, 안개를, 외롭게 미쳐 가는 것을, 유행가를, 술집 여자와 자살을, 배반을, 무책임을 긍정하기로 하자.
→ Chỉ một lần thôi, lần cuối cùng hãy chấp nhận Mujin này, màn sương mù này, sự cô độc đến hóa điên, những bản nhạc thịnh hành, người phụ nữ quán rượu và cái chết, sự phản bội, và cả sự vô trách nhiệm.
마지막으로 한번만이다.
→ Chỉ một lần cuối cùng mà thôi.
꼭 한 번만, 그리고 나는 내게 주어진 한정된 책임 속에서만 살기로 약속한다.
→ Chỉ đúng một lần, và sau đó tôi hứa sẽ sống trong phạm vi trách nhiệm hữu hạn được giao cho mình.
전보여, 새끼손가락을 내밀어라.
→ Hỡi bức điện, hãy đưa ngón tay út ra đây.
나는 거기에 내 새끼손가락을 걸어서 약속한다.
→ Tôi móc ngón tay út của mình vào đó để lập lời hứa.
우리는 약속했다.
→ Chúng tôi đã lập lời hứa.
그러나 나는 돌아서서 전보의 눈을 피하여 편지를 썼다.
→ Nhưng tôi quay đi, tránh ánh nhìn của bức điện và viết một bức thư.
<갑자기 떠나게 되었습니다. 찾아가서 말로써 오늘 제가 먼저 가는 것을 알리고 싶었습니다만 대화란 항상 의외의 방향으로 나가 버리기를 좋아하기 때문에 이렇게 글로써 알리는 것입니다. 간단히 쓰겠습니다. 사랑하고 있습니다. 왜냐하면 당신은 제 자신이기 때문에, 적어도 제가 어렴풋이나마 사랑하고 있다는 옛날의 저의 모습이기 때문입니다. 저는 옛날의 저를 오늘의 저로 끌어 놓기 위하여 있는 힘을 다할 작정입니다. 저를 믿어 주십시오. 그리고 서울에서 준비가 되는 대로 소식 드리면 당신은 무진을 떠나서 제게 와 주십시오. 우리는 아마 행복할 수 있을 것입니다.>
→ “Tôi đột ngột phải rời đi. Tôi đã muốn đến gặp và nói trực tiếp rằng hôm nay tôi sẽ đi trước, nhưng vì cuộc trò chuyện luôn có xu hướng rẽ sang những hướng không ngờ, nên tôi đành báo bằng thư như thế này. Tôi sẽ viết ngắn gọn. Tôi yêu em. Bởi vì em chính là bản thân tôi, ít nhất là hình ảnh của con người tôi ngày trước mà tôi còn mơ hồ yêu thương. Tôi dự định sẽ dốc hết sức để kéo con người của quá khứ ấy về với con người của hiện tại. Xin hãy tin tôi. Và khi tôi chuẩn bị xong ở Seoul, tôi sẽ liên lạc, lúc đó em hãy rời Mujin và đến với tôi. Có lẽ chúng ta sẽ có thể hạnh phúc.”
쓰고 나서 나는 그 편지를 읽어봤다. 또 한 번 읽어봤다. 그리고 찢어 버렸다.
→ Viết xong, tôi đọc lại bức thư. Rồi đọc lại thêm một lần nữa. Và cuối cùng, tôi xé nó đi.
덜컹거리며 달리는 버스 속에서 나는, 어디쯤에선가, 길가에 세워진 하얀 팻말을 보았다.
→ Trên chiếc xe buýt lắc lư chạy đi, ở một nơi nào đó, tôi nhìn thấy một tấm biển trắng dựng bên đường.
거기에는 선명한 검은 글씨로 <당신은 무진읍을 떠나고 있습니다. 안녕히 가십시오>라고 씌어 있었다.
→ Trên đó, bằng những nét chữ đen rõ ràng, có ghi: “Bạn đang rời khỏi thị trấn Mujin. Xin chào tạm biệt.”
나는 심한 부끄러움을 느꼈다.
→ Tôi cảm thấy một nỗi xấu hổ sâu sắc.
📞 Liên hệ giáo vụ tư vấn khóa học:
– Cơ sở chính: 384/19 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường Võ Thị Sáu, Quận 3, TP HCM – 0886 289 749
– Cơ sở 1: 72 Trương Công Định, Phường 14, Quận Tân Bình, TP HCM – 0936 944 730
– Cơ sở 2: 18 nội khu Mỹ Toàn 2, Phường Tân Phong, Quận 7, TP HCM – 0886 287 749
– Cơ sở 3: 856/5 Quang Trung, Phường 8, Quận Gò Vấp, TP HCM – 0886 286 049
– Cơ sở 4: 911/2 Kha Vạn Cân, Phường Linh Tây, TP.Thủ Đức, TP HCM – 0785 210 264
– Cơ sở 5: Số 11 đường Ngô Tri Hoá, TT Củ Chi, Huyện Củ Chi, TP HCM – 0776 000 931
– Cơ sở 6: 168 đường Phú Lợi, Phường Phú Hòa, Thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương – 0778 748 418
– Cơ sở 7: 228 Tố Hữu, Phường Cẩm Lê, Đà Nẵng – 0776 240 790 – 0901 311 165
– Cơ sở 8: 136/117 Đồng Khởi, KP4, P. Tân Hiệp, Biên Hòa, Đồng Nai – 0778 748 418
– Đào tạo Online trực tuyến – 0931 145 823









